Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

Giáo dục văn hóa: đọc và ngẫm



DẠY VÀ HỌC. Đêm nay Nguyên Tiêu Rằm Tháng Giêng là đêm anh Hai tôi mất. Mười chín năm qua, đêm nao như đêm nay tôi cũng ngồi ngắm trăng và ngắm Gốc mai vàng trước ngõ. Bài tản văn ấy cùng bài thơ Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng đã thầm lặng theo tôi suốt chặng đường dài... Anh Hai tôi là người thầy đầu đời của tôi sau cha mẹ mất sớm. Tôi thầm ước viết một điều gì đó về cha anh và nghiệp nhà nông, nhà giáo "sẵn nghề cha để lại đây", "nối nghiệp anh làm thầy học" nên khởi đầu viết tản văn này để chọn tuyển tri thức từ những người thầy... Đầu xuân tôi mời bạn chia sẻ góc nhìn Giáo dục văn hóa: đọc và ngẫm.

Đó là những lời trao đổi của nhà văn Nguyên Ngọc Dạy gì về Phan Chu Trinh? "Nhà cách mạng không chỉ là người mưu đồ một cuộc khởi nghĩa, lật đổ một chính quyền..., mà là người muốn thay đổi số phận một dân tộc, căn cứ trên những suy ngẫm sâu xa...". Bạn hãy cùng đọc và ngẫm về ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy Thực trạng vốn xã hội Việt Nam: Hai vấn đề cần bàn "một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã hội tâm lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt; thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của xã hội dân sự, tức là những tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và nhà nước.". Tiếp theo, chúng ta hãy cùng nghiên cứu bài viết của tác giả Phạm Xanh Dấu ấn văn hóa người Pháp ở Hà Nội. "Trong toàn bộ di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội nghìn năm có một phần di sản văn hoá người Pháp để lại cho chúng ta. Dĩ nhiên, những thứ mà họ để lại nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ. Cái tư tưởng chủ đạo của họ là biến Hà Nội thành điểm đến hấp dẫn để gọi vốn đầu tư của tư bản Pháp và “trói chân” họ lâu dài trên mảnh đất này. Dẫu sao, trong quá trình tước đoạt, người Pháp để lại những dấu ấn văn hoá quý giá và chúng ta cần phải trân trọng lưu giữ nó, bởi đó, suy cho cùng, là một bộ phận hợp thành trong di sản văn hoá của nhân loại". Tôi đã viết bài " Người thầy với việc Dạy và Học" trao đổi về mối quan hệ người thầy, người học, môi trường và những giải pháp chấn hưng giáo dục Việt Nam. Bài viết "Đêm trắng và Bình minh" là câu chuyện về Ghent thành phố khoa học công nghệ, sắn quà tặng thế giới người nghèo, đêm trắng và bình minh phương Bắc. Biết bao điều trăn trở, suy tư về giáo dục văn hóa: đọc và ngẫm ? Mười chín năm trước anh em chúng tôi trò chuyện về dạy và học . Đến nay câu chuyện giáo dục văn hóa vẫn tình tự kể... (Đền Hùng ở Tao Đàn, ảnh Hoàng Kim).

Đó cũng là câu chuyện "Hai bức tâm thư gửi gắm sự nghiệp cho Hồ Chí Minh" của nhà văn hóa Hữu Ngọc, cây đại thụ trong làng văn hóa Việt đương đại. Người mà Bruno- nhà ngoại giao Bỉ đã viết: "Hay đến sững sốt. Hữu Ngọc gây ấn tượng mạnh trong tôi. Rất khiêm tốn! Rất thông minh! Rất khoan dung! Tôi bàng hoàng vì chỉ nửa giờ gặp ông Hữu Ngọc, tôi hiểu văn hóa Việt Nam bằng bấy lâu tôi đọc bao nhiêu cuốn sách và tìm hiểu nền văn hóa của dân tộc ông. Tôi vô cùng cảm ơn ông".

Câu chuyện về nhà văn hóa Hữu Ngọc đã được Trần Đăng Khoa dẫn trong Vài nét Hữu Ngọc mà nhờ vậy tôi đã đi lùng mua bằng được hai cuốn sách Lãng du trong văn hóa Việt Nam và Wandering through Vietnamese Culture để đọc. Đến hôm nay, khi tôi giao lưu bài viết giáo dục văn hóa đọc và ngẫm với bạn đọc xóm Lá, tôi lại bị bất ngờ sững sốt, run lên vì cảm động khi PhLanHoa Ví Dặm Ân Tình đã trích dẫn phù hợp và công phu chép lại những trang vàng của bài ký ngắn Hữu Ngọc trong hàng ngàn trang tác phẩm của ông để thay cho lời bình "Dạy gì về Phan Châu Trinh?". Cụ Hữu Ngọc đã dành những lời trang trọng nói về Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, những bậc thiên sứ vĩ đại của nước Việt Nam mới. Những trang văn nhân hậu, khách quan, chân thành làm lòng ta lắng lại ...

Bốn bài viết tuyển chọn



DẠY GÌ VỀ PHAN CHÂU TRINH?

Nguyên Ngọc

Cần đánh giá lại tầm vóc của nhà cách mạng Phan Châu Trinh.

Có phải là người “lạc lối trời Âu”?

Sách Giáo Khoa Lịch sử lớp 11, phần viết về Phan Châu Trinh dài hơn một trang, có kèm ảnh ông. Tiêu đề của mục là “Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách”, nằm trong bài 23 có tên “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)”.

Trong một bài viết gần đây, Giáo sư Phạm Duy Hiển kể chuyện ông tò mò tìm xem người ta đang dạy cho lớp trẻ ngày nay về Phan Châu Trinh như thế nào. Ông tìm SGK môn sử lớp 11, và đọc được nguyên văn như sau: “Ông (Phan Châu Trinh) là người sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, chủ trương cứu nước bằng biện pháp cải cách như nâng cao dân trí, dân quyền, dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, xem đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập” (chữ nghiêng của Pham Duy Hiển). Kể tội nhà chí sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ 20 chừng đó sợ chưa đủ, cuối bài, người viết sách còn quyết nhét thêm vào đầu học trò: “Hãy nêu những sự kiện chứng minh Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản…”.

Mấy mươi năm trước, một nhà thơ nổi tiếng đã mỉa mai: “Phan Châu Trinh lạc lối trời Âu”. May thay, từ đó đến nay (thật ra cả trước đó nữa) có những người khiêm tốn, biết tôn trọng lịch sử, chịu khó nghiên cứu nghiêm túc hơn về nhân vật lớn này của nước ta. Huỳnh Thúc Kháng từng viết: “Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Chắc chắn cụ Huỳnh không hồ đồ. Cụ viết thế vì cụ hiểu nhà cách mạng không chỉ là người mưu đồ một cuộc khởi nghĩa, lật đổ một chính quyền..., mà là người muốn thay đổi số phận một dân tộc, căn cứ trên những suy ngẫm sâu xa... Như để cắt nghĩa rõ hơn nhận định của Huỳnh Thúc Kháng, học giả Hoàng Xuân Hãn nói: “Sau khi phong trào Cần Vương bị đàn áp tan rã hoàn toàn, Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội Việt Nam, cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa đã đưa đến mất nước là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây. Phan Châu Trinh đã đưa ra đường lối mới để tìm lối thoát cho con đường cứu nước...".

Nhà cách mạng, văn hóa, giáo dục lớn

Nghĩa là ít nhất có 2 điều: khác với tất cả những người đi trước và những người đồng thời, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm nguyên nhân mất nước không phải ở đâu khác mà là chính trong sự thua kém về văn hóa của ta. Thứ hai, ông cũng là người đầu tiên, sớm một cách khác thường, cách đây hơn một thế kỷ, nhận ra điều mà ngày nay ta gọi là toàn cầu hóa. Cuộc toàn cầu hóa thứ nhất, hiểu rằng thế giới đã rộng ra mênh mông, thời đại đã khác về cơ bản. Vì vậy, ông cho rằng cần đặt vấn đề độc lập không phải là bước cuối cùng, mà như một bước trong tầm đi xa hơn là phát triển dân tộc, phát triển dân tộc cho kịp với toàn cầu, với thời đại. Thì độc lập mới có ý nghĩa, và lâu bền.

Những éo le của lịch sử đã dẫn chúng ta đi theo con đường khác, cho đến độc lập và thống nhất hôm nay. Nhưng đúng như nhà sử học Pháp Daniel Héméry nói: “Những nan đề Phan Châu Trinh từng thấy và trằn trọc tìm cách giải quyết cho đất nước trăm năm trước thì nay vẫn còn nguyên đấy, Các thế hệ người Việt Nam vẫn còn phải tiếp tục đảm nhận”.

Vậy đó, Phan Châu Trinh không chỉ là “nhà cách mạng đầu tiên”, ông còn là nhà văn hóa lớn, cũng là nhà giáo dục lớn.

Nói chuyện lịch sử bao giờ cũng cần rất thận trọng. Nói lịch sử với lớp trẻ càng cần thận trọng hơn. Về Phan Châu Trinh, nhân vật sáng chói đầu thế kỷ XX của chúng ta, ít ra cũng cần cố gắng nói với những người trẻ hôm nay rằng ông từng thống thiết nhận ra những câu hỏi sâu sắc nhất của phát triển dân tộc, mà lịch sử éo le đã buộc phải bỏ dở dang. Vậy thì chính lớp trẻ hôm nay phải tiếp tục.

Đừng biến một bài học lịch sử quan trọng và hay như thế thành một phê phán bừa bãi và đầy thiên kiến.

Nhà văn Nguyên Ngọc
(Báo Thanh Niên)



THỰC TRẠNG VỐN XÃ HỘI VIỆT NAM: HAI VẤN ĐỀ CẦN BÀN

Hoàng Tụy

Để cải thiện thực trạng vốn xã hội của chúng ta, có hai vấn đề nổi bật cần lưu ý: một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã-hội-tâm-lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt; thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của xã hội dân sự, tức là những tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và nhà nước.

Về vấn đề thứ nhất, đã có nhiều người bàn về những điểm mạnh, yếu, những cái hay, dở của người Việt. Ở đây tôi chỉ muốn nêu lên một số nhược điểm tính cách mà theo tôi có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn hóa, khoa học, giáo dục.

Cách đây hơn 10 năm, trong một hội thảo về đặc trưng văn hóa dân tộc ở TP. HCM tôi có nhấn mạnh yếu kém của người Việt về đầu óc tưởng tượng. Nói cho chính xác, trí tưởng tượng của người Việt không thuộc loại xuất sắc trên thế giới. Nhận xét đó có thể chạm tự ái dân tộc của nhiều người, nhưng tôi nghĩ đó là thực tế chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận. Điều này thật ra cũng chẳng có gì lạ đối với một dân tộc bị đô hộ hàng nghìn năm, triền miên phải chống nhiều kẻ thù xâm lược lớn hơn, mạnh hơn gấp bội, tất nhiên trí tưởng tượng của dân tộc chỉ có thể phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh giữ nước. Nhưng cũng chính vì thế trí tưởng tượng của người Việt bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống bình thường. Chẳng hạn, trong kiến trúc truyền thống, ta không có công trình nào tầm cỡ như Angkor Wat của người Khmer. Trong kho tàng văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng lấy cốt truyện dựa theo Tàu. Ta ít có những pho truyện lớn, với nhiều tình tiết phức tạp hay ý tưởng kỳ lạ độc đáo, lôi cuốn người đọc vào những thế giới tưởng tượng nửa thực nửa hư như ở nhiều nền văn học lớn khác trên thế giới. Hoàn cảnh lịch sử cũng đã giam hãm ông bà ta quá lâu trong lối học từ chương khoa cử, nên tư duy bị gò bó, chúng ta thiếu những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ nhân loại. Tóm lại, gia tài để lại về trí tưởng tượng sáng tạo của chúng ta phải nói là khiêm tốn. Trong thời đại kinh tế tri thức, đây là một nhược điểm mà nếu không cố gắng khắc phục nhanh ta sẽ luôn ở thế yếu trong sự cạnh tranh với thế giới. Einstein từng nói một câu nổi tiếng: “Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức.” Mới nghe tưởng như một nghịch lý nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc. Ý nghĩa thời sự của chân lý đó là: học để hiểu, để nhớ, để mở mang kiến thức là rất cần thiết, nhưng chỉ đủ để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để khám phá, sáng tạo; mà người ta không thể khám phá, sáng tạo với một trí tưởng tượng nghèo nàn.

Nhược điểm thứ hai cần nói đến ở người Việt là thiếu tinh thần kỷ luật và ý thức gắn kết cộng đồng. Trên thế giới người Đức nổi tiếng về hai đức tính đó, đặc biệt về tính kỷ luật chính xác. Người Trung Quốc, người Do Thái cũng nổi tiếng về tinh thần gắn kết cộng đồng. Còn người Việt chúng ta thì quá yếu về hai đức tính đó. Nhiều chuyện tiếu lâm trong dân gian xung quanh việc này không phải không có cơ sở. Ngay những việc rất nhỏ trong giao thông đường phố cũng thấy rõ ứng xử khác nhau của người Việt và người Đức: khi đèn đỏ, mặc dù nhìn quanh không thấy có xe cộ qua, người Đức vẫn kiên nhẫn đứng đợi, còn người Việt thì thường sẽ tranh thủ vượt. Tính cách này ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển khoa học, công nghệ, và xây dựng công nghiệp. Nền văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, nề nếp đã được chuẩn hóa chính xác để bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng tối ưu của xã hội. Thế mà đã có biết bao công trình xây dựng, nhà máy trên đất nước ta vừa mới khánh thành đã phải liên tục sửa chữa, thậm chí làm lại, chỉ vì sự cẩu thả trong việc tuân thủ các quy trình, các chuẩn mực từ thiết kế đến thi công. Đáng nói nhất là ý thức tôn trọng luật pháp chưa thành thói quen hằng ngày ngay từ các quan chức, khiến trong xã hội có nhiều tình huống tưởng như không có luật pháp, rất nguy hiểm.

Nhược điểm thứ ba là thiếu tinh thần học hỏi, thực sự cầu thị. Nhược điểm này của người Việt được thể hiện rõ nhất nếu chúng ta đối chiếu với người Nhật để thấy hết sự tương phản. Người Nhật có tinh thần khiêm tốn học tập cái hay của người khác và ít có thói chủ quan tự mãn, tự ru ngủ, tự cho mình là nhất thiên hạ. Khác với nhiều người chúng ta, làm được chút gì thì ba hoa thiên địa, đến khi thất bại thì chậm rút kinh nghiệm, viện đủ mọi lý do để biện bạch ngoan cố. Đồng thời, cách học hỏi của người Nhật không mang tính nô lệ, không bị lệ thuộc; tuy học người khác nhưng cũng biết đặt câu hỏi, lật tới lật lui, tìm cho ra đạo lý, căn nguyên, chứ không tiếp thu máy móc hời hợt. Điều này thấy rõ ngay cả trong các hội thảo khoa học: thường người Nhật rất chịu khó lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi, biểu lộ sự quan tâm, khuyến khích diễn giả phát biểu hết ý kiến. Nhiều hội thảo khoa học ở Nhật không khí sôi nổi hơn cả ở một số nước phương Tây. Có lẽ nhờ cái tinh thần đó mà từ rất sớm họ đã biết mở cửa, tiếp thu nền văn minh phương Tây, mau chóng trở thành cường quốc và khi thất bại họ cũng biết nhẫn nhục học hỏi, rút ra những bài học cần thiết để mau chóng vươn lên trở lại từ đống đổ nát. Thật khác với chúng ta, trong quá khứ và hiện nay đã bỏ lỡ biết bao cơ hội chỉ vì cái tính bảo thủ, không biết kịp thời học hỏi, rút kinh nghiệm nghiêm chỉnh từ thất bại.

Cuối cùng, ngoài những nhược điểm đề cập trên đây, có một đặc tính tiêu cực rất nghiêm trọng, đó là thói giả dối. Từ chỗ vốn không thuộc truyền thống của người Việt, trong mấy chục năm nay, cái thói xấu này đã dần dần trở thành phổ biến đến mức có thể nói đang trở thành một tính chất tiêu biểu. Và nếu cứ để bệnh giả dối ngày càng xâm nhập sâu vào mọi ngóc ngách cuộc sống, kể cả các hoạt động khoa học và giáo dục, thì thật đáng lo cho tiền đồ đất nước. Trong giáo dục, căn bệnh này với các biến tướng của nó (tiêu cực trong thi cử, chạy theo thành tích, v.v.) sẽ ngày càng lấn át các xu hướng lành mạnh tích cực, làm hỏng cả thanh thiếu niên, đẩy họ vào lối sống sa đọa, không lý tưởng, không mục đích. Trong khoa học, nếu không kịp thời chấn chỉnh thì nạn đạo văn và nạn gian dối trong các báo cáo nghiên cứu sẽ phát triển ngày càng tinh vi, trắng trợn, xóa nhòa ranh giới giữa thật và dỏm, đầu độc môi trường học thuật, làm nản lòng mọi người trung thực, đẩy khoa học vào thế bế tắc rất khó thoát.

Vấn đề thứ hai cần xem xét về thực trạng vốn xã hội ở Việt Nam là sự phát triển của xã hội dân sự. Gần đây có điều đáng mừng là xã hội dân sự của chúng ta đang dần dần hình thành và mạnh lên. Ví dụ như ngày càng nhiều những người dân tập hợp trong những tổ chức tự nguyện hoạt động ngoài khuôn khổ chính quyền và không nhằm lợi nhuận, chỉ với những mục đích cao quý, như từ thiện, giúp đỡ, bênh vực người nghèo và những số phận không may mắn, cả về vật chất lẫn tinh thần; hoặc đơn giản là hợp tác hỗ trợ nhau trong nghề nghiệp. Qua những tổ chức đó, ý thức trách nhiệm công dân được nâng cao, sự gắn kết cộng đồng được tăng cường, có lợi cho cộng đồng, có lợi cho đất nước. Nhiều việc, thị trường và Nhà nước không thể làm, hoặc không thể làm tốt bằng xã hội dân sự. Đồng thời, xã hội dân sự cũng là cầu nối giữa chính quyền và người dân, là cái phanh để ngăn chặn chính quyền lạm dụng quyền lực và nạn suy thoái đạo đức, giữ cho xã hội phát triển hài hòa, lành mạnh.

Nói tóm lại, để phát triển vốn xã hội và qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của đất nước rất cần hai điều. Thứ nhất, cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ. Trong số các nguyên nhân, cần đặc biệt chú ý tới những vấn đề về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường, vì mặc dù vốn xã hội nằm ngoài phạm trù thể chế và cơ chế thị trường nhưng những cải cách về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường lại có tác dụng thúc đẩy phát triển vốn xã hội. Ví dụ đơn giản như nếu cơ chế thị trường không phát triển, thì người dân không có động cơ cạnh tranh, khiến cho trí tưởng tượng sáng tạo không được phát huy và ngày càng teo tóp.

Thứ hai là phải tạo điều kiện phát triển xã hội dân sự thay vì ràng buộc và hạn chế nó, bởi ngày càng thấy rõ vai trò không thể thiếu được của xã hội dân sự trong sự phát triển của đất nước. Một xã hội dân sự phát triển lành mạnh, có tiếng nói và vai trò độc lập với thể chế và thị trường, mới có thể góp phần nâng cao vốn xã hội và qua đó phục vụ lợi ích của cộng đồng ở những việc mà thị trường và nhà nước không hoặc khó làm được tốt.

Chúng ta luôn nói chiến lược phát triển đất nước là chiến lược con người nhưng nếu không chú ý tới hai điểm trên thì thật sự chỉ là lời nói suông, chẳng có mấy tác dụng.

(Nguồn: Báo Tia sáng).



DẤU ẤN VĂN HÓA NGƯỜI PHÁP Ở HÀ NỘI

Phạm Xanh

Người Pháp quyết tâm trụ lại trên đất Hà Nội từ cuộc viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873. Sau khi chiếm được Hà Nội, (ngày 20-11-1873), thực dân Pháp, trong vòng không đầy một tháng, lần lượt đánh chiếm các tỉnh vùng châu thổ sông Hồng: Hưng Yên ngày 23-11, Phủ Lý ngày 26-11, Hải Dương ngày 3-12, Ninh Bình ngày 5-12 và Nam Định ngày 12-12.

Mặc dầu, ngày 21-12 quân dân Hà Nội đã đánh bại quân Pháp ở trận Cầu Giấy làm nức lòng quân dân ta trên cả nước và đẩy quân Pháp vào thế bị động, nhưng triều đình Huế vẫn trượt dài trên con đường thỏa hiệp, đầu hàng. Ngày 15-3-1874, triều đình Huế ký Hiệp ước mới 22 điều khoản công nhận sự thống trị của Pháp trên miền Lục tỉnh, quyền đi lại, buôn bán, truyền đạo trên đất nước ta và đặc biệt cho phép người Pháp được quyền cư trú và đặt lãnh sự quán ở Hà Nội, Hải Phòng và Quy Nhơn. Trong Thương ước ngày 31-8 năm đó nhắc lại nội dung Hiệp ước trên và nói rõ thêm là triều đình Huế phải nhượng cho chính phủ Pháp một khu đất rộng 5 mẫu (khoảng 2,5 ha) để xây dựng nhà cửa cho viên lãnh sự và những người tùy tùng. Từ tháng 1-1875 mới xác định được vùng đất nhượng là khu Đồn Thủy đến tháng 5 năm đó, một thỏa ước giữa Tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc với phía Pháp mở rộng khu Đồn Thủy lên 18 ha, chạy dọc theo song Hồng từ Viện Bảo tàng Lịch sử đến Bệnh viện Hữu nghị hiện nay. Tháng 10-1875, người Pháp khởi công xây dựng các công trình kiến trúc kiên cố trên khu nhượng địa theo bản thiết kế của sỹ quan Công chính Varen như Tòa lãnh sự được xây dựng theo phong cách cổ điển Pari, các tòa nhà hai tầng làm nơi ở cho sỹ quan, trụ sở chỉ huy quân sự, trại lính và kho tàng… Đó là những công trình kiến trúc đầu tiên mang dấu ấn văn minh Pháp hiện hữu trên mảnh đất Hà Nội mà bây giờ ta vẫn có thể thấy được trong khu Bệnh viện Quân đội 108. Chính nơi này trở thành “vườn ươm văn hóa Pháp” tại Hà Nội.

Sau khi thôn tính toàn bộ nước Việt Nam và Cămpuchia, năm 1887, thực dân Pháp lập Liên Bang Đông Dương. Năm sau, ngày 1-10-1888, Pháp ép vua bù nhìn Đồng Khánh chuyển trấn thành Hà Nội, cố đô Thăng Long xưa, thành nhượng địa của Pháp mà trước đó, ngày 19-7, tổng thống Pháp đã ký Sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội và xếp Thành phố Hà Nội vào đô thị loại I như Sài Gòn, Hải Phòng. Từ đó, đô thị Hà Nội xưa (gồm phần thành Hà Nội xây theo kiểu Vôbăng và phần thị với 36 phố phường bao quanh) để cho những tên thực dân và những kiến trúc sư Pháp, từ Liôtây qua Hêbra đến Xêruyti, nhào nặn thành Thủ phủ của Liên Bang Đông Dương. Trong quá trình cải biến đó, buổi đầu người Pháp đã ứng xử thô bạo, thiếu văn hóa đối với di sản văn hóa Việt Nam trên mảnh đất nghìn năm văn hiến này. Họ đã phá chùa Báo Thiên xây dựng từ năm 1057 để xây dựng Nhà Thờ Lớn năm 1884. Tiếp đó, họ phá chùa Báo Ân để dựng lên Phủ Thống Sứ Bắc Kỳ và Nhà Bưu Điện. Những pho tượng Phật quý trong chùa trở thành tài sản riêng của Công sứ Bônan[1]. Cho đến năm 1894, họ đã phá gần hết thành Hà Nội. Ngày 13-12-1897, Pôn Đume sang Hà Nội nhậm chức Toàn quyền Đông Dương. Chứng kiến sự ứng xử thổ bạo đối với di sản văn hóa người bản địa như vậy, ông ta đã phải thốt lên: “Tôi đến chậm quá không thể cứu vãn được những bộ phận đáng chú ý. Đặc biệt những cổng thành đáng được gìn giữ. Những cái đó có những đặc tính và những kỷ niệm có giá trị lịch sử đáng được chúng ta trân trọng. Những cái đó có thể tô điểm cho những khu phố tương lai…”[2]. Từ đó, một mặt, trong chừng mực nào đó hạn chế những hành xử thô bạo đối với văn hóa truyền thống của Hà Nội nghìn năm văn hiến, mặt khác, chặn đứng quá trình “nông thôn hóa” đo thị Hà Nội khi Hà Nội mất vai trò kinh sư của đất nước.

Trong những năm nhào nặn Hà Nội thành Thủ phủ Liên bang Đông Dương nhằm tạo môi trường văn hóa xã hội thu hút vốn đầu tư và người Pháp sang làm ăn lâu dài, người Pháp đã để lại nơi đây những dấu ấn văn hóa của mình trên nhiều phương diện.

Về quy hoạch thành phố

Theo các văn bản pháp quy của các cấp chính quyền thuộc địa, quá trình biến Trấn thành Hà Nội thành “Thủ đô của Bắc Kỳ, Thủ đô của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp” cũng là quá trình xác định, mở rộng địa giới hành chính Hà Nội được trải dài trên hai giai đoạn: Xác định ranh giới thành phố và mở rộng địa giới hành chính Thành phố. Ở giai đoạn đầu, mở đầu bằng việc ngày 11-5-1886, Tổng trú sứ Trung – Bắc Kỳ Vial ký Quyết định số 1 giao cho Khu Công chính Bắc Kỳ đo vẽ bản đồ Thành phố Hà Nội. Tiếp đó, ngày 14-9-1888, Quyền Tổng trú sứ Parreau ký Nghị định số 18 phân định ranh giới ban đầu của thành phố. Theo Nghị định này, Thành phố Hà Nội lúc đó bắt đầu từ Sở thuế (nay là Bảo tàng Cách mạng) qua bốt phía Bắc (nay thuộc phố Phó Đức Chính), đường Grand Bouddha (phố Quán Thánh), đường bao quanh thành Hà Nội, cửa Sơn Tây kéo dài đến đường Phủ Thanh Oai (phố Văn Miếu, một đoạn phố Quốc Tử Giám, một đoạn phố Tôn Đức Thắng), Pagode des Corbeaux (Văn Miếu – Quốc Tử Giám), chùa Sinh Từ, đường Huế (phố Duy Tân, nay là phố Huế) đến đê sông Hồng, chỗ Khu nhượng địa (Khu Đồn Thuỷ). Một năm sau, tại phiên họp của Hội đồng Thành phố Hà Nội ngày 6-10-1889, Đốc lý Hà Nội cho rằng “ranh giới hiện tại của Thành phố không rõ ràng, khó nhận biết, khó xác định về đất đai và đã bỏ ra ngoài thành phố một vài vùng buôn bán và công nghiệp”[3]. Vì thế, theo đề nghị của Hội đồng Thành phố, ranh giới Thành phố được xác định lại theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ký ngày 15-11-1889 là: phía Đông giáp với dòng chảy sông Hồng; phía Bắc, phía Tây và phía Nam được xác định bởi những đoạn thẳng nối từ cột mốc số 1 (làng Cổ Xá) đến cột mốc số 15. Ta có thể vẽ ranh giới Hà Nội theo Nghị định trên bắt đầu từ cột mốc số 1 ở làng Cổ Xá men theo bờ nam hồ Tây bao gồm cả đảo Chùa Trấn Quốc, đến đường Hoàng Hoa Thám, qua Đại La tới Đại Cồ Việt đến phố Trần Khát Trân, ra phố Lò Lợn (nhà máy xay Lương Yên).

Ranh giới này từng được xem là ranh giới chính thức làm căn cứ pháp lý cho những lần mở rộng địa giới Thành phố tiếp theo dưới chính quyền thuộc địa.

Ở giai đoạn hai, giai đoạn mở rộng phạm vi Thành phố bắt đầu từ năm 1895 mở rộng theo hướng đông-bắc đến ngày 1-1-1943 đưa các làng trong huyện Hoàn Long, các tổng Thanh Trì, Thịnh Liệt, Khương Đình của huyện Thanh Trì, các tổng Dịch Vọng, Xuân Tảo, Phú Gia của phủ Hoài Đức vào Thành phố Hà Nội.

Người Pháp đã tiến hành quy hoạch Thành phố theo lộ trình mở rộng không gian đô thị nơi đây. Có thể chia quy hoạch Thành phố theo 3 giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1875 đến 1888, giai đoạn 2 từ 1888 đến 1920 và giai đoạn cuối cùng từ 1920 đến 1945. Chẳng hạn, ở chặng đầu, bên cạnh triển khai những công trình kiến trúc tiêu biểu trong Khu Nhượng địa, Phó Công sứ Bắc Kỳ bằng một quyết định ký ngày 22-8-1886, cho phép xây dựng một con đường rộng 10m xung quanh hồ Hoàn Kiếm và không được phép xây dựng một công trình nào, dù là nhà tranh, dọc theo khu vực này.

Ở mỗi giai đoạn đều có những điểm nhấn quan trọng. Nhưng nhìn chung, quy hoạch tổng thể mang tính thực dân đậm nét, được biểu hiện rõ trên thực tế bằng sự phân chia Thành phố thành hai khu vực: khu vực sang trọng giành cho người Pháp và người Âu và khu vực tồi tàn giành cho người bản địa. Trong quá trình chỉnh trang và xây dựng mới, họ giữ lại và chỉnh trang khu phố cổ phía Bắc hồ Hoàn Kiếm, còn trên các phố khác, đường phố được quy hoạch theo ô bàn cờ và phân khu theo các chức năng của nó như hành chính, buôn bán, sản xuất công nghiệp, giải trí và cư trú cho người Âu và người Việt. Chẳng hạn như khu hành chính, từ đầu người Pháp đã xác định hai trung tâm hành chính-chính trị: khu phía Đông hồ Hoàn Kiếm với vườn hoa Pôn Be (bây giờ là vườn hoa Lý Thái Tổ) làm trung tâm, mọc lên những tòa nhà theo phong cách kiến trúc Pháp như Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Nhà Bưu Điện trung tâm, Tòa Đốc lý Hà Nội, Khách sạn Mêtrôpôn, Ngân hàng Đông Dương… Trung tâm hành chính-chính trị thứ hai nằm ở phía Nam hồ Tây mà tâm điểm là Dinh Toàn Quyền Đông Dương và các cơ quan trực thuộc, Sở Tài chính Đông Dương (bây giờ là Bộ Ngoại giao) được nối với trung tâm hồ Hoàn Kiếm bằng trục phố Paul Bert (bây giờ là phố Tràng Tiền và phố Hàng Khay) – phố B. Desbordes (Tràng Thi) - Đại lộ Puginier (Điện Biên Phủ ngày nay). Về quy hoạch, đáng chú ý nhất là Nghị định 8962 ngày 5-12-1942 của Toàn Quyền Đông Dương phê chuẩn và công bố các quy định trong đồ án quy hoạch và mở rộng Thành phố Hà Nội và vùng ngoại ô do Sở Quy hoạch đô thị và Kiến trúc Đông Dương lập. Theo quy định của đồ án, Thành phố Hà Nội được chia làm 11 khu mang ký hiệu từ A đến H: Khu A khu biệt thự; Khu B, khu thương mại; Khu C, khu biệt thự kiểu Việt Nam, Khu D, khu nhà chia ô; Khu E, khu buôn bán nhỏ theo kiểu Việt Nam; Khu F, khu làng truyền thống của người Việt; Khu G, khu dự phòng cho các mục đích hành chính công; Khu H, khu công nghiệp. Ngoài ra còn để các khu trống dành cho các khu vui chơi, giải trí, thể thao, công viên. Điều đáng nói là mỗi khu vực đều có quy định riêng về kiểu dáng, kích thước, diện tích và vật liệu xây dựng nhà cửa trong khu và quy định những cấm đoán trong một số khu như không dán quảng cáo, cấm các chuồng trại lợn, ngựa và các vật nuôi khác.

Về kiến trúc.

Trước năm 1920, các công trình kiến trúc chủ yếu như Phủ Thống sứ, Dinh Toàn quyền, nhà Bưu điện, khách sạn Mêtrôpôn, Nhà hát Thành phố… đều được xây dựng theo phong cách kiến trúc cổ điển Pháp. Liên quan tới đề tài, chúng tôi xin lấy Nhà hát Thành phố (Theatre minicipal) làm thí dụ. Năm 1990, trong đấu thầu xây dựng Nhà hát Thành phố, Charavy và Savelon đã trúng thầu toàn bộ công trình… Tháng 12-1902, Toàn Quyền Đông Dương cho Thành phố Hà Nội vay trước 100.000 đồng để xây dựng Nhà hát và mỗi năm hoàn trả một lần kéo dài trong 10 năm. Đến năm 1911 công trình Nhà hát Thành phố hoàn thành, sau đó là chỉnh trang công trình cho đến năm 1913. Sau khi khánh thành, Nhà hát Thành phố đêm đêm đỏ đèn đón khán giả tới xem các chương trình biểu diễn từ âm nhạc đến kịch, chủ yếu là người Âu và giới thượng lưu người Việt. Vở kịch nói Việt Nam đầu tiên Chén thuốc độc của Phong Di Vũ Đình Long được công diễn đầu tiên tại Nhà hát Thành phố nhân dịp kỷ niệm một năm ngày thành lập Hội Bắc Kỳ Công Thương Đồng nghiệp.(ảnh trên: dấu ấn kiến trúc Pháp ở Hà Nội, ảnh internet Báo Xây Dựng điện tử)

Từ năm 1920 trở về sau, theo ý tưởng thiết kế của kiến trúc sư Hêbra, các công trình kiến trúc bắt đầu có sự kết hợp sáng tạo, hài hòa của kiến trúc hiện đại Pháp với những yếu tố kiến trúc truyền thống bản địa, tạo thành những tổ hợp kiến trúc phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội phương Đông. Ta có thể chỉ ra những công trình kiến trúc thành công theo ý tưởng của Kiến trúc sư Hêbra như Trường Đại học Đông Dương trên đại lộ Boibillot (nay là phố Lê Thánh Tông), Bảo tàng Lui Finô (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), Sở Tài chính Đông Dương (nay là Bộ Ngoại giao), Viện Pastơ (nay là Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương)…

Cùng với việc xây dựng các công trình kiến trúc tiêu biểu như trên đã nói, người Pháp còn xây dựng Vườn Bách thảo, các quảng trường, các công viên, vườn hoa và các đài tưởng niệm mà đên bây giờ vẫn còn tác dụng. Chỉ riêng cụm kiến trúc xung quanh hồ Hoàn Kiếm, chúng ta vẫn thấy sự hiện hữu của các công trình công cộng như Vườn hoa Paul Bert (bây giờ là vườn hoa Lý Thái Tổ) nối với Quảng trường Thành phố trước Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (Nhà khách Chính phủ), trên đó dựng công trình đài phun nước tưởng niệm Chavassieux (khánh thành năm 1901). Phía Bắc hồ Hoàn Kiếm là Quảng trường Negrier (bây giờ là Quảng trường Đông Kinh Nghĩa thục), nơi đặt Ga trung tâm của hệ thống tàu điện Hà Nội. Phía Đông, cạnh đền Bà Kiệu là nhà bia tưởng niệm Giám mục Alếcxan Đờrốt, một trong những cha cố góp phần sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Phía Tây, từ trước vốn đã có tượng vua Lê do Hoàng Cao Khải xây năm 1894 nhưng đã xuống cấp theo thời gian, nên năm 1902, Đốc lý Hà Nội xin phép Thống sứ Bắc Kỳ được sửa chữa lại công trình này với khoản kinh phí 150 đồng lấy từ ngân sách Bắc Kỳ…

Tất cả những công trình đó tạo thành một di sản kiến trúc quý báu và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong lòng Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Về giao thông đô thị

Năm 1902, chiếc cầu sắt vĩ đại mang tên Pôn Đume, còn dân ta vẫn quen gọi là cầu Long Biên hay cầu sông Cái, do Công ty Daydé & Pillé thiết kế và thi công với 19 nhịp, đặt trên 20 trụ, dài 1680m, nếu tính cả đường dẫn lên hai đầu cầu, là 2.500m, đã hoàn thành. Vào lúc 8 giờ 30, ngày 28-2-1902, chuyến tàu đầu tiên khởi hành từ Ga Hàng Cỏ (Ga Hà Nội hiện nay) đua vua Thành thái và Toàn Quyền Đông Dương Pôn Đume cùng đoàn tuỳ từng tới đầu cầu, cắt băng khánh thành trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân Hà Nội và dân quanh vùng. Cùng với Ga Hàng Cỏ, việc khánh thành cầu Pôn Đume đã biến Hà Nội thành trung tâm giao thông vận tải trên cả nước và trên toàn Liên Bang. Nó liền đi vào ca dao của người Hà Nội chúng ta: Hà Nội có cầu Long Biên/Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng. Cùng năm đó, với Nghị định số 953, Toàn Quyền Đông Dương chính thức cho phép khai thác tuyến đường tàu hoả Hà Nội lên biên giới Việt-Trung và bến phà qua sông Hồng ngừng hoạt động[4]. Đến năm 1905, từ ga Hàng Cỏ ta có thể đáp tàu hoả đi Lạng Sơn, Đồng Đăng, đi Hải Phòng, đi Việt Trì, Lào Cai và đi Vinh, để đến năm 1936 đi đến tậ ga Bình Chiểu, Sài Gòn. Cầu Long biên vốn là chiếc cầu giành cho đường sắt, nhưng đến đầu những năm 20 của thế kỷ trước, người Pháp đã mở rộng hai bên cầu cho xe cộ và người đi bộ. Theo thống kê người Pháp, ta biết được, năm 1925, lưu lượng xe và người qua lại hàng ngày trên cầu Long Biên là: 249 chiếc (166 xe du lịch, 70 xe khách và 4 xe cam nhông), 141 xe bò, 1184 xe kéo, 344 xe đạp và 4.756 người đi bộ[5]. Và thiết lập hai bến xe ô tô: Kim Liên cho xe khách chạy các tuyến đường phía Nam và Bến Nứa (Long Biên) cho xe khách chạy các tuyến phía Bắc. Cùng với nó, các phương tiện giao thông nội đô cũng tăng trưởng theo hướng hiện đại như xe đạp, ô tô và đặc biệt là các tuyến tàu điện lấy hồ Hoàn Kiếm làm trung tâm, mở ra theo các hướng như Bờ Hồ - Chợ Mơ, Bờ Hồ - Bạch Mai, Bờ Hồ - Thái Hà – Hà Đông, Bờ Hồ - Bưởi, Bờ Hồ - Yên Phụ. Tiếng leng keng tàu điện trở thành một loại âm thanh ký ức đối với người Hà Nội. Đáng tiếc là trong quá trình xây dựng Hà Nội chúng ta không giữ được nó.

Với sự hoạt động mạnh mẽ của các loại hình giao thông, đặc biệt là đường sắt, nền thương nghiệp, trong đó có nội thương, phát triển đáng kể. Nói đến việc buôn bán trong nước, trước hết phải nói đến chợ. Một hệ thống chợ đã hình thành và phát huy tác dụng trong địa hạt kinh tế, từ chợ quê – chợ huyện – chợ tỉnh – chợ lớn. Cũng như chợ lớn Bến thành ở Sài Gòn, chợ lớn Đông Ba ở huế, chợ Đồng Xuân ở Hà Nội đóng vai trò trung tâm buôn bán của một vùng rộng lớn, không chỉ của Bắc Kỳ, mà cả Bắc Đông Dương và vùng Hoa Nam, Trung Quốc. Hệ thống chợ đã góp phần giao lưu hàng hoá trên cả nước, thống nhất thị trường và trên tất cả là tạo ra chất keo cố kết cộng đồng dân tộc Việt Nam thành một khối vững chắc mà không một thế lực ngoại bang nào có thể phá nổi.

Nhà in và các loại ấn phẩm

Trước khi có mặt người Pháp ở nước ta, các văn bản và sách của triều đình Huế phổ biến trong dân chúng đều qua kỹ thuật in bằng mộc bản. Vừa rồi, tổ chức UNESCO đã công nhận kho mộc bản của nhà Nguyễn (hiện đang được bảo quản tại Đà Lạt) là di sản ký ức nhân loại. Người Pháp tới mang theo kỹ thuật in ấn mới, hiện đại – kỹ thuật in ti pô, vào nước ta. Dĩ nhiên, đầu tiên được du nhập vào Sài Gòn, Nam Kỳ, sau đó mới tới Hà Nội, Hải Phòng và lan toả khắp Bắc Kỳ. Kỹ thuật in ấn mới đó như là một phương tiện hữu hiệu và nhanh chóng qua các ấn phẩm của nó mà một mặt, truyền bá văn minh phương Tây, văn minh Pháp vào Việt Nam và mặt khác, hạn chế dần ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa ra khỏi đất Việt. Ta có thể hình dung, nếu súng đạn giúp người Pháp chiếm đất, thì kỹ thuật in ấn mới là phương tiện chủ yếu giúp người Pháp thực hiện cuộc xâm lăng văn hoá, chinh phục con người Việt Nam.

Trong nghề in ấn, F.H. Scheneider đóng vai trò thực sự to lớn, không chỉ ở Sài Gòn với việc bao thầu phần lớn việc xuất bản các tờ báo chính, mà cả ở Hà Nội. Nguyễn Văn Vĩnh, một cây bút chính trong Đăng cổ tùng báo của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, được Scheneider lựa chọn truyền nghề, trở thành chủ bút của Đông Dương tạp chí năm 1913 và sau đó tiếp nhận toàn bộ cơ sở in ấn ở xứ Bắc Kỳ và trở thành một ông chủ lớn trong nghề in ở Trung và Bắc Kỳ. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ Nhất, lợi dụng sự cách trở giữa chính quốc và thuộc địa bởi bom đạn và sự điều chỉnh chính sách kinh tế thuộc địa cho phù hợp với thời chiến của Chính quyền thuộc địa, nhiều doanh nhân nước ta nhảy vào kinh doanh trong địa hạt in ấn. Những nhà máy in của người Việt lần lượt ra đời như Nhà máy in Ngô Tử Hạ, Nhà máy in Lê Văn Phúc, Nhà in Thực Nghiệp Dân Báo, Đông Kinh ấn quán, Nhà in Lê Văn Tân… Một điều khá lý thú là một tờ báo kinh tế của Pháp L’éveil Economique, số ra ngày 2-1-1921, đã đăng bài Người An Nam và buôn bán, trong đó có một nhận xét: “Những người Pháp xa Bắc Kỳ sáu, bảy năm nay quay trở lại sẽ thấy một sự thay đổi lớn. Họ có những cửa hàng lộng lẫy ở những phố sang trọng. Một trong những nhà in khá nhất ở Hà nội là của một người Việt Nam” (do P.X viết nghiêng để nhấn mạnh). Khi phần lớn nhà in nằm trong tay người Việt, đặc biệt năm 1926 xuất hiện một nhà xuất bản do một nhà yêu nước Việt Nam chủ trương – Nam Đồng thư xã của Phạm Tuấn Tài thì phương tiện này rẽ theo một hướng khác, không như người Pháp mong muốn. Báo chí Hà Nội thời này như Thực Nghiệp Dân Báo, Khai hoá nhật báo, Hữu Thanh tạp chí không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của tư sản dân tộc, mà còn hoà chung vào phong trào dân tộc sôi nổi trên cả nước thời đó như Phong trào tẩy chay khách trú (1919), Phong trào đòi ân xã Phan Bội Châu (1925), Phong trào truy điệu Phan Chu Trinh (1926)… Từ các phong trào đó đã sản sinh ra một lớp những “chàng trai bãi khoá” gia nhập các tổ chức cách mạng vừa mới được thành lập như Việt Nam cách mạng Thanh niên và Hội Phục Việt. Hay như nhà xuất bản Nam Đồng của Phạm Tuấn Tài đã chuẩn bị tư tưởng cho sự ra đời của Việt Nam Quốc dân Đảng sau đó bằng việc xuất bản những cuốn sách mang nặng tinh thần dân tộc và lòng yêu nước, đặc biệt tháng 11-1926 ấn hàng cuốn sách Tiểu sử và học thuyết của Tôn Dật Tiên của Dật Công (Phạm Tuấn Lâm) và Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân). Nối tiếp là báo chí theo khuynh hướng mác xít, mở đầu bằng tờ Thanh Niên, Lính Cách mệnh của Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi đến Búa liềm của Đông Dương cộng sản Đảng và tờ Lao động của Tổng Công hội Bắc Kỳ…

Rõ ràng, in ấn là phương tiện thông qua đó tạo ra những ấn phẩm truyền bá văn minh phương Tây, văn minh Pháp, khi nằm trong tay người Việt, nó trở thành công cụ, qua đó tạo ra những ấn phẩm yêu nước theo nhiều mức độ và khuynh hướng khác nhau nhằm mục đích tối thượng là chống lại sự thống trị của thực dân Pháp, giành lại nền độc lập cho dân tộc.

Thay đổi ứng xử đối với di sản văn hoá Hà Nội

Theo tài liệu lưu trữ, trước năm 1900, chưa có cơ quan văn hoá nào chuyên lo về việc quản lý và bảo tồn các di tích lịch sử ở Đông Dương. Do vậy, nhiều công trình lịch sử, trong đó có những di tích thuộc về văn hoá tâm linh bị xâm hại trong quá trình xây dựng và mở rộng Thành phố Hà Nội. Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume sang nhậm chức đã tận mắt chứng kiến sự ứng xử thô bạo với di sản văn hoá bản địa và ông đã thốt lên những tiếc nuối như trên đã trích dẫn. Và cũng chính ông, trong nhiệm kỳ làm Toàn quyền Đông Dương (1897-1902), đã ban bố hai nghị định (9-3-1900 và 15-4-1905) về xếp hạng và bảo tồn các công trình lịch sử của Thành phố Hà Nội. Thời điểm đó, tại Hà Nội đã xếp hạng 7 công trình là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Đền Quán Thánh, Đền Ngọc Sơn với Đài Bút Tháp, Đền Hai Bà, Đình Bạch Mã, Chùa Một Cột[6].

Để đưa Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào sâu trong cuộc sống, tháng 6-1905 Đốc lý Hà Nội đã tổ chức một cuộc tổng điều tra về tình hình đất đai và thờ cúng của tất cả các công trình tín ngưỡng ở Hà Nội. Hiệp lý Thành phố là Bùi Bành cùng tất cả các Phố trưởng tham gia vào quá trình đó. Theo số liệu của cuộc tổng điều tra, lúc đó ở Hà Nội còn khoảng 400 đình, đền, chùa, miếu…

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Sarô ban hành Sắc lệnh ngày 3-4-1920 xác định vị trí và nhiệm vụ của Trường Viễn Đông Bác cổ. Theo Sắc lệnh đó, Trường Viễn Đông Bác cổ đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương và dưới sự kiểm soát về khoa học của Viện Hàn lâm về văn hoá và văn học Pháp với nhiệm vụ “đảm bảo việc bảo quản và giữ gìn các công trình lịch sử của các nước Đông Dương thuộc Pháp”. Từ đây, dưới sự tư vấn của Trường Viễn Đông Bác cổ, Hội đồng Thành phố tiến hành xếp hạng và quản lý các công trình lịch sử, bao gồm cả những công trình văn hoá tâm linh. Với sự tư vấn của Trường Viễn Đông Bác cổ, Sở Quốc gia bảo tồn cổ tích và của Hội đồng Thành phố, ngày 15-2-1927, Đốc lý Hà Nội đã cho nghiên cứu về Dự thảo quản lý và sử dụng các công trình tín ngưỡng ở Hà Nội gồm 7 điều, nhưng không được ban hành vì “đây là vấn đề nhạy cảm và phức tạp liên quan đến tập quán lâu đời của dân bản xứ”[7]. Nhận thức được điều đó, ngày 24-10-1927, Đốc lý Hà Nội đã soạn thảo lại nghị định gồm 2 điều quy định việc quản lý các đình, chùa thuộc quyền sở hữu công cộng của Thành phố và trình lên Thống sứ Bắc Kỳ. Ngày 29-10-1927, nghị định đó được Thống sứ Bắc Kỳ chuẩn y và ban hành với số Nghị định là 351. Thực hiện Nghị định đó, đầu năm 1928, Đốc lý Hà Nội đã chỉ thị cho các Phố trưởng tổ chức bầu các Hội đồng quản lý trông nom việc thờ cúng tại các công trình tín ngưỡng thuộc địa phương mình và lập danh sách các thủ từ trình lên Đốc lý. Do vậy mà ngày 23-8-1930, Đốc lý Hà Nội đã ký một loạt những Quyết định thành lập các Hội đồng quản lý các chùa Bà Đá, Tả Khánh, Bảo Khánh, Đông Hương, Khánh Thuỵ và đền Thuận Mỹ.

Không dừng lại ở đó, đến năm 1934, Hội đồng Thành phố đã với tay tới các công trình tín ngưỡng thuộc sở hữu tư nhân bằng Quyết định triệu tập một Ban gồm 13 thành viên dưới sự chủ toạ của Đốc lý họp và lập một danh sách những công trình chưa xếp hạng. Theo đó, chính quyền Thành phố qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo cho các chủ sở hữu về thời gian tình lên Hội đồng Thành phố những giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của mình nếu không Thành phố sẽ sung công vào mục đích công của Thành phố nhằm ngăn chặn sự lạm dụng tôn giáo và đưa việc quản lý đình, chùa vào trật tự”[8]. Hầu hết các công trình thuộc sở hữu tư nhân bị sung công thời gian này.

Từ năm 1937 trở về sau, được phép của Toàn quyền Đông Dương, Thống sứ Bắc Kỳ và tư vấn của Trường Viễn Đông Bác cổ, Đốc lý ra những quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng của một số công trình tín ngưỡng của Hà Nội do yêu cầu quy hoạch Thành phố hoặc do yêu cầu mở rộng hay chỉnh lại hương các đường phố.

Rõ ràng, sau một thời kỳ đối xử không văn hoá đối với các loại di sản văn hoá của người Việt chúng ta, bắt đầu từ Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume, đã làm được nhiều việc để bảo tồn và lưu giữ lâu dài các di sản văn hoá của chúng ta. Đó là điều ta cần phải trân trọng.

Hình thành một lối sống thị dân

Trước khi người Pháp chính thức hiện diện trên mảnh đất văn hiến này vào tháng 10-1875, Hà Nội đã trải qua những cuộc bể dâu ghê gớm: từ vị trí Kinh đô Thăng Long của nước Đại Việt trong suốt 800 năm, đến triều Nguyễn bị hạ xuống tỉnh thành, rồi Trấn thành, Hà Nội đang đứng trước ngưỡng cửa “nông thôn hoá”. Người Pháp tới trong chừng mực nào đó đã chặn đứng được làn sóng suy thoái của Hà Nội bằng quyết tâm biến nơi đây thành Thủ phủ của Liên Bang Đông Dương. Hà Nội được sống lại với một diện mạo mới, một kích cỡ mới. Bên cạnh giữ lại một phần thành Vô băng dưới thời Nguyễn và 36 phố phường xưa, người Pháp đã tạo ra một Hà Nội hiện đại hoá theo kiểu đô thị phương Tây. Hà Nội được mở rộng ra trên bốn hướng, dân cư đông đúc hơn. Cho đến năm 1928, Hà Nội là nơi cư trú của 126.137 người, gồm nhiều cộng đồng người khác nhau, đông nhất là người Việt, 118.327 người; rồi đến cộng đồng người Hoa, 4.428 người; người Pháp, 3.120 người; người Nhật, 19 người và các ngoại kiều khác. Những người cư trú trong Thành phố, bất chấp nguồn gốc giai cấp, dân tộc, đều được gọi là thị dân. Họ sống bên nhau, cho nên trong quá trình chung sống, đồng thời bảo lưu những truyền thống văn hoá mà họ mang theo trong hành trang của mình, họ đã tiếp nhận những giá trị văn hoá của các dân tộc khác sống bên cạnh họ. Có lẽ, vì đã được trải nghiệm tại chỗ văn minh các dân tộc khác mà các cụ nhà ta đã rút ra một kết luận thú vị trên phương diện văn hoá: “Ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật, ở nhà Tây”.

Từ khi người Pháp xây Lãnh sự quán trên đất Hà thành cho đến khi người Pháp rời bỏ mảnh đất này bởi cuộc đảo chính của phát xít Nhật có độ dài trọn 70 năm. Mấy mươi vạn người Hà Nội đã đắp nổi gần 4 thế hệ, nếu chúng ta tính một thế hệ là 20 năm. Người Hà Nội trải qua 4 thế hệ đó đã tạo ra một lối sống mới, tôi gọi là lối sống thị dân, khác xa với lối sống nông dân. Lối sống thị dân được biểu hiện rõ qua cái ăn, cái mặc, nơi ở, các phương tiện đi lại và nếp ứng xử. Chẳng hạn, người thành thị thích ăn nhạt khổng phải họ nhiều tiền, mà là do chợ ở đây họp suốt ngày, gần nơi ở, thậm chí hàng đưa đến tận nhà. Hoặc người thành thị mong có được một căn hộ khép kín… Ta có thể kể nhiều nữa về lối sống khác nhau của cư dân ở hai loại hình cư trú nông thôn và thành thị. Một hình ảnh thường thấy ở Hà Nội hoặc ở bất kỳ một thành phố lớn nào khác là người Hà Nội, sau bữa sáng, thường ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng và lật xem những trang báo mới ra, tìm những thông tin cần thiết cho công việc của mình.

Tóm lại, thị dân chính là cơ sở vật chất để tiếp nhận văn minh phương Tây từ bên ngoài tràn tới và như vậy mới có khả năng tiến kịp cùng nhân loại. Vì vậy, trong cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng ta trước đay thường nêu ra một khẩu hiệu phấn đấu “đưa nông thôn đuổi kịp thành thị”, là nhằm thực hiện tiêu chí đó.

Trong toàn bộ di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội nghìn năm có một phần di sản văn hoá người Pháp để lại cho chúng ta. Dĩ nhiên, những thứ mà họ để lại nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ. Cái tư tưởng chủ đạo của họ là biến Hà Nội thành điểm đến hấp dẫn để gọi vốn đầu tư của tư bản Pháp và “trói chân” họ lâu dài trên mảnh đất này. Dẫu sao, trong quá trình tước đoạt, người Pháp để lại những dấu ấn văn hoá quý giá và chúng ta cần phải trân trọng lưu giữ nó, bởi đó, suy cho cùng, là một bộ phận hợp thành trong di sản văn hoá của nhân loại.

_________
[1] André Masson. Hanoi pendant la période héroique, tr. 316.
[2] André Masson, sđd, tr. 85.
[3] Fonds de la Résidence supérieuce du Tonkin (viết tắt là RST). Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Hồ sơ 78647.
[4] RST. Hồ sơ 7861.
[5] Jean-Pierre Aumiphin. Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939). Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản 1994, tr. 134.
[6] Journal officiel de l’Indochine francaise (JOIF), Tạp chí Công báo Đông Dương thuộc Pháp 1920, số 97, tr. 2255.
[7] RTS. Hồ sơ 57777.
[8] Fonds de la Mairie de Hanoi avant 1945 (MHN). Phông Toà Đốc lý Hà Nội trước năm 1945.

(Nguồn: Văn hóa Nghệ An)



HAI BỨC TÂM THƯ GỬI GẮM SỰ NGHIỆP CHO HỒ CHÍ MINH

Hữu Ngọc

Năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Harmand công nhận sự đô hộ của Pháp. Nhưng phong trào Cần Vương chống Pháp kéo dài từ 1885 – 1896. Sau đó, các nhà nho nhận thầy sự phá sản của Khổng học chính thống, tách ra theo hai khuynh hướng: một bên chấp nhận sụ cộng tác với Pháp để bảo tồn vương quyền và sinh sống trong một xã hội văn minh văn hoá Phương Tây, một bên tiếp tục đấu tranh cho độc lập bằng cách canh tân Khổng học, tiếp thu các tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đặc biệt của các triết gia Ánh sáng Pháp (thế kỷ 18) qua các bản dịch Trung Quốc (Tân thư).

Vào nửa đầu thế kỷ 20, trong phong trào Giải phóng dân tộc Việt Nam, nổi lên ba gương mặt sĩ phu cách mạng (sĩ phu với nghĩa: những người có học thức trong một nước (Đào Duy Anh) trường hợp này có nghĩa là trí thức nho học). Đó là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Nguyễn Ái Quốc.

Phan Bội Châu (1867 – 1940), hơn Nguyễn Ái Quốc (1890) 23 tuổi, là bạn của cụ Phó bảng Sắc (thân phụ Nguyễn Ái Quốc), thường đến chơi nhà uống rượu ngâm thơ trước khi xuất dương.

Phan Chu Trinh (1872 – 1926), hơn Nguyễn Ái Quốc 18 tuổi, đã dẫn dắt Nguyễn Ái Quốc khi hoạt động bước đầu ở Pháp.

Giải nguyên Phan Bội Châu và Phó bảng Phan Chu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc, những chí sĩ “cây đa cây đề” được quốc dân kính nể. Đọc hai bức thư hai cụ viết cho Nguyễn Ái Quốc mới ngoài 30 tuổi thì thấy quả thật hai cụ hết lòng yêu nước, đạo đức khiêm tốn, lại có con mắt tinh đời. Trong thời kỳ đen tối nhất của Cách mạng, hai cụ đã gửi gắm sự nghiệp giải phóng đất nước cho một Nguyễn Ài Quốc chỉ đáng tuổi con em, không có bằng cấp gì, đang gian lao hoạt động bí mật ở nước ngoài. Hai chục năm trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Hai cụ đã thấy ở Nguyễn Ái Quốc một cây đương lộc, nghị lực có thừa, “một tài năng…lo cho đại sự”, một “tiểu anh hùng”. Việc tin cậy ký thác này là một tấm gương cho thế hệ sau về việc cầu hiền, phát hiện nhân tài, trân trọng lớp trẻ như hai Cụ. Có lẽ về mặt này, khi thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn vẫn nhớ và thực thi bài học đó.

Năm 1925, Phan Bội Châu 58 tuổi, từ Hàng Châu gửi một bức thư cho Lý Thuỵ (Nguyễn Ái Quốc) 35 tuổi. Thư viết bằng chữ Hán do giáo sư Vĩnh Sinh thấy ở Văn Khố hải ngoại tại Pháp và dịch sang tiếng Việt. Thư viết :Thư viết: ”Người cháu rất kính yêu của bác, hôm trước anh Lâm Đức Thụ và anh Hồ Tùng Mậu gửi lá thư của cháu, trong thư có nói tường tận chuyện ông Hy Mã Phan Châu Trinh. Trong thư dựa trực tiếp trên chuyện thật nhưng ngụ ý sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên ý tưởng lớn, nhân đó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, quả thật không phải như 20 năm về trước. Nhớ lại 20 năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án, ngâm thơ, anh em cháu thảy đều chưa thành niên. Lúc ra đi, Phan Bội Châu đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như ngày nay! Bậy giờ so với cháu thì kẻ già này rất xấu hổ. Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho bản thân Bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối đã xuất hiện ánh sáng ban mai.” Cụ Phan đặt hết lòng tin vào ông Nguyễn: “Việc gầy dựng giang sơn, ngoài cháu, có ai để nhờ uỷ thác gánh trách nhiệm thay mình…?” Cụ mong gặp Nguyễn ở Quảng Đông nhưng không được.

Năm 1922, tức là ba năm trước bức thư của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh 50 tuổi, từ Marseile viết một bức thư dài gấp bốn lần cho Nguyễn Ái Quốc (32 tuổi). cụ cũng đánh giá cao ông Nguyễn: “Bởi phương pháp bất hoà mà anh đã nói với anh Phan (Bội Châu) là tôi là hạng người hủ nho thủ cựu, cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận anh tý nào cả, bởi vì suy ra tôi thấy rằng: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này, cái đó tôi thua anh xa lắm, đứng nói gì đọ với anh Phan (Bội Châu). Tôi tự ví tôi ngày này như con ngựa đã hết nước kiệu, giờ pha nước tế, tôi nói thế chẳng hề đem ví anh lả kẻ tử mã lục thạch, mà tôi còn phục anh nữa là khác. Tôi thực tình có sao nói vậy, không ton hót anh tí nào!...Tôi phải viết cái thơ này cho anh là tôi có cái hy vọng anh nghe theo tôi, mà lo cái đại sự.”

Trong thư, Phan Chu Trinh phê phán sách lược của Phan Bội Châu, cho là dựa vào Nhật với ảo tưởng “đồng văn” để võ trang đánh Pháp là mơ hồ, có thành công cũng chỉ là thay chủ. Cụ phê phán sách lược Nguyễn Ái Quốc là thiếu thực tế, ở nước ngoài, tuyên truyền vận động trong nước, kêu gọi người tài, đợi thời cơ về nước, là “công dã trang”. Cụ khuyên ông Nguyễn nên về nước ngay mà theo sách lược của cụ: mở mang trí tuệ người dân, tăng khí phách dân, nâng cao đời sống dân, sau đó hợp lực đạp đổ cường quyền, dùng phương pháp “khẩu thuyết vô bằng” (nói miệng mà tuyên truyền không có gì làm bằng chứng để buộc tội).

Nguyễn Ái Quốc rất tôn trọng khí phách Phan Chu Trinh, nhưng không theo lời khuyên trong bức thư năm 1922. Ông đã theo một sách lược hiệu quả hơn, vì nó phù hợp với thời hiện đại: Gắn độc lập dân tộc vào phong trào quốc tế, kết hợp tư tưởng hai cụ Phan: Phan Bội Châu chủ trượng đấu tranh bạo lực cách mạng, nhấn mạnh phản đế, Phan Chu Trinh thì chủ trương đấu tranh hoà bình bằng nâng cao dân trí, nhấn mạnh phản phong.

Nguyễn Ái Quốc kiên trì thực hiện đường lối của mình và đợi thời cơ. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước. Tiếc thay hai cụ Phan không thấy được “chàng thanh niên” ngày nào đã kết hợp thành công chủ trương của hai Cụ để có ngày 02.9.1945 vẻ vang của dân tộc.

Hữu Ngọc 2006. Hai bức tâm thư gửi gắm sự nghiệp cho Hồ Chí Minh. Trong sách: Lãng du trong văn hóa Việt Nam. NXB Thanh Niên, Hà Nội, trang 347-350

Trở về trang chính
Hoàng Kim
DẠY VÀ HỌC
Đăng nhận xét