Chủ Nhật, ngày 13 tháng 3 năm 2011

Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa


DẠY VÀ HỌC. Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Tuổi thơ đọc Kiều, tôi thích nhất hai câu: "Cỏ non xanh rợn chân trời./Cành lê trắng điểm một vài bông hoa". Lớn lên, lời thơ ám ảnh là mối tình của Thuý Kiều và Từ Hải "Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng". Sau này khi qua trãi nghiệm, tôi tâm đắc nhất  với hai câu kết: "Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Thơ Nguyễn Du lung linh, huyền ảo (1), đã có biết bao lời bình suốt từ xưa đến nay. Gần đây, thêm những lời bình rất hay của Nguyễn Thế Quang (Nguyễn Du, Tiểu thuyết lịch sử, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Công ty TNHH Sách Phương Nam phát hành năm 2010, 416 trang) để càng thông tỏ hơn sự hiền tài của nhà văn hoá lớn. Bài viết dưới đây của nhà giáo Nguyễn Đình Chú " Nhà văn Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất" càng làm sáng thêm Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa.

Hoàng Kim

xem tiếp....

NHÀ VĂN ĐẶNG THAI MAI
 CHỌN CÂU “KIỀU” HAY NHẤT

Nguyễn Đình Chú


Hè 1958, vì là trợ lý của giáo sư Đặng Thai Mai tại Khoa Văn chung của hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng “ông cụ” đi nghỉ mát ở Sầm Sơn (Thanh Hóa). Trong thời gian sống cạnh Thầy, qua những chuyện đàm đạo tôi học được nhiều điều bổ ích, quý báu. Hôm đó, trong không khí thầy trò thân mật như cha con, tôi hỏi thầy:
-         Dạ! theo thầy, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu thơ nào hay nhất? Ông cụ nhếch mép cười – vẫn cái cười hóm nhẹ, đôn hậu, thâm thúy rất Đặng Thai Mai – trả lời ngay:
-         Câu ấy, chứ còn câu nào.
-         Dạ câu nào ạ?
-         Câu Nguyễn Du tả cơ thể Thúy Kiều:
                                                              Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Tôi hỏi: Dạ! đây là thầy nói với em giữa bãi biển Sầm Sơn lộng gió ban chiều, chứ về giảng đường đại học, thầy có nói như vậy không ạ, với mọi người sinh viên? Thầy tôi đã nghiêm mặt lại, nói với một giọng cương quyết có pha chút gay gắt: sao lại không? Tôi hơi sợ và không dám thả giọng bông lơn gì thêm. Câu chuyện đó xảy ra cách đây 34 năm. Và sau đó, trong quan hệ thầy trò đã bao phen gần gũi, cho đến ngày thầy qua đời, tôi cũng không bao giờ trở lại trò chuyện với thầy về hai câu thơ Kiều hay nhất này nữa. Nhưng trong lòng thì vẫn vương vấn, vẫn nhiều lần suy nghĩ về cách chọn của người thầy, nhà văn, vị học giả- mà trí thức Việt Nam, dù theo chính kiến nào cũng kính nể này.
Hẳn là từ lâu, đến với Truyện Kiều, người Việt Nam vẫn có thú chơi, thi nhau chọn và giải thích câu Kiều nào hay nhất (chứ không phải hay duy nhất). Và dĩ nhiên là đã có nhiều cách chọn. Không ít người đã chọn 2 câu:
Dưới câu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Hai câu thơ này hay là ở giá trị tâm lý đi đôi với giá trị tạo cảnh và tạo hình là để tạo tình. Nguyễn Du viết hai câu thơ này là nhằm gói lại cái chuyện Kim Kiều vừa gặp nhau buổi đầu đã chớm nở một mối tình trong sáng tuyệt trần. Có điều, đây đang là “tình trong”, chưa phải “tình ngoài”: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” đó mà nói ra là Kim Kiều đã yêu nhau thì quả là tồ, chẳng tế nhị gì. Nguyễn Du thiên tài – mà ở ông, trước hết là có một khả năng vào bậc thánh trong việc nhận thức và phản ánh tâm lý con người trong sáng tạo nghệ thuật, sẽ không bao giờ, dù là một lần, sa vào sự thô thiển đó. Ông đã gói chuyện lại bằng hai câu thơ tả cảnh mà riêng hình thức tả cảnh này đã là một sự thích ứng không thể nào hơn với trạng thái “tình trong” kia. Nguyễn Du đã lấy cái kín, để nói cái kín, nhưng đâu phải kín bưng, kín mít để không ai hiểu ra chuyện gì trong đó nữa? Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, kín mà vẫn hở. Thế mới thành chuyện. Trong hai câu thơ tả cảnh này, cái độ “trong veo” của giòng “nước chảy” dưới cầu kia là gì? Những cành liễu bên cầu có lá dài, mềm như tơ rủ xuống, bóng liễu ban chiều ngả dài hòa quyện với giòng nước “trong veo” xuôi chảy, chập chờn “thướt tha” và không đứt kia là gì? Từ đâu ra ? Nếu không phải là từ cái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” trong sáng tuyệt trần đó.
Nói hai câu Kiều này là hay nhất, rất đúng. Nhưng không ít người còn chọn hai câu  này:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Hai câu thơ thật là đơn giản. Tưởng như ai cũng làm được.Ấy nhưng hoàn toàn không. Phụ nữ, đàn bà Việt Nam khổ, tự đời nảo đời nào, nhưng văn chương Việt Nam trước Nguyễn Du đã nói gi được nỗi “đau đớn” đó? – Có. Văn học dân gian đã nói nhiều, nhưng thiếu độ khái quát. Riêng văn học viết, văn học bác học thì đến trước thời  Nguyễn Du một ít và cùng thời Nguyễn Du mới cất tiếng được, nhưng cũng chưa ai nói đến độ là quy luật là “lời chung” , là cái “phận” đàn bà “đau đớn thay” này. Mà Nguyễn Du đâu chỉ nói về cái “bạc mệnh” của cái phận đàn bà Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Mộng Liên Đường chẳng đã nhận xét rất đúng: Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời” đó sao. Trên trái đất này, ở đâu và lúc nào, với quá khứ đã đành, còn với hiện tại và tương lai, chả lẽ tiếng kêu xé lòng của Nguyễn Du trong hai câu thơ này đã thôi không cần thiết? Nói hai câu Kiều này là hay nhất, cũng rất đúng.
Nhưng hãy trở lại với hai câu Kiều mà học giả Đặng Thai Mai đã chọn. Phải nói ngay, đây là một hình tượng khỏa thân không có trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm tài nhân – Trung Quốc và là độc nhất vô nhị trong lịch sử văn chương Trung đại Việt Nam. Đến hôm nay, dù văn chương Việt Nam đã bắt đầu không né tránh cái thứ của “cấm” ấy nữa nhưng tôi vẫn có thể tin chắc mà nói rằng: chưa một ái xứng đáng là học trò của Nguyễn Du trong chuyện này. Con người trong đó bao gồm hai giống đực và cái, là một thực thể tự nhiên trước khi là một thực thể xã hội và vẫn là thực thể tự nhiên trong khi đã trở thành thực thể xã hội. Trong muôn vàn thực thể tự nhiên, con người là thực thể đẹp nhất, vô song. Đó là chân lý tuyệt đối. Nhưng nhân loại không phải ở đâu lúc nào cũng dễ phát hiện được chân lý đó, kể cả hôm nay. Không tính đến tín ngưỡng thờ Linga, thờ sinh thực khí có mặt từ thời cổ tại một số nước, thì có thể nói là phương Tây đặc biệt là thời đại Phục hưng, đã đi trước nhân loại trong việc phát hiện, nhận thức chân lý này. Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây, từ chỗ thoát ra khỏi tư tưởng thần quyền của thời trung cổ cho rằng chúa sáng tạo ra muôn loài (trong đó có loài người) đã đi đến ý tưởng cao đẹp: Con người trước hết là con người tự nhiên, con người chưa cần mặc quần áo-là trung tâm của vũ trụ. Một hệ thống quan điểm triết học mang tính nhân văn cao đẹp đã được hình thành, phát triển từ ý tưởng cốt lõi đó. Một thời đại văn minh huy hoàng thông qua vai trò sáng tạo của nhiều thiên tài “khổng lồ”của thời đại Phục hưng trên các lĩnh vực văn hóa, khoa học, nghệ thuật…là sản phẩm thực tiễn của nền triết học nhân văn vĩ đại đó. Nói riêng , trong nghệ thuật (đặc biệt là điêu khắc, hội họa), nghệ thuật khỏa thân phát triển và đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất có giá trị vĩnh hằng đối với nhân loại, cũng là nhờ có sự phát hiện chân lý trên về con người tự nhiên. Cũng cần nói thêm, ở đây không chỉ có sự cao cả, sự thăng hoa, mà còn có sự đê hèn, thú vật. Tất nhiên, đã là đê hèn, thú vật thì chẳng còn gì là nghệ thuật mặc dù vẫn có từ nghệ thuật kiêu dâm, đáng phỉ nhổ.
Ở Việt Nam ta, trong suốt thời trung đại, với hoàn cảnh chế độ phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, với sự chi phối nặng nề của đạo Nho, kể cả đạo Phật, con người tự nhiên (cũng như con người cá thể: L’ individu), theo quan niệm nhân văn cao đẹp như trên, có thể nói là chưa được phát hiện. Ít ra, trong phạm vi văn học là như vậy. Dù đã có một truyện cổ tích Chử Đồng Tử trong đó có cuộc gặp gỡ kỳ thú của hai con người tự nhiên, một đực một cái, Chử Đồng Tử và Tiên Dung mà thực ra chưa được hình tượng hóa. Dù đã có một bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, thật là táo bạo nhưng vẫn dừng lại ở mức độ hớ hênh, vô ý, vừa đủ khêu gợi sự thèm thuồng của các bậc “quân tử” đạo đức giả mà thôi. Tất cả, có lẽ chỉ có thế. Cho nên mới nói Nguyễn Du là người tạo ra bức tranh khỏa thân phụ nữ độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học thời trung đại ở Việt Nam. Nhưng điều quan trọng đáng nói hơn là Nguyễn Du đã vẽ lên hình tượng khỏa thân đó với tất cả sự trong sáng tuyệt vời mà quan niệm nhân văn cao cả, đòi hỏi. Nhìn vào thủ pháp văn chương của Nguyễn Du sẽ thấy rõ điều đó.  Nếu với hai câu “Dưới cầu nước chảy trong veo; Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”, Nguyễn Du đã dùng thủ pháp kín nhưng hở , thì ở hai câu thơ vẽ tranh khỏa thân nàng Kiều này ông làm ngược lại, hở nhưng kín. Ông nói “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà; Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”, nghĩa là cơ thể nàng đẹp tuyệt trần, đẹp đến mê người như thế nhưng nào nó là cái gì cụ thể đố ai biết. Nguyễn Du nói “rõ ràng” mà chẳng rõ ràng gì. Hai chữ “rõ ràng” của Nguyễn Du cứ như là một sự đánh lừa người đọc, nhưng là sự đánh lừa hóm hỉnh, dễ thương, mà xét cho cùng chính là chuyện ông tự giữ cho mình mà cũng là giữ cho người đọc, ở sự trong sáng của tâm hồn. Khi đến với bức tượng khỏa thân này, người đọc cứ tha hồ mà tưởng tượng, tự hình dung, tự chiêm ngưỡng. Thế là đủ. Không nên khác nữa. Và đến đây thì có thể nói thêm thế này được chăng? Tung ra một bức tượng khỏa thân của Thúy Kiều như trên vừa nói, quả là Nguyễn Du như ném một trái bom nguyên tử vào thành trì ý thức hệ phong kiến vốn là kiên cố trong lịch sử Việt Nam thời trung đại (mà đâu chỉ Việt Nam). Nếu đúng vậy thì cách chọn hai câu Kiều của sư phụ tôi: nhà văn-học giả Đặng Thai Mai, không chỉ là đúng mà còn là cao siêu. Xin được nhắc lại: đây là chuyện đã xảy ra vào mùa hè 1958, cách đây 34 năm mà mọi người biết, bấy giờ trên sách báo Mác xít, trong các giảng đường đại học tại Hà Nội, cũng như ngoài xã hội, người ta quan niệm như thế nào về cái thứ “của cấm” này. Tôi chỉ tiếc là hôm nay sư phụ (thầy cũng như cha) của tôi đã không còn nữa ở thế giới này để lại chỉ bảo, chấm bài viết này cho tôi như thuở nào, vẫn chấm bài, vẫn chỉ bảo lúc tôi là học trò, là trợ lý của thầy. Tôi xin bù lại sự mất mát đó bằng cách nhờ bạn đọc xét, thẩm định cho vây./.

Cuối thu 1992 
Nguồn: viet-studies 1-3- 2011

xem  (1)

Nguyễn Du: Nhà thơ yêu nước

Hơn hai trăm năm trôi qua, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu nổi tiếng trong và ngoài nước đã từng khẳng định và ngợi ca không tiếc lời trước thiên tài sáng tạo của đại thi hào Nguyễn Du...

Ngày nay, chẳng dễ dàng nếu muốn nói thêm được một điều gì đó mới mẻ xung quanh sáng tác của nhà thơ.
Rõ ràng là nếu như Truyện Kiều được hết lòng ngưỡng mộ và có sức sống trong lòng nhân dân đã bao năm tháng, thì phần thơ chữ Hán - phần phản ánh khá đầy đủ tâm hồn Nguyễn Du một cách sâu sắc mà chúng tôi đề cập dưới đây chỉ là một phương diện trong muôn màu tâm trạng của nhà thơ.
Bài này, người viết không đi sâu vào thế giới quan của thi hào, mà chỉ muốn nghiên cứu một chủ đề quan trọng trong sự nghiệp đồ sộ của ông. Đó là tâm trạng yêu nước và ý thức dân tộc trong thơ chữ Hán qua các tác phẩm cụ thể: “Thanh hiên thi tập”: 78 bài; “Nam trung tạp ngâm”: 40 bài; “Bắc hành tạp lục”: 131 bài (Tư liệu: dựa theo cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Hà Nội, 1965. Để nắm được ý chính của nguyên tác, người viết và trích nguyên văn bản dịch nghĩa).

Có thể nói đây là ba tập nhật ký liền mạch kéo dài khá đầy đủ gần 30 năm, kể từ “mười năm gió bụi” (Đề mục lớn trong Thanh hiên thi tập - xem Lời giới thiệu của giáo sư Trương Chính) (1786 đến 1795), rồi tiếp tục viết đến lúc giã từ cõi đời vào năm 1820. Nếu xem kỹ, ngày nay bạn đọc có thể hiểu được hoàn chỉnh con người và cuộc sống của Nguyễn Du về thế giới quan cũng như quan điểm thẩm mỹ. Dưới ngòi bút của tác giả, tuy là cảm xúc tức thời, song đối tượng phản ánh thật phong phú, sinh động, muôn hình muôn vẻ.
Đặc điểm nổi bật đầu tiên là về mặt đối tượng sáng tác. Nhà thơ không viết theo khuôn mẫu đề tài định sẵn, mà dòng cảm xúc tuôn trào đến đâu thì phóng bút đến đấy. Vui buồn, yêu thương, căm giận, ưu tư, ham muốn... tức thời đan xen. Suy nghĩ của nhà thơ không phải thể hiện theo những công thức giáo điều đương thời. Ông cũng chẳng hề viết theo đơn đặt hàng, càng không lệ thuộc vào các cuộc thi thố văn chương định kỳ có thưởng như ngày nay. Nếu như hồi thế kỷ XVIII - XIX, phần nhiều nhà thơ, nhà văn ở ta, tuy chưa bao giờ đặt chân lên đất Trung Hoa, nhưng thường vẫn nghiêng về ngâm vịnh sơn thuỷ, phong hoa, tuyết nguyệt theo kiểu nước người với bút pháp ước lệ, tượng trưng... thì ở Nguyễn Du lại có nét bút khác biết là chẳng phụ thuộc vào các mô hình truyền thống, mà chỉ ghi chép hiện thực tâm trạng bằng thơ những gì được nảy sinh từ đáy lòng mình qua từng bước nếm trải cuộc sống đời thường. Đó là nhật ký bằng chữ Hán.
Thật sẽ không sợ quá lời rằng, Nguyễn Du là một bậc “thánh thi”. Dường như mỗi bước đi, mỗi góc nhìn là có thể cầm bút viết nên một bài thơ tứ tuyệt, hoặc một bài thất ngôn đầy cảm xúc như lời đối thoại tâm tình với chính mình hoặc với thế giới bên ngoài, lúc bằng chữ Hán, lúc bằng chữ Nôm trước vô vàn chuyện cảnh, chuyện người trong biến đổi linh hoạt giữa dòng đời cuộn chảy.
Với một khối lượng kiến thức uyên bác, mênh mông, đầy nhạy cảm, qua các nhân vật văn hoá, lịch sử... của Việt Nam lẫn Trung Hoa, nhà thơ muốn gửi gắm tâm tư, nguyện vọng của mình về thời cuộc trên các nẻo đường đã trải qua. Đây cũng là một phong cách quen thuộc của không ít nhà nho xưa kia ở nước ta thường lấy điển tích trong sách vở tận bên Tàu để làm dẫn chứng sáng tỏ cho mọi vấn đề.
Cùng với chủ nghĩa nhân đạo, Nguyễn Du còn bộc lộ rõ tâm trạng yêu nước qua các bài thơ chữ Hán. Cụ thể là chùm thơ viết liền mạch 4 bài trong “Bắc hành tạp lục” được viết vào năm 1813 trên đường đi sứ: “Trấn nam quan”; “Quỷ môn quan”; “Giáp Thành Mã Phục Ba miếu” (Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành); “Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu” (Đề miếu Mã Phục Ba ở Đại Than). Đã từ lâu, chùm thơ này, chưa một lần được chú ý đến trong hệ thống sáng tác của thi hào. Trước hết, hãy đọc bài “Trấn nam quan”:
Việc cũ đời Lý Trần xa xôi khó tìm biết,
Trải qua ba trăm năm cho đến nay.
Bức thành lẻ loi này phân chia hai nước,
Một cửa ải hùng vĩ đứng trần giữa lòng muôn ngọn núi.
(Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm)
Ở nơi hẻo lánh thường vì nghe lời đồn đại mà hiểu lầm,
Gần trời mới biết mưa móc thấm sâu.
Quay đầu trông về cửa khuyết ở ngoài tầm mây biếc,
Bên tai còn vẳng tiếng nhạc quân thiều”. 

(Phạm Khắc Khoan và Ngô Ngọc Can dịch)

Trần nam quan” được nhà thơ khắc họa như lời khẳng định thêm một lần nữa biên cương của Tổ quốc từng được thiết lập bao đời giữa lưỡng quốc và hùng trấn một phương giữa điệp trùng núi non phân cách. Quả thật “nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm” là một bức tranh ngời sáng, hùng vĩ, đầy nét tạo hình cho người đọc nhớ đến âm thanh hào sảng từ bài thơ thần thời Lý Thường Kiệt (1076) hơn 700 năm về trước:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...”.

Và như đâu đây vẫn còn vang lên âm điệu mạnh mẽ của bản tuyên ngôn độc lập dân tộc “Đại cáo bình ngô” sau chiến thắng quân Minh: “Như nước Đại Việt ta từ trước. Vốn xưng văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương...”.

Không phải tình cờ mà bài “Trấn nam quan” xuất hiện cùng thời gian với bài “Quỷ môn quan”. Có thể làm một sự so sánh với chùm thơ được viết trước đây trong hành trình thứ nhất đến Lạng Sơn nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long vào năm 1830 - tác giả đã sáng tác bài “Quỷ môn quan đạo trung” cùng 4 bài khác: “Lạng Sơn đạo trung”, “Vọng phu thạc”, “Đệ nhị Thanh động”, “Xuân tiêu lữ thứ”.
Quả là chùm thơ năm bài trên được xếp trong tập “Nam trung tạp ngâm” chỉ dừng lại ở cảm xúc trữ tình cá nhân trước thiên nhiên đầy ấn tượng chốn biên thuỳ hai nước Việt Trung, giống như các cảm xúc thường gặp mỗi khi nhà thơ đứng trước phong thuỷ hữu tình, mây trời tươi đẹp, nhất là trên quê hương Hồng Lĩnh, Lam Giang và dãy Hoành Sơn trùng điệp. Hơn nữa, tuy là đi sứ lần đầu, nhưng ở thời kỳ này tâm trạng nhà thơ đang buồn chán đến “nước mắt thấm khăn” trước nỗi đời đa đoan cũng như sự nghiệp chung ngổn ngang gò đống. Bây giờ, đúng lúc ông mới “lơ láo” (Lơ láo: tiếng Nghệ gần nghĩa ngơ ngác qua câu Kiều: “Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”) vào trốn quan trường của triều đình Gia Long vừa bước đầu xây dựng, và có lẽ, lòng dạ cũng trăm mối, nên ông chưa thể hòa nhập được với niềm vui thời cuộc mà chỉ muốn về quê (Trong bài “Lạng Sơn đạo trung” được viết ở thời kỳ tiếp sứ giả nhà Thanh (1803) có câu: “Mộng trung tùng cúc ức quy dư” (Trong mộng thấy tùng cúc lại nhớ đến chuyện muốn về). Nỗi bâng khuâng giữa dòng đời được bộc lộ rõ trong bài “Xuân tiêu lữ thứ” (Đêm xuân lữ thứ):
“... Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không nghĩ đến chuyện rong ruổi,
Trên đường danh lợi, buồn hay vui cũng không được tự nhiên.
Người thì tiều tuỵ, nhưng xuân vẫn đẹp,
Đứng dưới Đoàn thành (6), nước mắt thấm khăn”.
(Đoàn thành: tên khắc của thành Lạng Sơn thời bấy giờ).
Khác hẳn bài “Quỷ môn đạo trung” viết mười năm về trước, trong chuyến đi sứ lần thứ hai, hình ảnh Quỷ môn quan lại hiện ra dưới tầm mắt nhà thơ - sứ giả một điểm nhìn mới với một sự tự ý thức đậm nét về “phương diện quốc gia” trong vai trò đại diện Việt Nam. Thật không phải ngẫu nhiên, tác giả lại tưởng nhớ về chuyện xưa với cảm xúc sử thi. Đúng là vị tướng quân nhà Hán từ năm 40 đã đánh chiếm đất Giao Chỉ, đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, mà mỗi người dân nước ta đều không thể nào quên câu ca về thuở ấy:
Uy danh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công...”
và tất nhiên Hán tướng quân phải đi qua cửa ải Quỷ môn.
Bởi thế nên khi tới cửa ải hiểm trở này, Nguyễn Du đã gọi đích danh Mã Viện để bình phẩm về viên tướng xâm lược, đồng thời chính trên mảnh đất lịch sử này, ý thức tự cường dân tộc của nhà thơ được thể hiện rành rành qua hai câu thơ đầu:
Núi liên tiếp cao vút tận mây xanh,
Nam - Bắc chia ranh giới nơi này”.
Đây là lời khẳng định lại lần nữa biên cương Tổ quốc có tự bao đời. Tiếp đến hai câu thực, tác giả xoáy sâu vào tấm bi kịch lịch sử mà chính tướng Phục Ba đã gây nên trong cuộc chiến tàn bạo đẫm máu:
Chốn này có tiếng nguy hiểm như thế,
Thương thay biết bao người vẫn phải đi về!”
Nguyên văn chữ Hán:
Khả liên vô số khứ lai nhân”
Nhà thơ không ngần ngại nhắc lại ý câu thơ cổ “khứ lai nhân” nói lên tình trạng nguy hiểm chết chóc đối với binh lính và dân binh phương Bắc thời xưa phải tham dự các cuộc chiến tranh xâm lược nước Việt. Câu thơ cổ như một lời nguyền vang vọng đầy cảnh báo:
Quỷ môn quan! Quỷ môn quan!
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”
(Mười người đi, một người về!) để rồi từ đó rút ra lời đánh giá sắc bén:
Từ xưa gió lạnh thổi đầy sương trắng,
Kỳ công tướng quân nhà Hán có gì đáng khen !”
(Kỳ công hà thủ Hán tướng quân)

Mã Phục tức Mã Viện, thời Đông Hán được phong Phục Ba tướng quân, lúc đã ngoài 60 tuổi ông vẫn muốn ra trận lập công; nhà vua thương Mã tuổi già không muốn cho đi. Ông bèn mặc áo giáp nhảy lên ngựa để chứng tỏ mình còn khoẻ. Tương truyền, khi tiến sang Giao Chỉ, Mã Viện còn dựng cột đồng ở tỉnh Quảng Tây làm biên giới đất Hán - Việt.

Đúng là Hán tướng quân đem binh mã rầm rộ sang đánh Giao Chỉ. Tuy thắng trận, nhưng quân lính chết rất nhiều, thật không phải chiến công đáng ca ngợi! Câu nói của người Trung Hoa xưa rất phù hợp: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!”. Bản dịch đã diễn thành thơ khá đạt:
Ngàn thu gió lạnh phơi sương trắng,
Công cán khen gì tướng Hán hay!

Cũng chẳng khác nào tiếng cưới đả kích của nữ sĩ Hồ Xuân Hương cùng thời, khi “ghé mắt trông sang...” đền thờ Sầm Nghi Đống, rồi bỗng hài hước hỏi gã tướng ấy rằng:
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!?”
Mở rộng hơn, sau khi đặt chân lên đất Trung Hoa, nhà thơ - sứ giả lại tiếp tục khắc họa tướng Phục Ba lúc đi qua miếu thờ của ông ta bằng hai bài đầy góc cạnh. Bài thứ ba “Giáp Thành Mã Phục Ba miếu” được mở đầu:
Người già sáu mươi tuổi thì gần sức suy,
Mà ông còn mặc áo giáp nhảy lên yên ngựa nhanh như bay..”.
Mặc dù vị chánh sứ không hề đề cập đến chuyện quan hệ đối ngoại trước mắt, song rõ ràng tác giả thể hiện đúng đắn ý thức dân tộc chân chính trong hồi tưởng quá khứ lịch sử, như ngày nay ta thường nói “lấy xưa để nói nay”; đồng thời cũng không phải ngẫu nhiên mà ông vạch rõ Mã Viện chỉ là kẻ xâm lược đích thực và còn chế giễu sâu cay hình ảnh “đồng trụ Mã Viện” cũng như chuyện vàng bạc, ngọc châu rắc rối lúc Phục Ba chết:
“...Cột đồng trụ chỉ lừa được đàn bà con gái đất Việt”
(Đồng trụ cân nặng khi Việt nữ)
Xe ngọc châu luống để lấy cho con cái trong nhà.

Hình tượng “cột đồng trụ” “chỉ lừa được đàn bà con gái Việt” vừa bóng bảy, đa nghĩa, thấp thoáng nụ cười mỉa mai, vừa toát lên niềm tự hào dân tộc. Từ đấy dẫn đến kết luận đích đáng về vị trí con người Mã Viện trong xã hội Trung Hoa bằng ngôn ngữ với giọng điệu châm biếm pha nét khinh bỉ:
Tên tuổi ông chỉ đáng ghi ở góc Vân Đài thôi,
Chứ sao lại còn đòi nước Nam hàng năm cúng tế ?”
Thật thú vị! Bài thơ ngắn mà câu tứ đầy nét tương phản qua các hình tượng trái ngược. Lời chất vấn quá khứ đầy sắc sảo, đậm nét phê phán đầy hóm hỉnh tạo nên tiếng cười thâm thuý. Không dừng lại đó, tác giả vẫn tiếp tục lên án nhân vật hiếu sát và hiếu danh ấy. Dường như muốn mọi người nhớ về quá khứ rằng tướng Phục Ba tuổi già hăng hái xông pha trận mạc, nhưng cũng từng nếm trải những tháng ngày khiếp sợ đến mức phải “hối hận” tại hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây) nơi ông ta đặt trạm chỉ huy trên đất Giao Chỉ gần hai ngàn năm trước qua bài “Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu”:
Mở đường Ngũ lĩnh sang đánh Viêm bang,
Công danh hơn đời ghi trong sở sách.
Về già còn khoe mình quắc thước,
Ngoài cơm áo, cái gì cũng là thừa.
Sóng gió nơi Đại Than lưu công trạng ngày trước,
Tùng sam cạnh miếu cổ cách làng xóm cũ.
Trong bóng chiều, dưới đám gai góc ở phía tây thành,
Lối xưa ở hồ Dâm Đàm như thế nào rồi?”
“Dâm Đàm di hối cánh hà như?” (Khuyết danh)
Câu hỏi nghi vấn mà khẳng định. Hình tượng “Dâm Đàm di hối”, thật hàm súc, sâu cay, gắn liền với chuyện xưa kể rằng, Mã Viện sang đánh Hai Bà Trưng, đóng quân ở hồ Dâm Đàm. Khi ông ta trông thấy mặt hồ đầy khí lam chướng, đến nỗi diều hâu bay lượn trên hồ đều bị rớt xuống nước. Trước cảnh tượng đó, vị tướng Tàu hối hận mà than rằng: “Nay nghĩ lại lời Thiếu Du, mới thấy đúng, nhưng không làm sao được nữa!

Phần mộ thi hào Nguyễn Du tại Hà Tĩnh
Chuyện còn kể thêm, lúc tướng Ba Phục lên đường đánh Giao Chỉ thì người em họ là Thiếu Du thương ông anh đã già mà ra đi chinh chiến đường xa đầy nguy hiểm, nên có lời khuyên: “Người ta sinh ra ở đời cốt ăn mặc vừa đủ thì thôi, nếu cần lấy thừa thãi thì sẽ khổ thân.” Dựa vào ý đó, Nguyễn Du nhắc lại bằng câu thơ: “Ngoài cơm áo cái gì cũng là thừa” nhằm chế giễu vị tướng Tàu tham danh, tham lợi, rồi lại hối hận là đã chót thì phải chét!
Hình tượng Mã Viện, một đối tượng lịch sử cụ thể, có thật, chẳng phải ngẫu nhiên được nhắc lại đến ba lần qua ba bài thơ, gắn liền với quá trình chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta từ những ngày đầu dựng nước và đã khắc họa cô đọng, mà đầy ý nghĩa sinh động. Những vần thơ ấy tuy cách xa chúng ta đến gần hai trăm năm, song vẫn dồi dào tính thời sự trên hình trình phát triển của thi ca Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại.
Về mặt nội dung cũng như nghệ thuật, bốn bài thất ngôn bát cú quả không nhiều trong tập thơ chữ Hán “Bắc hành tạp lục” gồm 131 bài. Tuy viết bằng Hán tự và phải khuôn theo lối kết cấu gò bó ngắn gọn, nhưng các tác phẩm ấy lại chứa đựng một dung lượng lịch sử rộng lớn, đa nghĩa, vừa súc tích trầm lắng, vừa sắc cạnh, đầy hình ảnh gợi cảm vượt cả thời gian, không gian khiến cho độc giả xưa nay phải suy nghĩ và càng hiểu rõ hơn con người cùng sự nghiệp đồ sộ của nhà thơ.
Rõ ràng là chùm thơ trên đã góp phần làm giàu thêm kho tàng văn thơ của nhân dân ta. Hơn thế nữa, qua đó người đọc còn khẳng định được tấm lòng yêu nước, ý thức dân tộc và ý thức công dân cao đẹp trong con người tài hoa, trong tâm hồn thi hào họ Nguyễn Tiên Điền, một danh nhân văn hoá thế giới.
Nguyễn Trường Lịch [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 179, tháng 1/2006]




Đăng nhận xét

Chào ngày mới !

Loading...