Thứ tư, ngày 01 tháng hai năm 2012

Ông tiến sĩ bán nhà làm giáo dục

Thầy Võ Tòng Xuân trong ngày khánh thành trụ sở mới Trường song ngữ Tinh Hoa. BÀI & ảnh: LỤC TÙNG

DẠY VÀ HỌC. Bán nhà mặt tiền ở đô thị để về vùng sâu xây trường mầm non, tiểu học – vì danh ư, hay vì lợi? Chắc chắn cả HAI không còn cần thiết với nhà khoa học lớn đã qua tuổi “xưa nay hiếm” như GS-TS-VS-NGND-AHLĐ Võ Tòng Xuân, mà người dân ĐBSCL vẫn trìu mến gọi là thầy Xuân. Bài Ông tiến sĩ bán nhà làm giáo dục và ảnh Thầy Võ Tòng Xuân trong ngày khánh thành trụ sở mới Trường song ngữ Tinh Hoa do LỤC TÙNG đăng trên Lao động Xuân

Bán nhà lo chuyện quốc gia

Dù chỉ hai lần đặt chân vào đây, nhưng với tôi “nhà ở Cần Thơ” của thầy Xuân rất ấn tượng. Không chỉ vì vị trí đắc địa mà còn bởi đó là nơi tôi thường được thầy nhắc nhớ những kỷ niệm đẹp về cô Lệ (người vợ quá cố của thầy). Một kế hoạch đầu tư, vun đắp cho “cõi đi về” đã được thầy tính toán rất cụ thể: “Ngoài gian làm nơi thờ tự, sẽ dành riêng gian trưng bày toàn bộ những mẫu vật, kỷ vật liên quan đến cuộc đời hoạt động khoa học của thầy”. Vậy mà giờ đây...

Đúng hẹn, tôi tìm đến căn phòng công vụ cấp 4, thấp và xuống cấp trầm trọng, nằm trong góc khuất của khuôn viên ĐH An Giang mà thầy Xuân tá túc từ khi còn làm hiệu trưởng đến nay. Khác với sự cởi mở thường ngày, thầy trở nên trầm buồn khi nghe tôi hỏi chuyện căn nhà: “Hiện giấy tờ đang được thế chấp trong ngân hàng để trang trải một phần, tìm được người mua, thầy bán luôn để đầu tư cho trường”. Trường tức Trường song ngữ Tinh Hoa (SNTH) do thầy làm Chủ tịch HĐQT.

Mọi chuyện diễn ra đột ngột đến nỗi chính thầy cũng không ngờ. “Lúc đầu dự kiến sẽ vay vốn ngân hàng xây trường học theo dự án giáo dục, nhưng sau khi thẩm định, phía ngân hàng thẳng thừng từ chối với lý do dự án không khả thi, mức thu học phí của trường chỉ đủ trang trải chi phí dạy-học”, thầy Xuân nhớ lại. Bị ngân hàng thay đổi kế hoạch tài chính chủ lực vào phút 89, nên dù thầy “dốc hết tình già”, gom hết tiền của cả đời làm khoa học cũng chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu của ngôi trường song ngữ. Thầy buộc phải chấp nhận bán căn nhà kỷ niệm. “Đây có lẽ là quyết định khó nhất trong đời tôi, nhưng nếu không làm ngay thì thầy sợ “hết giờ”.

Theo thầy Xuân, giáo dục Việt Nam đang như người mắc cùng lúc nhiều chứng bệnh. Ngoài những khó khăn chung về nội dung và chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất, chúng ta thường quan tâm, đầu tư ngược so với quy trình của các nước tiên tiến trên thế giới khi dồn sức cho cấp đại học mà lại ít quan tâm đến cấp học nền tảng là mẫu giáo và tiểu học. “Chồi có khỏe thì cây mới phát triển được, lịch sử giáo dục hiện đại thế giới đã chứng minh, quốc gia nào quan tâm đầu tư tốt cho giáo dục hệ mầm non, tiểu học thì quốc gia đó sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao”, thầy Xuân giải thích cho quyết định bán nhà xây trường của mình.

Xây trường “Tây” cho “Hai Lúa”

Tinh Hoa là trường song ngữ 4 cấp học phổ thông đầu tiên ở ĐBSCL. Trường được dạy theo phương pháp Montessor, phương pháp giáo dục dựa trên nền tảng sự tự do khám phá của nhà giáo dục người Italia, Montessor (1870-1952), đặt nền móng nhằm hướng tới đào tạo thế hệ công dân mới có khả năng tự lập và hòa nhập. “Mục tiêu lớn nhất của việc đầu tư trường này là đào tạo ra thế hệ học sinh biết học để làm người, để hiểu biết, để làm việc, để sống với cộng đồng, sau khi tốt nghiệp THPT có khả năng vào học bất cứ trường đại học nào trên thế giới. Ngoài kỹ năng làm việc nhóm, các em còn có kỹ năng nói tiếng Anh lưu loát, sử dụng thành thạo Internet...”, thầy Xuân giới thiệu “sản phẩm” của SNTH một cách đầy tự tin.

“Chúng tôi dạy Anh ngữ theo phương pháp giáo dục sinh ngữ phát triển sau, tức dạy cho các cháu khả năng đọc, hiểu tiếng mẹ đẻ trước khi làm quen và sớm thành thạo tiếng Anh. Bởi chúng tôi quan niệm đây chính là “giấy thông hành tương lai” cho học sinh của mình. Theo báo cáo của Hội đồng Anh, hiện có đến 1/6 số người trên toàn cầu nói tiếng Anh và 3/4 trong số này coi tiếng Anh là ngoại ngữ".

Để sớm vươn tới mục tiêu này, bên cạnh việc áp dụng phương pháp quản lý “lớp học là của học sinh” cùng với việc tuân thủ nghiêm các quy định về trang thiết bị dạy học và sĩ số tối đa (mỗi lớp 20 học sinh) để tiện khơi gợi tính sáng tạo, giúp các em tự tin tìm thấy tri thức, trường còn quan tâm tạo cầu nối để phụ huynh cùng tham gia quản lý, theo dõi và điều chỉnh nền nếp học-hành của con em mình”, GS Xuân nhấn mạnh.

“Chồi có khỏe thì cây mới phát triển được, lịch sử giáo dục hiện đại thế giới đã chứng minh, quốc gia nào quan tâm đầu tư tốt cho giáo dục hệ mầm non, tiểu học thì quốc gia đó sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao”.

“Ngoài việc phát bài tập đơn giản về nhà cho phụ huynh tham gia chấm điểm nhằm “lôi kéo” các bậc cha mẹ quan tâm hơn đến việc học của con, chúng tôi còn dành vị trí trang trọng trên website của trường (http://www.elite.edu.vn/) là “Diễn đàn phụ huynh” để bậc cha mẹ tham gia phản ánh, trao đổi với nhà trường những vấn đề cần quan tâm, hình thành môi trường giáo dục giúp học sinh phát triển toàn diện”.

Bán căn nhà kỷ niệm để xây trường chất lượng “Tây”, nhiều bậc phụ huynh ở Long Xuyên náo nức chờ đợi ngôi trường ra đời ngay trung tâm vừa để con em có môi trường học hành tốt nhất, vừa để có dịp ủng hộ trả nghĩa nhà khoa học gắn bó với người nghèo. Nghĩa là nó hoàn toàn có khả năng hái ra tiền nếu được đặt tại địa bàn đô thị.

Thế nhưng tất cả đã nhầm... Ngày 12.9.2011, Trường SNTH chính thức có cơ ngơi mới khang trang tại phường Mỹ Hòa (TP.Long Xuyên) sau 2 năm “ở tạm”. Gọi phường là ăn theo “hồn vía” của TP.Long Xuyên, bởi thực chất Mỹ Hòa vẫn là vùng nông thôn, đa số người dân còn nghèo. “Nhiều nhà đầu tư giáo dục ngán vùng sâu vì sợ ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ, còn chúng tôi thích vùng sâu là vì muốn mang lợi nhuận to lớn nhất đến cho người nghèo” - thầy Xuân nói.

Sau hơn 50 năm hiến tuổi xuân vào tận các vùng “khỉ ho, cò gáy” giúp nông dân đẩy lùi phèn mặn, đánh thắng giặc sâu rầy, đạt năng suất cao trong nông nghiệp hay dấn thân vào cuộc chiến bảo vệ giá cả nông sản và đề xuất hướng làm tăng lợi tức cho nông dân, giờ đây ở tuổi “xưa nay hiếm”, ông lại mang gia tài cuối cùng của cuộc đời để thực hiện cuộc dấn thân mới: Giúp con em những người nông dân “một nắng hai sương” có cơ hội vào học trường chất lượng cao để thoát khỏi vùng trũng giáo dục, vươn lên kết nối toàn cầu. Tấm lòng của ông tươi đẹp như mùa xuân, như chính tên của ông: Xuân, Võ Tòng Xuân.

BÀI & ảnh: LỤC TÙNG


Đọc thêm
:




Du xuân phương Nam ngày giáp Tết

Xuôi phương Nam, tôi tìm thăm Hai Lúa.
Thắm tình thân, thầy bạn buổi tất niên.
Địa chỉ xanh, dẫu xa mà gần gũi .
Mừng xuân này công việc gắn bền thêm.

Hoàng Kim

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM,
DẠY VÀ HỌC

Thứ tư, ngày 11 tháng một năm 2012

Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ

NGỌC PHƯƠNG NAM. Trần Đăng Khoa vừa có bài viết “Ngoái nhìn năm cũ” bình luận những sự kiện nổi bật và rất đáng quan tâm trong năm 2011. Bài này cùng với những bài viết ám ảnh “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy là những phản biện khách quan, sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm.

NGOÁI NHÌN NĂM CŨ

Trần Đăng Khoa

Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ – Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới – thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.

Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc biệt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh – ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”. Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.

Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời – Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.

Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng nhân ái mà không có máu người…

Đọc tiếp
Suy ngẫm những bài viết ám ảnh
HỌC MỖI NGÀY. Ba bài viết ấn tượng và ám ảnh tôi đầu xuân 2012 là “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy và “Lại chuyện giao thông …” của Trần Đăng Khoa.

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thứ sáu, ngày 06 tháng một năm 2012

Đầu năm đọc bài GS Hoàng Tụy


DẠY VÀ HỌC. Đầu xuân giáo sư Hoàng Tụy đã viết bài "Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống" đăng trên viet-studies.info, Giáo sư nhấn mạnh "Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay go, gian khổ. Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất, cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách này."

TÁI CẤU TRÚC VÀ SỬA LỖI HỆ THỐNG

Hoàng Tụy

Mấy năm nay trong xã hôi ta thường nghe nói đến các lỗi hệ thống. Và trong năm 2011 cụm từ tái cấu trúc được nhắc đi nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó khăn kinh tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở thành những từ khoá trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý kinh tế xã hội trong cả năm 2011. Cho nên có lẽ cũng là tự nhiên nếu câu chuyện đầu năm xoay quanh tái cấu trúc và lỗi hệ thống.

Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, thành phần, cơ chế hoạt động và cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài.

Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của nó, một hê thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu, thì thường có thể do mục tiêu sai, hoặc cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết tật cơ bản, hoặc cả mục tiêu lẫn cấu trúc đều có chuyện. Khi đó, nếu chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó, thì không những không giảm bớt được truc trặc, mà có khi còn làm phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, làm bất ổn gia tăng, đến mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình huống đó chỉ có thể là dựa trên phân tích hệ thống, xét lại toàn bộ tổ chức, từ mục tiêu đến cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách sửa chữa những khuyết tật cơ bản của hệ thống, tức là các lỗi hệ thống, theo cách nói quen thuộc gần đây.

Đó là ý nghĩa các phạm trù “lỗi hệ thống” và “tái cấu trúc” mà gần đây đã được sử dụng khá phổ biến trong các câu chuyện chính trị và kinh tế, xã hội.

Thực tế xây dựng đất nước hơn ba mươi năm qua đã dạy chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng mười năm sau ngày thống nhất Tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại gây nên do những lỗi lầm hệ thống tich luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có công cuộc đổi mới mà nhờ đó đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi sinh kỳ diệu trong thập kỷ 90.

Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian 5-7 năm gần đây đã xuất hiện nhiều sai lầm, thất bại đưa đất nước đến những khó khăn hết sức nghiêm trọng. Những gì tich cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã đạt tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy cơ trì trệ, thậm chí lụn bại và chuốc lấy nguyền rủa của đời sau, hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh mất mác to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.

Trước hết, về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng, kéo dài trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới những khuyết tật hệ thống của thể chế chính trị, cho nên sẽ khó có hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.

Điều nguy hiểm đáng lo, như Tổng Bí Thư đã nhận định trong Hội nghị TƯ vừa qua, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian: nhà dột từ nóc. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung quá đáng mà không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, tiếng là thể chế dân chủ nhưng nặng về dân chủ hình thức, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính qua nhiều lần “cải cách” ngày càng đồ sộ mà vẫn quan liêu, xa dân, hành dân là chính. Nhiều quan lớn trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra lối sống đồi truỵ, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh thân phì gia. Với một nền quốc trị như thế, trách sao văn hoá, đạo đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hàng ngày dày đặc những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người.

Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, không chút tự trọng. Cho nên sửa đổi hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.

Thứ hai, về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao đông giá rẻ, lấy doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của Nhà nước chứ không dựa trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hoá, giáo dục, khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng – nay đã rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển kinh tế thiển cận đó được thực thi trên nền một thể chế lỏng lẻo bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ đã trở thành những căn bệnh đặc trưng của xã hội Viêt Nam hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn bệnh này ăn sâu vào xương tuỷ xã hội thì không mong gì những kế hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện có hiệu quả.

Sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất, là đời sống văn hoá, giáo dục, xã hội. Không phải không có cơ sở mà ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan Châu Trinh đã khởi xướng cứu nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe liên tiếp vì xăng kém phẩm chất), bệnh viện quá tải thê thảm, thực phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh, đành rằng tất cả đều có phần hệ quả trực tiếp của những sai lầm hệ thống nói trên về chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhận rõ những sai lầm hệ thống ngay trong văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế, xã hội nữa.

Về giáo dục, những yếu kém, bất cập, hư hỏng lưu niên đến nay chưa dứt chứng tỏ đường lối đổi mới cục bộ, chắp vá, vụn vặt, lăng nhăng, từng thực thi qua ba đời bộ trưởng đã hoàn toàn phá sản. Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triêt để, đã được cuộc sống cảm nhận bức thiết và TƯ Đảng, Chính Phủ cũng đã có những nghị quyết trịnh trọng khởi xướng từ 6-7 năm nay. Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc lên án nó là nguyên nhân khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi” (“Viêt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, trang 463). Trong đó cái chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương nhiên chủ yếu do chịu vòng cương toả của chính sách chung về lương công chức của Nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ quặc này, không giống bất cứ ai trên thế giới, nên mới có tình trạng cũng không giống ai trên thế giới là thầy giáo không tập trung vào công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là không đâu người thầy bị rẻ rúng, coi thường như ở xứ này, nơi mà từ xa xưa đã có truyền thống tôn kính thầy và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ tôn sư trọng đạo. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn.

Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới, vào cuối thập kỷ 80, đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu hiểu biết, khái niệm hộp đen trong khoa học hệ thống đã được vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ hộp đen dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao, cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tuỳ nghi, ai muốn hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời. Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải toả bớt tâm lý bế tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hàng ngày. Mong rằng lần này chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn.

Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay go, gian khổ. Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất, cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách này.

Hoàng Tụy

Nguồn: viet-studies

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM,
DẠY VÀ HỌC

Chủ nhật, ngày 01 tháng một năm 2012

Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc

Mùa xuân đầu tiên

Nhạc và lời Văn Cao
Trình bày Thanh Thúy



Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc

Ngày mới xuân sang niềm hạnh phúc
Yêu thương thanh thản sống thung dung
An nhiên phúc hậu chăm điều thiện
Vui giữa thiên nhiên với bạn hiền

Hoàng Kim

Thứ ba, ngày 20 tháng mười hai năm 2011

Người đương thời với nghề trồng lúa

DẠY VÀ HỌC . GS.TS Bùi Chí Bửu là người đương thời với nghề trồng lúa (Bửu Lúa). Ông hiện là Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (Viện đầu ngành nông nghiệp toàn Việt Nam) kiêm Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Ông đã vinh dự được Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trao giải thưởng Senadhira vì có đóng góp xuất sắc cho việc phát triển đa dạng hóa các giống lúa phổ biến tại Việt Nam. Năm 2000, công trình “Giống lúa và cải tiến kĩ thuật thâm canh lúa ở ĐBSCL” mà ông là đồng tác giả đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Sang năm 2010 ông lại vinh dự được Hội Khuyến học Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam trao Giải Nhất giải thưởng Nhân tài Đất Việt vì có những đóng góc xuất sắc cho ngành khoa học của nước nhà.

Nhà nông học Bùi Chí Bửu
Bài: Thịnh Phát - Ảnh: Lê Minh

GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam được biết đến như một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu và lai tạo các giống lúa mới của Việt Nam. Những nghiên cứu của ông được giới khoa học quốc tế đánh giá cao, trong đó có Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI).

GS.TS Bùi Chí Bửu là một trong những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng nên Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nhớ lại những ngày đầu Viện mới thành lập, ông tâm sự: “Thời đó, chiến tranh vừa kết thúc, Viện nghèo lắm, đất rộng hàng trăm ha, nhưng cơ sở chỉ là một dãy nhà cấp bốn (nay vẫn còn giữ lại làm nhà kho - PV). Cán bộ của Viện vừa làm vừa tự mày mò nghiên cứu học hỏi thêm từ thực tế và các nguồn tài liệu của nước ngoài”.


Mặc dù điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng để đáp ứng yêu cầu cấp bách về nhiệm vụ phát triển nghề lúa ở ĐBSCL, năm 1987 ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm giống lúa nước sâu ở ĐBSCL, phục vụ cho công tác chọn giống”. Đến năm 1989, ở tuổi 36 TS Bùi Chí Bửu đã được đề bạt giữ chức Viện phó Viện lúa ĐBSCL và đến năm 2011 thì trở thành Viện trưởng.

Vào cuối những năm 80 của thế kỉ trước, để thực hiện chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao xuất khẩu, TS Bùi Chí Bửu cùng các đồng nghiệp đã mạnh dạn đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chương trình thử nghiệm giống lúa mới của mình. Chương trình được triển khai thử nghiệm ban đầu trên khoảng 2% diện tích trồng lúa ở ĐBSCL nhưng chỉ 5 năm sau đã tăng lên tới hơn 30%. Thành công này đã mở ra một bước đột phá cho ngành sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL. Nhờ đó mà ĐBSCL trở thành vựa lúa lớn nhất của cả nước, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Và từ đó đến nay, ĐBSCL luôn giữ vai trò số 1 trong chiến lược đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu.
Nhắc đến những đóng góp của GS.TS Bùi Chí Bửu, các chuyên gia nông nghiệp vẫn thường đề cập đến giống lúa cực sớm. Nhờ có giống lúa này, người dân ĐBSCL không những đã chủ động được kế hoạch “né lũ” trong mùa vụ mà còn đưa năng suất từ chỗ chỉ có 2 tấn/hecta lên đến 10 tấn/ha.

Bằng tất cả tâm huyết đối với ngành lúa, suốt gần ba chục năm miệt mài vừa nghiên cứu vừa tổ chức, ông đã xây dựng Viện lúa ĐBSCL trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu lúa hàng đầu của cả nước và khu vực.
Có dịp cùng ông về thăm lại Viện lúa ĐBSCL, được tận mắt chứng kiến những thành quả của Viện mới thấy hết công sức đóng góp của ông cho ngành lúa Việt Nam suốt mấy chục năm qua.

Được biết, từ cái nôi này, ông và các đồng nghiệp đã nghiên cứu sản xuất thành công nhiều giống lúa chất lượng cao, trong đó có những giống lúa chủ lực của Việt Nam. Điển hình như giống lúa OM4900, cho hạt gạo dài, trắng và thơm, có thể cạnh tranh với giống lúa Pathum Thani nổi tiếng nhất của Thái Lan hiện nay.

GS.TS Bùi Chí Bửu cho biết thêm, Viện đã xây dựng được một ngân hàng gien, lưu trữ hơn 1000 giống lúa mới và khoảng 3000 giống lúa cổ truyền. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị rất lớn đối với ngành khoa học lúa gạo Việt Nam và thế giới.

Với những đóng góp lớn cho ngành lúa nói riêng và khoa học nông nghiệp nói chung, năm 2008, GS.TS Bùi Chí Bửu đã vinh dự được Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trao giải thưởng Senadhira vì có đóng góp xuất sắc cho việc phát triển đa dạng hóa các giống lúa phổ biến tại Việt Nam. Năm 2000, công trình “Giống lúa và cải tiến kĩ thuật thâm canh lúa ở ĐBSCL” mà ông là đồng tác giả đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Sang năm 2010 ông lại vinh dự được Hội Khuyến học Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam trao Giải Nhất giải thưởng Nhân tài Đất Việt vì có những đóng góc xuất sắc cho ngành khoa học của nước nhà.

Thịnh Phát

Source: http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/6/6/28518/default.aspx

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS

Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Chủ nhật, ngày 13 tháng mười một năm 2011

Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam

DẠY VÀ HỌC. Tôi quý mến và cảm thơ Bùi Văn Bồng khi đọc "Khóc bên mộ cha" anh viết thật xúc động: Cha đi chưa buổi chiều tà Hưởng dương một kiếp mưa sa nửa đời Đàn con bảy đứa đơn côi Khóc cha chưa biết bậm môi nén lòng Một mình đội rá ăn đong Mẹ dốc hết lòng nuôi bảy con thơ Chị tôi chớm nụ mộng mơ Đàn em còn tuổi ngây thơ đầu đời Thương cha chỉ biết kêu trời Trời thu xanh thẳm nắng vơi cuối đồng Cảnh đời xa xót long đong Lạnh buồn chăn chiếu như không nóc nhà Mẹ tôi tần tảo bôn ba Nuôi con rau muống, lu cà, vại tương Cấy cày từ lúc mờ sương Tảo tần khuya khoắt lên giường chưa yên Nhiều khi mong gặp phép tiên Cho tôi thấy nụ cười hiền của cha Bướm vàng vừa đậu cành hoa Linh thiêng hãy hóa thành cha năm nào Hương trầm ướp gió đồi cao Xin làn hương nhẹ bay vào mộ cha Muối tiêu tóc gió chiều tà Rưng rưng đứng trước mộ cha khóc thầm. Gần đây, anh chọn 63 bài in thành tập với tựa đề "Gửi gió trời Nam". Lê Xuân nhận xét: "Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiêng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”. Tôi tâm đắc với cảm nhận của Lê Xuân. Gửi gió trời Nam của Bùi Văn Bồng là thơ hướng tâm linh con người vươn tới Chân Thiện Mỹ (HK)

BÙI VĂN BỒNG MỘT HỒN THƠ LỘNG GIÓ PHƯƠNG NAM

Lê Xuân
Đọc tập thơ “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng - NXB Hội Nhà văn



Phương Nam kênh rạch trôi bình lặng
Con người hào phóng dễ tin yêu…


Hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ của vùng đất phương Nam đã thôi thúc nhà thơ, nhà báo - đại tá Bùi Văn Bồng cho ra mắt bạn đọc những bài thơ đầy rung cảm với thi pháp mang nét riêng khá độc đáo. Tất cả đều nhằm phản ánh cuộc sống sinh động, phong phú qua sự cảm nhận, liên tưởng, suy tư, là tiếng lòng tha thiết với tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống và quê hương đất nước. Anh làm thơ là để giãi bày tâm sự. Sau 4 tập truyên và thơ in riêng và hàng chục tác phẩm in chung trong các Tuyển tập thơ như: Thơ Việt Nam thế kỷ 20; Duyên thơ; Thơ tình Đà Lạt; Chúng tôi đánh giặc và làm thơ; Hợp tuyển thơ về Hồ Chí Minh; Nước non một dải; Tuyển tập thơ về Nguyễn Trãi, Nghìn năm thương nhớ…; lần này, anh cho ra mắt tập thơ “Gửi gió trời Nam” khá dày với 63 bài, một tập thơ chuyên đề viết về miền đất Cửu Long Giang hữu tình. Anh là người của xứ Bắc, nhưng đã cho ra đời tập thơ khá dày và chon lọc chuyên đề về vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đề tài, chủ đề của thơ Bùi Văn Bồng khá đa dạng và được thể hiện qua phong cách nghệ thuật trữ tình-lãng mạn kết hợp hài hoà với nội tâm sâu lắng, liên tưởng trong không gian ba chiều và có chất triết luận. Anh là lớp nhà thơ sáng tác từ cuối thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trưởng thành sau năm 1975. Vì thế, thơ anh luôn hướng tới những vấn đề lớn của cộng đồng và thời đại, dòng thơ nặng tình quê hương đất nước trong thời bình. Bởi thế, anh luôn luôn tâm niệm thơ là tiếng nói của tâm hồn, là điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu (Tố Hữu). Và từ cái điệu tâm hồn hòa đồng ấy, thơ Bùi Văn Bồng khắc họa sâu đậm những cảm nhận giàu chất liệu hiện thực cuộc sống của một vùng mênh mang sông nước Cửu Long, đúng như tên gọi của tập thơ: Gửi gió trời Nam.

Với “Gửi gió trời Nam” tác giả đứng ở nhiều góc độ để quan sát, nhìn nhận, cảm xúc về con người và cuộc sống. Từ đó tình cảm thăng hoa bật lên những vần thơ khi trầm ngâm sâu lắng, khi reo vui rộn rã. Anh là người đã gắn bó với vùng đât phương Nam đã hơn 30 năm, đi đến nhiều xóm ấp nơi miền quê thanh bình, nơi biên giới Tây Nam hùng vĩ, chiêm nghiệm nhiều, nên chỉ với 63 bài thơ mà hàm chứa biết bao cảnh làng quê, sông nước xứ miệt vườn, những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi ở miền đồng bằng châu thổ Tây Nam của Tổ quốc, nơi được coi như quê hương thứ hai của anh. Những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được anh ghi lại như một ký hoạ bằng thơ đầy sắc màu của sự sống.

Đây là cảnh sắc vùng biên cương Bảy Núi, biển Ba Động nên thơ, kia là rừng tràm Trà Sư hoang dã, núi Cấm trầm mặc, Thạch Động uy nghiêm, mũi Cà Mau sóng vỗ, bưng biền Đồng Tháp mênh mang… Những rung động khẽ khàng trong cõi lòng sâu thẳm bỗng bật thành thơ. Dòng sông Hậu hiền hòa in hình cô gái Nam Bộ chèo xuồng ba lá, áo bà ba bay trước gió làm thổn thức hồn thơ của anh:

Dòng sông thì rộng mênh mông
Áo em lại thắt eo hông làm gì
Khen ai khéo chiết đường ly
Để cho tà áo thầm thì lời quê.
(Áo bà ba)


Đã có không ít tứ thơ, bài hát ngợi ca nét đẹp duyên dáng và độc đáo của chiếc áo bà ba Nam bộ, nhưng bài thơ này của Bùi Văn Bồng đã để lại ấn tượng lắng sâu trong lòng người đọc. Bài thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam với chất dân ca đâm đà, tình tứ, chỉ với 20 câu thơ đã toát lên vẻ đẹp bình dị nét quê lề đất của miền Tây Nam bộ. Đặc biệt, câu lục bát: Dòng sông thì rộng mênh mông / Áo em lại thắt eo hông làm gì - được trang web lụcbat.com chọn lọc vào tập thơ “Nghìn câu lục bát để đời” của 1.000 tác giả, viết bằng thư pháp, món quà tinh thần dâng Lễ kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long –Hà Nội. Câu thơ trên cũng là một trong 100 câu lục bát được chọn để tung lên trời trong đêm Nguyên tiêu tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám nhân Ngày thơ Việt Nam.

Một chút “Hương cau” của làng quê phả vào “Tiếng đờn đêm trăng” làm lung linh một “Huyền diệu trăng”. Có lúc anh “Lặng thầm” trước “tóc vờn bay trong gió” của cô gái xứ dừa Bến Tre:

Hồn anh chỉ còn em và sông nước
Với dừa xanh – những chiếc lược cài mây
Em đừng nói về con sóng ngược
Để hương dừa thơm mãi trong tay.
(Mái tóc hương dừa).

Viết về quê hương, anh không bị sa đà vào những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đã khá quen thuộc. Anh có cách cảm nhận về nét riêng thuần khiết mà thơ mộng của miền Tây Nam bộ như:“Đêm vùng lũ”, “Cánh đồng mùa lũ”, “Mùa bông điên điển”, “Khói đốt đồng”, “Bông súng”, “Những dấu chân xanh”, “Tây Đô xanh” hay những mùa nước nổi

Cuối mùa trào dâng nước lũ
Tha La, Trà Sư trắng xóa đập tràn
Mưa trắng đất, trắng trời vần vũ
Hòn Đất, Kiên Lương ngập chứa chan.
(Tứ giác trắng)


Tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình bè bạn trong thơ anh luôn đằm sâu. Dấu chân anh đã đi khắp đồng bằng châu thổ, được thưởng thức nhiều món ẩm thực đồng quê mới lạ ở xứ “vườn sinh kinh ngập” này, lòng anh càng nhớ về quê nội xứ Thanh, một nỗi “nhớ Bắc”, nhớ mẹ cha, chú bác da diết khi Tết đến xuân về: Bánh chưng xanh, bánh xu xê / Lá dong gói bánh thơm về cõi xa / Nén nhang thắp viếng ông bà / Lời quê đậm mãi chén trà đón xuân… Nhiều khi anh trở về với những kỷ niệm quê nhà một thời trai trẻ, nhớ đến những kỷ niệm của một thuở mới yêu:

Vườn nhà còn ngát hương cau
Giờ em đang ở nơi đâu cuối trời?
Mảnh mai chiếc lá vàng rơi
Cánh chim lạc gió về nơi mưa nhiều
(Hương cau)
Vượt sóng ra đảo xa Phú Quốc, anh ghi nhận được những nét đẹp của người lính biên phòng nơi hòn đảo tiền tiêu phía Tây Nam của Tổ quốc:

Những người lính biên phòng Phú Quốc
Trăm quê riêng về đảo nhỏ tiền tiêu
Thư ngược sóng tới phương trời thương nhớ
Hồng lên hương nắng ấm trong chiều.
(Biên phòng Phú Quốc)

Là người đã gắn bó gần 40 năm trong quân ngũ, hình ảnh người lính trong thơ anh thật đẹp, gần gũi và thân thương:

Người lính đồng bằng lên biên giới
Quân phục nhuộm xanh một khoảng trời
Thẳm sâu đáy mắt người trông đợi
Gặp gió bưng biền m
ằn mặn môi.
(Gửi gió trời Nam)

Cái tình của anh gửi tới bạn bè ở mọi miền đất nước, đặc biệt là đối với miệt vườn vùng đất Chín Rồng sâu nặng qua loạt bài: Chuyện tình Hai Lúa, Du lịch Phù Sa, Mùa cá dứa Cà Mau, Mùa hoa điên điển, Nhà Bác ở Cà Mau, Người Cà Mau đi dự lễ Đền Hùng, Núi Cấm, Qua phà sông Hậu, Quýt hồng Lai Vung, Sỏi trên Hòn Đất, U Minh rạng sáng, Trên thềm cổ Óc Eo, Xanh mát Ba Tri, Xuân miệt vườn, Xuồng ba lá… Phần lớn số bài của tập thơ anh dành nghĩa tình cho đất và người vùng miệt vườn sông nước Cửu Long - vùng đất gian lao mà anh dũng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Anh có những dòng thơ chân tình nhất, chia sẻ nỗi đau với những người nghèo khổ như: Người nông dân trong ngày lũ, người tàn tật, bất hạnh và những ngang trái của cuộc đời. Anh nghẹn ngào, thương tâm đến thắt lòng trước cảnh cực khổ của những người nông dân sống chung với lũ:

Mỗi năm một mùa nước nổi
Chạy lũ như dân du thuyền
Lênh đênh dẫu biết nguồn cội
Lũ dâng ngập nửa mái hiên…
(Làng mới vượt lũ).



Song, trước những cảnh tượng ấy, ta không hề thấy trong thơ anh có tiếng kêu não nuột, bi lụy, tuyệt vọng nào trước gian khó cuộc đời. Anh hướng nhân vật trữ tình tới muôn sự lạc quan:
Ngựa ô xưa khớp kiệu vàng
Anh rong xe máy về làng đón em
Tơ vàng ươm nắng ngõ quen
Phù sa sau lũ rực lên ánh vàng.
(Vàng trên đất lũ)


Con người Nam bộ vốn chân tình, bộc trực mà hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, tự tin, yêu đời từ ngày đi mở cõi. Với mùa lũ, mùa nước nổi họ vẫn coi như một quy luật, một lẽ đương nhiên của trời đất, như chuyện thường ngày, và luôn luôn chủ động “sống chung với lũ”. Đó là cái chất hiếm, đáng quý mà không phải cư dân vùng nào cũng có được.

Một đề tài anh rất tâm đắc là tình yêu- đề tài vĩnh hằng, biết bao nhà thơ trên thế giới này đã viết. Thơ tình Bùi Văn Bồng thể hiện tình yêu thật trẻ trung, say đắm và hết sức hồn nhiên, vô tư. Nhìn cô gái Nam Bộ mặc áo bà ba, chèo xuồng ba lá trên dòng Hậu Giang, anh như bị hút hồn:

Chẳng ai chuốc rượu đưa men
Mà sao ra bến lại quên lối về.


Đôi khi anh cũng như bao người đang yêu khác không lý giải được tình yêu, và cứ tự vấn:

Tình yêu là gì nhỉ
Bắt em chơi trốn tìm
Hạnh phúc nào bình dị
Mà rung hoài con tim?
(Lặng thầm).

Anh say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu đôi lứa gắn với tình quê đằm thắm lắng sâu. Đúng là anh đã có nhiều thành công với những bài thơ mang đậm tình quê, những bài thơ bày tỏ tấc lòng trước nỗi đau của những mảnh đời bất hạnh. Nó có chiều sâu trí tuệ và giàu tính nhân văn. Ngôn từ và hình ảnh như chảy ra từ gan ruột, từ nội tâm sâu sắc để bật thành thơ:

Em đi buổi ấy chiều im gió
Lặng phắc cây vườn lặng bến sông
Anh chạnh lòng trước dáng hình thon nhỏ
Mà đường xa biết mấy nẻo gập ghềnh?
(Chiều lặng gió)


Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiêng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”.

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thứ hai, ngày 24 tháng mười năm 2011

Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi


DẠY VÀ HỌC. Nguyễn Trãi Đã có nhiều tôn vinh nhưng như giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài "Nguyễn Trãi - 560 năm sau vụ án Lệ chi viên":"Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá..., lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc".

Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, "Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm" "Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời "."Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc" đã chép bài thơ thần "Yên Tử "của Nguyễn Trãi;.nay xin chép tiếp các bài "Ngôn chí," "Quan hải", "Oan than" của Người kèm lời cảm nhận của Vũ Bình Lục.

Hoan nghênh các anh chị Xóm Lá dịch thơ và hòa vần.

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).

Dưới đây là bốn bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

NGÔN CHÍ


Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca


Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?


QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟


Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.


Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt - uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋


Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?


Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan


TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ - SỐ13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu: Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?


Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Chào ngày mới !

Loading...