Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Giống sắn năng suất cao, thích hợp với Tây Nguyên



DẠY VÀ HỌC. Bạn Lê Mạnh Tuấn lemanhtuankt@gmail.com hỏi: Cháu chào Bác Hoàng Kim! Cháu là Tuấn, hiện đang sinh sống tại huyện Đak Tô, tỉnh Kon Tum. Ở quê hương cháu, người dân chủ yếu trồng rất nhiều cây sắn, Nhưng cháu nhận thấy năng suất hiên tại ở quê hương cháu còn rất thấp, tầm trung bình khoảng 15 đến 20 tấn sắn trên 1 ha, chưa phát huy được hết tiềm năng của vùng và chưa có hướng phát triển bền vững vì cây sắn là một cây rất hại đất. Sau khi tham khảo một số thông tin ở trên mạng, cháu vô tình biết trang web http://cayluongthuc.blogspot.com của Bác, cháu rất thích với những thông tin mà Bác chia sẻ. Nhân tiện đây cháu xin nhờ Bác giúp đỡ tư vấn cho cháu một giống sắn năng suất cao, thích hợp với điều kiện ở Kon Tum, và có thể mua giống đó ở đâu được không ạ. Hiện tại thì cháu thấy bà con trên cháu đang trồng một loại sắn rất giống với giống KM94 trong bài của Bác, ngọn tím, thân hơi cong, bà con gọi chung đó là giống "mỳ cao sản", nhưng năng suất thì thấp hơn rất nhiều như trong bài. Rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Bác, Cháu xin chân thành cảm ơn.



Bác Hoàng Kim, BẠN NHÀ NÔNG TRẢ LỜI: Cháu Lê Mạnh Tuấn quý mến! Bác không biết cháu bao nhiêu tuổi nhưng cháu đã xem trang web http://cayluongthuc.blogspot.com của Bác có đủ danh tính, địa chỉ, tuổi tác mà chủ động xưng hô như vậy thì chứng tỏ cháu là lớp trẻ muốn bác tư vấn giúp cháu giống sắn đạt năng suất cao phù hợp với điều kiện ở Kon Tum.

Bác đề nghị cháu trồng giống sắn KM419 là giống sắn tốt như tài liệu bác kèm theo dưới đây và giới thiệu tại bài viết Mười kỹ thuật thâm canh sắn http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html. Giống sắn KM98-5 trong sản xuất bà con nông dân quen gọi là mì giống siêu bột Nông Lâm, mì cút lùn tai đỏ (vì cây thấp lá xanh cọng đỏ phân biệt với KM94 là cút cao -gọi chệch của MKUC28-77-3 và KM98-5 là mì tai xanh). Nơi liên hệ giống sắn KM419 gần nhất ở Kon Tum là đến thăm nơi trồng của ông Phạm Tiến Dũng, chủ nhiệm hợp tác xã Tam Nông, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Ông vừa mua cho bà con ở Kon Tum hai xe giống KM419 của ông Hồ Sáu chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thanh Long Phước Lộc địa chỉ 7/2 ấp An Hòa, xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cung cấp tại lô hàng số KM419-234 của ông Phạm Văn Thỏa trồng tại khu Công nghiệp Rạch Bắp, An Điền, Bến Cát, Bình Dương.



Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi ở tỉnh Đồng Nai. Ông được Chủ Tịch Nước đến thăm tại nhà riêng. http://dayvahoc.blogtiengviet.net/2013/03/08/ong_ho_sau_lam_kinh_te_gioi . Ở Tây Ninh như video dưới đây hoặc tại Địa chỉ xanh trồng mì cao sản KM419 ở Đăk Lăk có nhiều nông dân giỏi khác. Cháu cần tìm đúng người, đúng giống ở những người tử tế, giỏi nghề để học làm giàu thành công.



Tại Đắk Tô, bác Hoàng Kim rất quý mến vợ chồng bác Nguyễn Thanh Đàm (hình trên), người nông dân giỏi gần 20 năm trước đã lặn lội đường xa, xuống tận Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc ở Hưng Thịnh, Trảng Bom, Đồng Nai để mang giống sắn KM94 về trồng ở Kon Tum. KM94 là giống sắn chủ lực hiện nay. Bác Nguyễn Thanh Đàm cũng là người sau đó đã cung cấp trở lại cho bác Hoàng Kim trên 24.000 hạt giống sắn KM94 mà bác Đàm đã thu hái trên rẫy mà nhờ đó bác Hoàng Kim có được hạt sắn KM94 vật liệu chiếu xạ đột biến lý học tạo ra giống sắn KM228, KM440 (SVN4), … trong nông nghiệp hiện nay.



Biết bao nhiêu nông dân giỏi thầm lặng, cần cù, gắn bó với ruộng đồng đã làm bạn nhà nông giúp bà con láng giềng, những người quanh mình làm giàu chính đáng. Bác thực sự quý trọng những người nông dân đó. Cám ơn cháu đã hỏi để bác trả lời dù rất bận, vì đó cũng là cách để bác tỏ lòng biết ơn người dân và nghề nông.

KẾT QUẢ CHỌN TẠO VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG SẮN KM419

Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Võ Văn Quang, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Nguyễn Minh Cường, Đào Trọng Tuấn, Nguyễn Thị Lệ Dung, Trần Công Khanh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thị Cách, Nguyễn Trọng Hiển, Lê Huy Hàm, Hernan Ceballos, Manabu Ishitani và Hồ Sáu

1)Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh (NLU), Linh Trung, Thủ Đức,TP. Hồ Chí Minh; http://hcmuaf.edu.vn; http://cayluongthuc.blogspot.com; http://foodcrops.vn
2)Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF), xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên; http://www.tuaf.edu.vn/
3) Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUAF), 102 Phùng Hưng, thành phố Huế, http://huaf.edu.vn/
4)Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS), 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; http://iasvn.org.vn
5)Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS),Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội, http://vaas.org.vn
6) Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI) KM2 đường Phạm Văn Đồng, Từ Liêm, Hà Nội http://agi.gov.vn/
7)Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT), A.A. 6713 Cali, Colombia http://ciat.cgiar.org
8) Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thanh Long Phước Lộc

Nguồn: Trong sách Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 18. Chuyên đề: Một số giải pháp phát triển sắn bền vững. Tây Ninh ngày 26-8-2013, trang 58-83 (có cập nhật và bổ sung thêm kết quả và thông tin mới)

Tóm tắt
Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ cặp lai BKA900 x [KM 98-5 x KM98-5] tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệp Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) năm 2003. Việc khảo sát tập đoàn, so sánh, khảo nghiệm, nhân và trình diễn giống được thực hiện bởi Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Mạng lưới Sắn Việt Nam. Giống sắn KM 419 có đặc điểm: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 36,9 tấn / ha, hàm lượng tinh bột 28,3%, năng suất tinh bột 10,4 tấn /ha, (so với KM94 đạt năng suất củ tươi 29,3 tấn/ ha, hàm lượng tinh bột 28,2 %, năng suất tinh bột 8,2 tấn/ ha). Giống sắn KM419 cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, thích hợp với chế biến và thị trường; nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá. Giống sắn KM419 được phát hiện từ đánh giá nguồn gen 37.210 hạt giống sắn lai hữu tính tại Việt Nam, 24.073 hạt giống sắn nhập nội từ CIAT, 38 giống sắn tác giả nhập nội, 31 giống sắn địa phương. Giống sắn KM 419 hiện được trồng ước trên 8.000 ha ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Phú Yên, Kon Tum, Bắc Thái, Yên Bái, … Mondunkiri, Kratie, Kampong Cham. Giống KM419 được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm.

1.Giới thiệu
Cây sắn có tiềm năng to lớn là cây trồng của thế kỷ 21 (FAO 2013) với nhiều công dụng làm lương thực, thực phẩm (Food), thức ăn gia súc (Feed) nhiên liệu sinh học (Fuel) chế biến tinh bột (Flour) dùng trong công nghiệp thực phẩm, bún miến mì ăn liền, sirô, nước giải khát, bao bì, hồ vải, màng phủ sinh học... Thị trường sắn Việt Nam hiện có nhu cầu cao và sắn đã trở thành một trong bảy ngành hàng xuất khẩu triển vọng. Việt Nam là nước xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan với thị trường chính là Trung Quốc. Toàn quốc hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học đang đi vào hoạt động với tổng công suất trên 1067,7 triệu lít cồn / năm cần nguyên liệu 6,5 triệu tấn sắn củ tươi và 68 nhà máy chế biến tinh bột với tổng công suất 2,4 triệu tấn tinh bột sắn cần nguyên liệu 8,8 triệu tấn sắn củ tươi. Diện tích sắn Việt Nam năm 2011 đạt 559,80 nghìn ha, năng suất 17,81 tấn/ ha, sản lượng 9,87 triệu tấn (Tổng cục Thống kê 2012). So với năm 2000, sản lượng sắn đã tăng 4,98 lần, năng suất sắn đã tăng gấp đôi, chủ yếu do áp dụng các giống sắn mới và quy trình thâm canh. Những giống sắn phổ biến ở Việt Nam hiện có KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26 với tỷ lệ tương ứng 75,54 %, 5,40%, 4,50%, 3,24%, 2,70% của tổng diện tích thu hoạch sắn năm 2010 (Hoang Kim, Nguyen Van Bo et al. 2011). Giống sắn KM94 được báo Nông nghiệp Việt Nam vinh danh O du kích bắn đại bác; Giống sắn KM140 đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc năm 2009. Giống sắn tốt đã góp phần hiệu quả trong sắn Việt Nam thành tựu và bài học (Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim và tập thể 2013c). Sản xuất sắn cấp thiết đòi hỏi tiếp tục có những giống sắn mới phù hợp với chế biến nhiên liệu sinh học và tinh bột để bổ sung và thay thế cho giống sắn công nghiệp KM94 tuy có năng suất củ tươi cao thích ứng rộng nhưng còn nhược điểm cây cao, cong ở phần gốc, tán không gọn, chỉ số thu hoạch thấp, khó tăng mật độ trồng và hiện bị thoái hóa, nhiễm bệnh làm giảm năng suất. Mục tiêu đề tài “Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học” nhằm xác định được giống sắn tốt có năng suất củ tươi, năng suất bột và năng suất sắn lát khô cao, thân đẹp, nhặt mắt, tán gọn để làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học. Giống sắn KM419 đã đáp ứng tốt những yêu cầu trên. Báo cáo này trình bày kết qủa chọn tạo và phát triển giống sắn KM419.

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Vật liệu

Nguồn gen giống sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc có tổng số 344 mẫu giống sắn (Bảng 1). Đây là một trong những nguồn gen giống sắn phong phú và hiệu qủa ở châu Á. Nguồn gen giống sắn này gồm 24.073 hạt sắn lai nhập nội từ CIAT Colombia, CIAT Thái Lan, 37.210 hạt sắn lai của Việt Nam, 38 giống sắn tác giả triển vọng của Thái Lan, Trung Quốc, Colombia, Brazil, Việt Nam và 31 giống sắn địa phương. Kết quả tuyển được 98 giống triển vọng và chọn được giống sắn KM419 (Hoang Kim et al. 2010).

Nguồn gốc giống sắn KM 419: Giống sắn KM419 là con lai của tổ hợp BKA900 x (KM 98-5 x KM 98-5) do TS. Hoàng Kim chủ trì lai tạo ở Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc năm 2003 thuộc dự án “Phát triển giống sắn 2001-2005” (Hoang Kim 2007, 2008, 2010a, 2010b), phát triển nguồn gen trong đề tài “Tuyển chọn giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng sắn đạt năng suất cao ổn định tại Tây Nguyên 2004-2006” (Trần Công Khanh, Hoàng Kim 2007). “Tuyển chọn các dòng sắn lai đơn bội kép nhập nội từ CIAT 2007-2008” (Hoàng Kim và tập thể 2009), khảo nghiệm giống tác giả trong đề tài hợp tác quốc tế IFAD/ICRISAT-CIAT-VAAS-NLU “Khai thác cây nhiên liệu sinh học chịu hạn sắn, jatropha, lúa miến, để nâng cao sinh kế và thu nhập cho các nông hộ sản xuất nhỏ ở Việt Nam 2009-2010” (Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Rod Lefroy et al. 2011), khảo nghiệm giống sắn quốc gia đề tài độc lập cấp Nhà nước “Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học 2010-2013”do GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn làm chủ nhiệm. Giống sắn KM419 nổi bật trong hầu hết các khảo nghiệm giống (Trần Ngọc Ngoạn, Hoàng Kim và tập thể 2012).



Giống sắn KM 419 có đặc điểm: Thời gian thu hoạch thích hợp 7 – 10 tháng sau trồng, bổ sung tốt cho giống sắn KM94, KM140 để giúp nông dân rãi vụ thu hoạch; Năng suất củ tươi đạt 36,9 tấn/ ha, năng suất bột đạt 9,5 tấn/ ha (so với giống sắn KM94 đạt năng suất bột 7,6 tấn/ ha); Hàm lượng tinh bột 27,6- 28,8% (trung bình 28,3%); tỷ lệ chất khô 42,5%; Cây cao vừa phải, ít đổ ngã, thân xanh, lá xanh đậm, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm, chỉ số thu hoạch 68%; Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ trắng; Ít nhiễm sâu bệnh, thích nghi nhiều vùng sinh thái; Giống sắn KM 419 có nhược điểm: Thời gian giữ bột ngắn hơn so với giống sắn KM94 (nếu thu hoạch muộn hơn 10 tháng sau trồng thì hàm lượng tinh bột thấp hơn KM94), bệnh đốm lá trung bình.



2.2. Phương pháp chọn tạo và phát triển giống sắn KM 419

Quy trình công nghệ chọn tạo và nhân giống sắn lai (Hoàng Kim 2003) bao gồm tám bước.
1) Quản lý nguồn gen và lựa chọn cặp lai;
2) Tạo dòng bố mẹ và duy trì giống gốc;
3) Lai hữu tính và thu hạt sắn lai tổ hợp BKA 900x (KM98-5 x KM98-5) theo phương thức thụ phấn có kiểm soát, thu được 6.389 hạt sắn lai;
4) Gieo ươm hạt lai và tuyển chọn dòng F1 chọn 612 dòng.
5) Khảo sát đơn luống SYT và tuyển sơ bộ PYT1, PYT2 đối với 45 dòng sắn tốt.
6) So sánh giống sắn NVT1, NVT2 và khảo nghiệm cơ bản RYT kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD). Mỗi giống trồng 25 m2 ba lần nhắc lại. Thu hoạch củ, tuyển chọn giống sắn tốt đáp ứng mục tiêu đã định lúc 10 tháng sau trồng.
7) Khảo nghiệm sinh thái, xác định mật độ khoảng cách trồng, lượng phân bón hợp lý đặc biệt là phân kali, thời gian thu hoạch hợp lý cho một số giống sắn tiêu biểu trên đất đỏ và đất xám Đông Nam Bộ, phương thức xen canh sắn lạc và các cây họ đậu, nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ cho giống mới chọn tạo, trình diễn tập huấn cho mạng lưới cộng tác viên.
8) Sản xuất và cung ứng giống sắn gốc cho trên 360 ha cho các công ty, dự án, mạng lưới người nông dân giỏi.

Cách chuyển giao tiến bộ kỹ thuật theo phương thức: 1) Thiết lập cánh đồng mẫu cùng nông dân đánh giá giống và kỹ thuật canh tác trực tiếp trên đồng ruộng (Establishment of Demonstration Fields and FPR-Farmer Participatory Research) 2)10T Mười biện pháp chính để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp. 3) 6M Sáu yếu tố liên kết thành công (Hoàng Kim, Nguyễn Văn Bộ và tập thể 2013c).

Quy phạm khảo nghiệm, trình diễn giống sắn: Thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống sắn QCVN 01-61: 2011/BNNPTNT thống nhất trên toàn mạng lưới nghiên cứu và khuyến nông sắn Việt Nam. Việc đánh giá giống tại các điểm trình diễn, sản xuất thử được tổ chức vào thời điểm thu hoạch thông qua hội thảo đầu bờ với sự tham gia của nông dân, cán bộ khuyến nông cơ sở, các doanh nghiệp chế biến sắn và lãnh đạo địa phương. Công thức phân bón cho sắn là 10 tấn phân chuồng + 90 kg N + 60 kg P2O5 + 120 kg K2O (kg/ha), mật độ trồng 10.000 - 12.500 cây/ ha.

Chỉ tiêu theo dõi và xử lý phân tích thống kê: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá theo phương pháp chuẩn của CIAT. Xác định hàm lượng tinh bột bằng cân chuyên dùng Reinmahn. Sử dụng các phần mềm MSTATC, SAS 9.1 để xử lý Anova và phân hạng các số liệu thống kê theo Duncan ở mức ý nghĩa 1% hoặc 5% dựa trên kết quả để đánh giá giống sắn. Phân tích tính thích nghi và chỉ số ổn định của các giống sắn theo mô hình của Eberhart và Russel (1966)

3. Kết qủa và thảo luận

3.1. So sánh giống sắn chính quy và khảo nghiệm cơ bản

Việc nhập nội nguồn gen sắn quý, lai hữu tính và tạo chọn đầu dòng ưu tú theo hướng đơn bội kép phương pháp CIAT (Ceballos, H. et al. 2007, Letini, Z. and H. Ceballos. 2003) đã đạt được kết quả khả quan.

Bảng 2 cho thấy một số đầu dòng ưu tú đã đạt năng suất tinh bột vượt trội hơn hẵn so với giống sắn KM94.



Kết quả khảo nghiệm chín giống sắn triển vọng trên đất xám Tây Ninh, đất nâu vàng Đồng Nai và đất đỏ Đồng Nai năm 2010 (Bảng 3, Bảng 4, Bảng 5) đã chọn được năm giống sắn tốt là KM419, KM414, KM397, KM325, KM228 để bổ sung vào bộ giống sắn hiện tại.







Giống sắn KM419 đạt năng suất củ tươi 45,9 tấn/ha, năng suất bột 13,1 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 17,7 tấn/ha, dạng cây đẹp, thẳng, tán gọn, nhặt mắt, củ đồng đều được nông dân ưa chuộng hơn cả (Nguyễn Thị Lệ Dung 2012).







Kết quả đã xác định được sáu giống sắn KM419, KM414, KM140, KM397, KM444, KM325 và HB60 đạt năng suất sắn lát khô, năng suất tinh bột, năng suất củ tươi vượt trội hơn hẵn so với giống sắn KM94. Đặc biệt là giống sắn KM419 dẫn đầu năng suất cả ba thí nghiệm, ít sâu bệnh, tán gọn, thích hợp trồng dày.

3.3. Khảo nghiệm và phát triển giống sắn KM 419 tại các vùng sinh thái
Đề tài “Xác định bộ giống sắn năng suất cao và lượng phân bón NPK thích hợp cho canh tác sắn ở vùng Đông Nam Bộ”(Đào Trọng Tuấn 2011). Mục tiêu : Tuyển chọn bộ giống sắn thích hợp với vùng sinh thái Đông Nam Bộ, có năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột và tỷ lệ chất khô cao để bổ sung vào bộ giống sắn hiện tại; Xác định lượng phân bón NPK thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây sắn tại vùng nghiên cứu, mang lại năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột và tỷ lệ chất khô cao. Nội dung đề tài gồm ba khảo nghiệm 8 giống sắn triển vọng SVN1 (KM414), SVN2 (KM397), SVN3 (KM325); SVN4 (KM440), SVN5 (KM419) , SVN7 (KM444=HL2004-18) ) trên ba địa điểm (Bảng 10, Bảng 11 và Bảng 12) và hai thí nghiệm ảnh hưởng của 5 công thức phân bón NPK (Công thức 1: 0 kg N + 0 kg P2O5 + 0 kg K2O; Công thức 2: 40 kg N + 20 kg P2O5 + 40 kg K2O ; Công thức 3: 80 kg N + 40 kg P2O5 + 80 kg K2O; Công thức 4: 120 kg N + 60 kg P2O5 + 120 kg K2O; Công thức 5: 160 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O) trên hai địa điểm thuộc vùng Đông Nam Bộ trong vụ trồng 2012 - 2013.

Kết quả của năm thí nghiệm đã cho thấy: 1) Hai giống sắn KM419 và KM444 có sức sinh trưởng khỏe, năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột và tỷ lệ sắn lát khô cao, dạng thân thẳng, ít cành, tán gọn, củ đều, thuôn, dài là hai giống tốt nhất được tuyển chọn để bổ sung vào bộ giống sắn hiện tại (Bảng 10, Bảng 11 và Bảng 12). 2) Lượng phân bón 80 kg N + 40 kg P2O5 + 80 kg K2O và 120 kg N + 60 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha cho hiệu quả cao nhất đối với canh tác sắn trên đất đỏ; đối với canh tác sắn trên đất nâu vàng thì lượng bón 120 kg N + 60 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha cho hiệu quả cao nhất.









Ảnh hưởng của ba địa điểm trồng đến năng suất củ tươi, năng suất bột, năng suất sắn lát khô của các giống sắn thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 13, Bảng 14 và Bảng 15. Năng suất sắn củ tươi bình quân của hai giống sắn KM419 và KM444 đạt cao nhất, tương ứng là 47,71 và 47,18 tấn/ha, đạt 164% và 162% so với năng suất của giống sắn KM94 đạt 29,03 tấn/ ha (Bảng 13).





Năng suất sắn lát khô bình quân đạt cao nhất ở hai giống sắn KM419 và KM444, tương ứng là 18,75 và 18,23 tấn/ha, đạt 170% và 165% so với năng suất sắn lát khô của giống sắn KM94 đạt 11,03 tấn/ ha (Bảng 15).



KM419 trong sản xuất: Giống sắn KM419 được sản xuất nhân lên rất nhanh chóng. Tổng diện tích trồng giống sắn KM419 hiện tại ước đạt trên 8000 ha tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Ninh Thuận, Đăk Lăk, Phú Yên, Kon Tum, Bắc Thái, Yên Bái, … Mondunkiri, Kratie, Kampong Cham.

Một trong những địa điểm thử nghiệm thành công giống sắn KM419 là tỉnh Đăk Lăk thuộc tiểu phần dự án cạnh tranh nông nghiệp “Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk” do Ngân hàng Thế giới tài trợ, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Đăk Lăk là cơ quan chủ quản, Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây Dựng & Tài Nguyên Nước (SHT) là cơ quan chủ trì, Tiến sĩ Hoàng Kim làm chủ nhiệm dự án. Địa điểm thực hiện tại huyện Ea Kar và huyện Krông Bông. Thời gian thực hiện từ tháng 6/ 2012 đến tháng 6/ 2013.

Sản lượng sắn tỉnh Đăk Lăk năm 2011 đạt 610,10 nghìn tấn trên diện tích 31.800 ha, năng suất bình quân 19,18 tấn/ha. Đất sắn của tỉnh tập trung chủ yếu ở hai huyện Krông Bông và Ea Kar trên đất dốc nghèo dinh dưỡng, vì đất bằng của tỉnh phần lớn đã đưa vào sử dụng trồng các loại cây lâu năm như cà phê, tiêu, cao su. Địa điểm thực hiện dự án là vùng nguyên liệu trực tiếp của hai Nhà máy Chế biến Tinh Bột Sắn Eakar và Krông Bông. Những xã thuộc vùng dự án gồm Cư Pui, Hòa Phong, Cư Kty (huyện Krông Bông), Ea Tih, Ea Sar, Ea Sô, Cư Elang (huyện Ea Kar). Đây là những xã nghèo, trồng nhiều sắn, đất canh tác phần lớn bạc màu, ngành nghề chưa phát triển, nông dân thu nhập thấp, các hộ thuộc diện xóa đói giảm nghèo cao, có nhiều hộ đồng bào dân tộc ở vùng sâu vùng xa rất cần sự hổ trợ phát triển. Chủ đề của dự án xuất phát từ sự lựa chọn thực tế tại hội thảo bàn tròn với nông dân trên địa bàn tỉnh và thực tế sản xuất. Mục tiêu cụ thể là chuyển giao quy trình sản xuất sắn theo hướng bền vững, thực hiện mô hình thâm canh tổng hợp nhằm nâng cao năng suất sắn, tăng thu nhập cho người nông dân, xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất và nhà máy chế biến; nâng cao nhận thức và kỹ năng của nông dân thông qua các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật sản xuất sắn theo hướng bền vững nhằm nâng cao năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế.

Dự án đã thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đạt chất lượng tốt tất cả những nội dung đề ra, đáp ứng tốt mục tiêu và vượt mức yêu cầu. Trong các kêt quả nổi bật của dự án có việc xây dựng được 12 mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng giống sắn mới KM419 (Hình 3) trên quy mô 12 ha ở sáu xã.



Hình 3: So sánh năng suất sắn giống KM419 của các hộ tham gia xây dựng mô hình với năng suất sắn trung bình tại địa phương

Kết quả thu hoạch thực tế năng suất sắn củ tươi tại sáu nông hộ thực nghiệm ở các xã Cư Pui, Hòa Phong, Cư Kty (huyện Krông Bông) Ea Tyh, Ea Sar (huyện Ea kar) mỗi điểm thu hoạch 100 m2 (10 m x 10 m) đã đạt năng suất sắn củ tươi bình quân là 388 kg/100 m2 với sự chứng kiến của tổng số 30+30+30+24+35+35=184 nông dân tham gia hội nghị đầu bờ, hàm lượng tinh bột đạt 24,0-28,7% (phụ thuộc thời tiết lúc thu hoạch, tháng sau trồng) tương đương với giống sắn KM94 ở cùng thời điểm thu hoạch 7-11 tháng sau trồng. Giống sắn mới mang lại hiệu quả kinh tế cao (Bảng 17) nên được nông dân ưa chuộng và nhân nhanh trong sản xuất.




















Kết quả "nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất cây sắn tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên" (Nguyễn Thị Trúc Mai, 2013) đã đúc kết thành qủa bước đầu của các thí nghiệm phân bón, mật độ trồng, thời điểm thu hoạch... Giống sắn KM98-5 (do nhà máy chế biến tinh bột sắn Đồng Xuân đầu tư vùng nguyên liệu sắn năm 2009) chiếm 27,90 % diện tích được thay thế cho giống sắn KM94 bị nhiễm bệnh chồi rồng. Các giống sắn mới khảo nghiệm KM419, KM414, KM440, KM397 đã thể hiện sự vượt trội năng suất và hiện đang được tỉnh quan tâm đầu tư tuyển chọn, khảo nghiệm sản xuất để phát triển cùng với  Quy trình trồng đậu phụng xen sắn tại Phú Yên .

Kết quả khảo nghiệm và đáng giá giống sắn  tại các vùng sinh thái Việt Nam đã kết luận KM419 là giống sắn được tuyển chọn (Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Trọng Hiễn, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2013).     




4. Kết luận và đề nghị

4.1 Kết luận

Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ cặp lai BKA900 x [KM 98-5 x KM98-5] tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệp Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) năm 2003. Việc khảo sát tập đoàn, so sánh, khảo nghiệm, nhân và trình diễn giống được thực hiện bởi Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Mạng lưới Sắn Việt Nam.

Qua mười năm (2003- 2013) nghiên cứu chọn tạo, đánh giá và khảo nghiệm giống sắn theo quy chuẩn quốc gia. Kết quả đã xác định được giống sắn KM419 là giống sắn tốt với các đặc điểm: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 36,9 tấn / ha, hàm lượng tinh bột 28,3%, năng suất tinh bột 10,4 tấn /ha, (so với KM94 đạt năng suất củ tươi 29,3 tấn/ ha, hàm lượng tinh bột 28,2 %, năng suất tinh bột 8,2 tấn/ ha). Giống sắn KM419 cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, thích hợp với chế biến và thị trường; nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá.

Giống sắn KM 419 cho năng suất ổn định và thích nghi rộng trên các vùng sinh thái Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung. Giống KM419 hiện được trồng ước trên 8.000 ha tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Kon Tum, … Mondunkiri, Kratie, Kampong Cham được nông dân các địa phương ưa chuộng, gọi là sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm, và phát triển nhanh trong sản xuất.

4.2. Đề nghị

Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhân đặc cách giống sắn KM419 để phát triển trong sản xuất tại vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. 

5. Lời cám ơn

Giống sắn KM419 là công trình tập thể với sự đóng góp của nhiều người. Chúng tôi trân trọng cám ơn Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) đã cung cấp nguồn gen giống sắn và hổ trợ kỹ thuật; Bộ Nông nghiệp & PTNT (MARD), Cục Trồng Trọt, Chương trình Giống Cây trồng, Giống Vật nuôi và Giống Cây Lâm nghiệp đã cho phép nhập nội nguồn gen giống sắn. Mạng lưới Nghiên cứu và Khuyến nông Sắn Việt Nam (VNCP), Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia đã hổ trợ nghiên cứu phát triển hiệu quả. Tập thể công chức Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC), đặc biệt là Bộ môn Cây Có Củ và Hệ thống Canh tác đã bảo tồn và tuyển chọn nguồn gen. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU) và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF), Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUAF) đã hợp tác nghiên cứu phát triển giống sắn KM419.


6. Tài liệu tham khảo

1) Chính phủ Việt Nam 2010. Bản tin tiếng Anh và hình ảnh liên quan đến Giống sắn KM140, giải pháp khoa học công nghệ đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc VIFOTEC. Lễ trao giải tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 19.1. 2010 http://news.gov.vn/Home/VIFOTEC-2009-boasts-for-high-applicability/20101/6051.vgp

2) CÂY LƯƠNG THỰC 2012a. Mười kỹ thuật thâm canh sắn http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html

3) CÂY LƯƠNG THỰC 2012b. Địa chỉ xanh trồng mì cao sản KM419 ở Đăk Lăk http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/10/ia-chi-xanh-trong-mi-cao-san-km419-o-ak.html

4) CÂY LƯƠNG THỰC 2011. Báo Nông nghiệp Việt Nam. KM94 O du kích bắn đại bác. http://cayluongthuc.blogspot.com/2011/08/o-du-kich-ban-ai-bac.html

5) Ceballos, H., J.C. Perez, C. Iglesias, M. Fregene, F. Calle, G. Jaramillo, N. Morante and J. Lopez. 2007b. The use of doubled-haploids in cassava breeding. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia. Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. 7th Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp.150-160. http://www.ciat.cgiar.org/asia_cassava

6) Đào Trọng Tuấn 2013. Xác định giống sắn năng suất cao và lượng phân bón NPK thích hợp cho canh tác sắn tại vùng Đông Nam Bộ. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Trồng trọt, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 135 trang.

7) Hoàng Kim, 2013a. Báo cáo Tổng kết Dự án: Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đắc Lăk . Tài liệu kèm băng DVD và tờ bướm Quy trình kỹ thuật canh tác sắn, Sở Nông nghiệp &PTNT Đăk Lak, 68 trang. http://cayluongthuc.blogspot.com/2013/07/xay-dung-mo-hinh-san-xuat-san-theo.html

8) Hoang Kim, Le Huy Ham, Manabu Ishitani, Hernan Ceballos, Nguyen Van Bo, Tran Ngoc Ngoan, Kazuo Kawano, Reinhardt Howeler, Rod Lefroy, Nguyen Phuong, Hoang Long, Nguyen Thi Le Dung, Tran Cong Khanh, Vo Van Quang, Dao Trong Tuan, Nguyen Minh Cuong, Nguyen Van Vu and Nguyen Van Dong 2013b. Vietnam cassava breeding overview: the broad perspective. Presentation to Kickoff Meeting of a Cooperative Research Project under the East Asia Joint Research Program (e-ASIA JRP) at AGI, Hanoi on Jan.8 and 9, 2013.http://foodcrops.blogspot.com/2013/01/food-crops.html

9) Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Võ Văn Quang, Nguyễn Thị Lệ Dung, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Đào Trọng Tuấn, Nguyễn Minh Cường, Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Bộ, Hernan Ceballos, Manabu Ishitani 2012. Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM419. Trong tài liệu: Hội nghị Khoa học Khoa Nông học 2012, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ngày 20.12.2012. Trang 186-195

10) Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Rod Lefroy, Keith Fahrney, Hernan Ceballos, Nguyen Phuong, Tran Cong Khanh, Nguyen Trong Hien, Hoang Long, Vo Van Quang, Nguyen Thi Thien Phuong, Nguyen Thi Le Dung, Bui Huy Hop, Trinh Van My, Le Thi Yen, 2011. Cassava for biofuel in Vietnam. Paper presented at IFAD/ICRISAT Project Final Meeting “ Harnessing water –use efficient bio-energy crops for enhancing livelihood opportunities of smallholder farmers in Asia, Africa and Latin America" “Linking the poor to global markets: Pro-poor development of biofuel” supply chains Ho Chi Minh city, 14-15 April 2011.http://cassavaviet.blogspot.com/2011/04/cassava-for-biofuel-in-vietnam.html

11) Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Hoang Long, Nguyen Trong Hien, Hernan Ceballos and Reinhardt R.H., 2010. Current situation of cassava in Vietnam. In: A New Furture for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor, 8th Asian Cassava Research Workshop October 20 – 24, 2008 in Vientiane, Lao PDR.p. 100-112.

12) Hoang Kim, Nguyen Phuong, Hoang Long, Tran Cong Khanh, Hernan Ceballos, Rod Lefroy, Keith Fahrney, Tin Maung Aye and Reinhardt Howeler 2010. Recent progress in cassava breeding and the selection of improved cultivars CIAT, 2010. In: A new Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. 8 th Regional Workshop, held in Vientiane, Lao PDR. Oct 20 - 24, 2008, papers 223 - 233.

13) Hoàng Kim, 2009. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Tuyển chọn các dòng sắn lai đơn bội kép nhập nội từ CIAT. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 125 trang

14) Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Reinhardt R,H, and Hernan C., 2008. Current Situation of Cassava in Vietnam and the selection of cassava doubled haploid (DH) lines derived from CIAT. In: Cassava meeting the challenges of the new millennium hosted by IPBO- Ghent University, Belgium 21-25 July 2008. SP03-16. pp. 63

15) Hoang Kim, Tran Ngoc Ngoan, Trinh Phuong Loan, Bui Trang Viet, Vo Van Tuan, Tran Cong Khanh, Tran Ngoc Quyen and Hernan Ceballos 2007. Genetic improvement of cassava in Vietnam: Current status and future approaches. In: CIAT 2007, Cassava research and development in Asia. Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. R.H. Howeler (Ed.). p. 118-124

16) Hoàng Kim, 2003. Công nghệ chọn tạo và nhân giống sắn lai. Trong sách: Công nghệ giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp, tập 2. GS. Ngô Thế Dân, TS. Lê Hưng Quốc (Chủ biên), trang 95-108

17) Kazuo Kawano 2009. Cassava and Vietnam: Now and Then (Cassava and Vietnam: Kazuo Kawano and NHK TV Trips Report)http://foodcrops.blogspot.com/2012/09/cassava-and-vietnam-now-and-then.html

18) Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim, Lê Quốc Doanh, Trần Ngọc Ngoạn, Bùi Chí Bửu, Rod Lefroy, Lê Huy Hàm, Mai Thành Phụng, Trần Viễn Thông 2013. Sắn Việt Nam thành tựu và bài học. Trong tài liệu DIỄN ĐÀN KHUYẾN NÔNG @ NÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 11 - 2013 Chuyên đề “Một số giải pháp pháp phát triển sắn bền vững” do Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia phối hợp với Sở Nông nghiệp &PTNT tổ chức tại Trung tâm học tập sinh hoạt thanh thiếu nhi tỉnh Tây Ninh, ngày 26/8/2013 http://cayluongthuc.blogspot.com/2013/09/san-viet-nam-thanh-tuu-va-bai-hoc.html.

* Nguyen Van Bo, Hoang Kim, Le Quoc Doanh, Tran Ngoc Ngoan, Bui Chi Buu, Rod Lefroy, Le Huy Ham, Mai Thanh Phung, Tran Vien Thong 2013. Vietnam cassava achievement and learnt lessons (Bản tin tiếng Anh của bài báo Sắn Việt Nam thành tựu và bài học) http://cassavaviet.blogspot.com/2013/09/vietnam-cassava-achievement-and-learnt.html

19) Nguyễn Thị Lệ Dung 2012. Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 140 trang.

20) Nguyễn Thị Trúc Mai 2013.  Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất cây sắn tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.  Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Nông Lâm Huế, 135 trang.

21) Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007. Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM140. Tài liệu báo cáo công nhận giống sắn KM140. Hội nghị nghiệm thu đề tài Bộ Nông nghiệp & PTNT. 45 trang. Quyết định của Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống số 3468/QĐ-BNN-TT ngày 5 tháng 11 năm 2007. Trong sách: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp (Journal of Agricultural Sciences and Technology) Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, số 1&2/2007, trang 14-19.

22) Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Trọng Hiển, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2013. Kết quả khảo nghiệm giống sắn  tại các vùng sinh thái Việt Nam. Báo cáo nghiệm thu Đề tài Độc lập cấp Nhà nước (đang in)

Selection and development of hybrid cassava variety KM 419

Abstract
Cassava variety KM 419 is a hybrid selected from BKA900 x (KM 98-5 x KM98-5) cross by Hung Loc Agricultural Research Center belong to the Institute of IAS in 2003 and developed by NLU. KM 419 was widely tested, demonstrated and selected by Hoang Kim et.al. 2009, Hoang Kim, Nguyen Van Bo et al. 2010a, Hoang Kim Nguyen Van Bo et al. 2010b, Hoang Kim Nguyen Van Bo et al. 2011, Nguyen Thi Le Dung 2011, Hoang Kim, Tran Ngoc Ngoan et.al 2012, Dao Trong Tuan 2013, Hoang Kim et al. 2013a, Hoang Kim et al. 2013b, most members of Viet Nam Cassava Research and Extension Network (VNCP) and cassava growers. In 2012, more than 8,000 ha of KM 419 were planted in Tay Ninh, Dong Nai, Binh Phuoc, Binh Duong, Ninh Thuan, DakLak, Bac Thai, Yen Bai and Mondunkiri, Kratie, Kampong Cham. KM 419 is a short growth duration variety (best harvesting time 7-10 months after planting) with fresh root yield 36.9 ton/ ha (higher than KM 94 about 12-25% ), starch content 28.3% and starch yield about 10.4 ton/ha for 7-10 months after planting, good root shape with white flesh, high adaptability to various production conditions. KM419 is a supplementary variety for main variety KM 94 in order to extend harvesting time.
Key words: cassava breeding; KM419 cassava variety.

Video yêu thích

Cassava in Vietnam: Save and Grow
Tây Ninh hướng đến thâm canh cây mì bền vững

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn
Đăng nhận xét