Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Cảm nhận gửi thầy Nguyễn Lân Dũng



DẠYVÀ HỌC. Em đọc bài viết Thầy Chiến của chúng tôi  và thấy thầy Lân Dũng uyên bác như nhà báo lão thành Phan Quang- người mà nhà thư pháp Triệu Hoa Trạch nổi tiếng Trung Hoa đã quý trọng tặng ba chữ “Sát Cổ Kim”, nhân cách của Thầy cũng thật giống thầy Nguyễn Lân. Cách làm việc tận tụy và lối đóng góp có lý có tình của thầy có sức thuyết phục và dễ làm mọi người đồng cảm. Em nhớ Doãn Hĩ, quan giữ ải Hàm Cốc, đã níu chân Lão Tử “nếu ngài quyết đi ẩn cư xin vì tôi để lại một bộ sách”, đời sau nhờ đó mà có được Đạo đức kinh. Nay thầy Lân Dũng đã trọng tuối, mong thầy vì đời mà gượng làm sớm bộ sách giáo khoa sinh học để lưu lại kết nối với bộ sách vi sinh vật học và hỏi gì đáp nấy đã có. Thầy nếu có điều kiện thì cũng góp thêm đôi lời tâm huyết nữa cho Thực trạng giáo dục và những kiến nghị, bàn sâu thêm về các định hướng chiến lược và quyết sách quan trọng chấn hưng giáo dục Việt Nam. Cách thầy đúc kết các bài viết về nhân cách người trí thức thật sự bổ ích và rất quý thầy ơi.
 

THẦY CHIẾN CỦA CHÚNG TÔI

Nguyễn Lân Dũng

Tôi được gặp GS. Nguyễn Văn Chiển lần đầu tiên vào năm 1950. Khi đó ông đến thăm bố tôi tại Thái Nguyên giữa những ngày kháng chiến sôi động nhất. Ông chỉ có một chiếc ba lô nhỏ nhưng trong đó có cả một chiếc kính hiển vi.(hình trên : GS. Nguyễn Văn Chiến bên trái “người anh cả của ngành Địa chất Việt Nam”)

Thời đó gia đình chúng tôi phải dùng một loại dây leo, theo kinh nghiệm dân gian giập nát ra rồi đánh nước cho trong mới có thể dùng được (hồi ấy lấy đâu ra phèn chua!). Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Thầy rất chú ý và lập tức quan sát các bộ phận của cây này, lại còn dùng lưỡi dao cạo cắt thành lớp mỏng rồi soi dưới kính hiển vi và vẽ lại cấu tạo hiển vi của tiêu bản này vào sổ tay của Thày. Đấy có lẽ là hình ảnh đầu tiên về nghiên cứu khoa học mà tôi nhận thức được khi mới 12 tuổi. Năm 1951, cả gia đình Thày và gia đình Bố tôi được chuyển sang Khu học xá Nam Ninh để hai ông tham gia đào tạo biết bao các thế hệ nhà giáo và nhà khoa học nước ta. Hòa bình lập lại Thày chuyển về Hà Nội là tôi lại vinh dự là lớp sinh viên Đại học đầu tiên của Thày sau ngày hòa bình lập lại.

Năm 2008 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Thày đã có biết bao nhiêu bài báo ca ngợi các thành tích lớn lao của Thày trong giáo dục và trong khoa học.

Nhà báo Thúy Hằng viết: Thầy Chiển là con út trong một gia đình trung nông ở thôn Ngọc Nội, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1919, cậu bé Chiển ra đời, cũng là năm thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai hóa thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam. 6 tuổi Chiển bắt đầu học chữ Nho. 9 tuổi, sang trường làng bên học chữ quốc ngữ. Hết cấp sơ học, cậu phải ra tận Phú Thụy, cách nhà 15km để trọ học, vì cả Nam phần Bắc Ninh lúc đó chỉ có duy nhất một trường tiểu học kiêm bị: tức có đủ 6 lớp học đồng ấu, dự bị, sơ đẳng: lớp nhì I, lớp nhì II, lớp nhất. Học xong Trường Phú Thụy, Chiển phải đi xa hơn nữa, tới Hà Nội, thi vào học Trường Bưởi nổi tiếng. Ở đấy anh đã được học những thầy nổi tiếng như Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn,... Chăm chỉ, lành hiền và cần mẫn, Chiển mang theo cả niềm ước vọng của mẹ cha mong cho con được ăn học nên người. Có những năm quá khó khăn, bố mất, rồi hai năm liền (1935 - 1936) quê nhà bị vỡ đê, người mẹ tảo tần hàng tháng vẫn thường gánh gạo, mỡ và tương ra Hà Nội nuôi cho con ăn học cũng ngậm ngùi nước mắt bảo rằng “Nhà không còn hạt thóc nào cho con đi học nữa”, Chiển tưởng như đã phải nghỉ học. Nhưng sự chăm chỉ và niềm khát khao học tập của Chiển cuối cùng cũng đã được đền đáp. Ngay lúc khó khăn nhất ấy, nhờ học giỏi anh đã được cấp học bổng toàn phần, được xếp vào ở nội trú trong trường và toàn tâm toàn ý vào việc học. Năm 1941, sau 7 năm học ở Trường Bưởi, chàng trai “nhà quê” ấy đã đỗ đầu kỳ thi tú tài toàn xứ Đông Dương. Ông viết: “Tháng 9 năm 1941, tôi ghi tên đăng ký học chứng chỉ Toán đại cương ở Trường đại học Khoa học mới mở. Việc lựa chọn này không có khó khăn gì, sau khi đã lướt qua các trường khác. Y ư? Phải học 7 năm, quá dài trong khi mẹ tôi đã già, cần ra trường sớm để phụng dưỡng mẹ. Học Dược ư? Một nghề có thể cho phép mình sống độc lập không phụ thuộc vào ai, nhưng quy định là ngay năm đầu phải ký quỹ 120 đồng (bằng giá 10 xe đạp Te-rô thời đó) thực tập ở các hiệu bào chế thuốc. Món tiền lớn quá lấy đâu ra? Vào luật để ra làm quan bóp dân, thối nát quá tôi loại bỏ từ lâu. May có Trường Khoa học mới mở ra, phù hợp với sở thích của mình cho nên vào Trường Khoa học là đúng.” Thầy Chiển đã giải thích như vậy, giản dị và không ồn ào về sự lựa chọn thuở ban đầu ấy. Thầy đã đến với Địa chất, và đó gần như là sự “se duyên” của số phận. Trong công việc này, thầy tìm thấy niềm vui, được cống hiến, được khám phá. Và cuộc đời đã được nhận từ thầy thật nhiều điều, “người anh cả của ngành Địa chất Việt Nam”. 

Thày Chiển kể: Tháng 6-1941 sau khi đỗ đầu kỳ thi tú tài toàn Đông Dương, tôi đến thỉnh giáo thầy Hãn, thầy khuyên học tiếp Đại học Đông Dương. Tốt nghiệp trường này với 4 chứng chỉ kèm theo gồm: Toán đại cương, Vật lý, Hóa học và Địa chất, khi được GS nổi tiếng người Pháp Hôp - Phê mời về làm việc tại phòng thí nghiệm địa chất, tôi lại đến thỉnh giáo thầy Hoàng Xuân Hãn. Thầy Hãn không chút do dự, nói thẳng: “Giỏi Toán như tôi hay giỏi Vật lý như GS Ngụy Như Kon Tum rốt cục cũng chưa làm được gì cho đất nước, vì nước ta quá nghèo không có phòng thí nghiệm. Riêng khoa học Địa chất thì cả nước là một phòng thí nghiệm bao la, chỉ sợ không có chí…”. Lời khuyên của thầy Hãn đã làm thay đổi cuộc đời tôi, tôi quyết tâm gắn cả cuộc đời mình với ngành khoa học Địa chất.

Cách mạng tháng Tám thành công, GS Nguyễn Văn Chiển đảm nhiệm việc giảng dạy môn Địa chất tại nhiều trường Đại học. Chưa cống hiến được nhiều cho ngành khoa học mới mẻ này, nhưng lại nổi bật với vai trò quản lý và tổ chức giáo dục nên thầy giáo trẻ Nguyễn Văn Chiển được cách mạng giao phó nhiều trọng trách. Trải suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Thực dân Pháp, tại chiến khu Việt Bắc Nguyễn Văn Chiển đã cùng các cộng sự kiên trì đào tạo, biên soạn nhiều giáo trình và tổ chức giảng dạy ở nhiều môn khoa học khác nhau. Trẻ nhưng GS Chiển sớm trở thành trụ cột của trường trung học kháng chiến đầu tiên tại Phú Thọ (1947-1950), rồi Hiệu trưởng Trường Sư phạm T.Ư Việt Bắc, Giám đốc khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) từ 1951-1953.

Cùng thời điểm này với vai trò Thư ký Ban cải cách giáo dục, GS Chiển đã góp phần quan trọng trong việc hình thành hệ thống giáo dục Việt Nam mà trước đó vẫn theo mô hình của Pháp. Chính GS Chiển là người được cử mang thư của Bác Hồ sang Trung Quốc phối hợp cùng nước bạn tổ chức khu học xá Nam Ninh, đây cũng là cái nôi đào tạo nhiều trí thức lớn, nhiều nhà khoa học đầu ngành, nhiều cán bộ cao cấp cho đất nước. Kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, theo yêu cầu cách mạng GS Chiển vẫn phải đảm đương nhiệm vụ quản lý Trường Đại học Khoa học trên phố Lê Thánh Tông (Hà Nội). Năm 1956 khi hàng loạt các trường ĐH mới thành lập như: Bách khoa, Tổng hợp, Sư phạm… GS Chiển mới có điều kiện toàn tâm toàn ý cống hiến cho ngành khoa học Địa chất nước nhà.

Thôi nhiệm vụ quản lý, GS Chiển cùng hai cộng sự chuyển toàn bộ phòng thí nghiệm Địa chất từ Đại học Khoa học về Đại học Bách khoa Hà Nội, nhiệm vụ đào tạo những lớp kỹ sư Địa chất đầu tiên cho miền Bắc, phục vụ kịp thời nhu cầu điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản cho đất nước. Đây là công việc cực kỳ khó khăn vì mọi thứ lúc đó đều mới mẻ, chưa có tiền lệ từ chương trình đến giáo trình giảng dạy. GS Chiển vừa phải tự học thêm, vừa phải dạy đuổi theo sinh viên từ môn học này sang môn học khác. Một khó khăn nữa là làm sao có đủ thuật ngữ tiếng Việt để giảng dạy một môn khoa học có quá nhiều khái niệm, có quá nhiều tên gọi bằng tiếng Pháp hoặc Hán Việt. Tài năng và nhiệt huyết của GS lại được phát huy tối đa cho công việc, kết quả hàng loạt các thuật ngữ cơ bản về khoa học địa chất ra đời và thông dụng đến tận bây giờ.
Hoàn tất nhiệm vụ xây dựng khoa Địa chất tại Đại học Bách khoa Hà Nội, GS Chiển lại được giao hai nhiệm vụ quan trọng, một là xây dựng Trường Đại học Mỏ Địa chất và khoa mới về khoa học trái đất tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhờ quan hệ rộng rãi và sự trọng thị trí thức, GS Chiển đã tranh thủ được nhiều chuyên gia hàng đầu về địa chất của Liên Xô, Trung Quốc cùng tham gia công việc đào tạo tại Việt Nam. Như vậy từ những lớp kỹ sư địa chất đầu tiên dưới sự dẫn dắt của GS Chiển, đến nay nhiều người trong số họ đã trở thành những chuyên gia đầu ngành về khoa học địa chất của Việt Nam. Niềm tự hào của GS Chiển là được đi khắp trong Nam ngoài Bắc, ở đâu ông cũng có thể gặp trực tiếp hoặc gián tiếp học trò của mình, từ các GS đầu ngành đến những kỹ sư trẻ đang mải mê làm việc nơi núi thẳm rừng sâu làm giàu cho Tổ quốc.

Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, GS Chiển lại được đề bạt chức danh Phó Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam, trực tiếp phụ trách lĩnh vực khoa học trái đất. Thời điểm này, ông đã chủ trì thành công hai chương trình nghiên cứu lớn là “Điều tra tổng hợp Tây Nguyên” và thành lập “Bản đồ Atlat Quốc gia Việt Nam”. Chương trình “Điều tra tổng hợp Tây Nguyên” được tiến hành trong điều kiện đất nước còn đầy thương tích sau chiến tranh, nhưng với nghị lực và tâm huyết của những nhà khoa học chân chính, GS Nguyễn Văn Chiển và các cộng sự đã xác định được 3 thế mạnh của Tây Nguyên là rừng, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc mà chúng ta vẫn đang thực hiện hiệu quả tại mảnh đất màu mỡ nhiều tiềm năng này. Chương trình “Thành lập bản đồ Atlat Quốc gia Việt Nam”, lại thể hiện tầm cao trí tuệ qua khả năng quy tụ các chuyên gia đầu ngành thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, từ địa chất, địa lý, khí tượng thủy văn, nông nghiệp,… đến các ngành khoa học xã hội như lịch sử, văn hóa, dân tộc học… để hoàn thành công trình phức tạp này. Tập bản đồ Quốc gia ra đời là cơ sở quan trọng định hướng cho chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước. Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình khoa học kỹ thuật “Bản đồ Atlat Quốc gia Việt Nam” của GS, NGND Nguyễn Văn Chiển đã minh chứng cho ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của công trình đặc biệt quan trọng này.

Sau khi chúng tôi tốt nghiệp đại học Thầy chọn một người bạn tôi – anh Tống Duy Thanh và nhiệt tình bồi dưỡng để chẳng bao lâu sau anh đã trở thành Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo nhân dân, chuyên gia đầu ngành về Cổ sinh - Địa tầng học.

Thành tựu về giáo dục và về khoa học của Thầy không sao kể xiết, nhất là việc chủ trì các Chương trình Nhà nước về khoa học, việc đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như Hiệu trưởng Trường Sư phạm Trung cấp Trung ương, Tổng thư ký Ban Tu thư (soạn sách giáo dục phổ thông), Phó Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam…

Ở bất kỳ công việc nào ông đều có tư duy rất độc lập và thiết tha với sự nghiệp xây dựng nền khoa học nước nhà. Nói về nhân cách của ông chỉ cần đến thăm căn hộ ông đang ở tại khu tập thể Đại học Bách khoa Hà Nội. Một Giáo sư đầu ngành, một Nhà giáo nhân dân mà ở chung với vợ con trong một căn hộ khó có thể tưởng tượng nổi về mức độ chật hẹp và đơn sơ vào loại nhất thủ đô. Chúng tôi đến thăm Thầy chỉ có thể ngồi xuống sàn nhà xung quanh Thầy. Giá Thầy có lời đề nghị thì chắc chẳng ai nỡ để Thầy sống khổ như vậy. Nhưng Thầy chỉ cười và nói với chúng tôi: Còn biết bao thầy giáo trong nước còn khổ hơn mình nhiều. Thầy không bao giờ nói về công việc của mình, kể cả việc thầy được lưu danh bằng những giống loài cổ sinh mới được cả thế giới biết đến như giống Vanchienolepis Tong-Dzuy et Janvier, các loài Squameofavosites Vanchien Tong-Dzuy, Plethorhyncha Chieni Zuong et Rzóns... mà chỉ băn khoăn về tương lai khoa học và giáo dục nước nhà. Dù tuổi rất cao nhưng Thầy luôn phát biểu một cách điềm tĩnh và sâu sắc về những vấn đề rất quan trọng mà Thầy thấy không thể nào chấp nhận được.

Về khoa học Thầy viết: “Khác với chương trình khoa học Tây Nguyên, chương trình xây dựng Tập bản đồ Quốc gia (còn gọi là chương trình 48-03) được ghi vào Nghị quyết 37NQ của Bộ Chính trị hẳn hoi, thế mà sau khi xuất bản vào năm 1996, nó không được sử dụng để bố trí các dự án sản xuất một cách hợp lý nhất. Thậm chí Viện Nghiên cứu Địa chính đề nghị điện tử hóa Tập Bản đồ Quốc gia để bố trí các dự án sản xuất công nông nghiệp và giao thông vận tải hợp lý nhất cũng không được xét duyệt. Tập Bản đồ Quốc gia được giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005 hiện nay chỉ là một vật trang trí nằm trong các thư viện. Các nhà hoạch định chính sách, nhất là quyết định phân bố lực lượng sản xuất một cách hợp lý nhất trên lãnh thổ, cũng chẳng mấy ai quan tâm đến tập Atlat quốc gia này! Hiển nhiên nó lại biến thành một vật trang trí tương tự cái lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Hy vọng trong thời gian tới, các dự án phát triển, nhất là các dự án trọng điểm của đất nước, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học không còn bị trở thành vật trang trí.”

Về giáo dục Thầy viết: “Tôi nghĩ rằng ông Bộ trưởng giáo dục hiện nay không thiếu tâm, thiếu tầm nhưng do phải kiêm nhiệm một chức vị quan trọng hơn, và hẳn thường xuyên bận vào những sự vụ khác nên không thể toàn tâm toàn ý cho ngành giáo dục, thậm chí chưa chắc có nhiều thời gian để suy nghĩ thấu đáo về bản chiến lược này. Do vậy trong chiến lược mới đề ra những giải pháp thiếu tính khả thi, chẳng hạn như làm sao có được những giáo sư đại học Việt Nam có trình độ cao để thực hiện được việc xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt chất lượng quốc tế vào năm 2015 (tức 6 năm nữa). Nhất là với kế hoạch đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, thì tôi thấy chính những người xây dựng bản chiến lược này cũng lại mắc bệnh thành tích, bệnh chạy theo số lượng. Hoa Kỳ hiện nay là nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, năm nào cũng có các nhà khoa học nhận giải thưởng Nobel. Giả thử ông gửi sang Mỹ 1 vạn cử nhân nhờ họ đào tạo thành những người tài cho đất nước, thì những em nào chịu khó chăm chỉ học tập có thể thành người tài thật. Còn nếu ông đặt hàng hãy đào tạo cho tôi 1 vạn tiến sĩ trong 5 năm thì đến hạn họ sẵn sàng trả cho ta đủ 1 vạn người có bằng tiến sĩ, nhưng tiếc thay bằng thì thật, còn người có bằng chưa chắc đã thật. Tình trạng cũng tương tự như trước đây ta nhờ Liên Xô đào tạo cho kĩ sư và cử nhân: đến hạn các thầy Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ, thậm chí làm hộ luận án để cháu nào về nước cũng có bằng đại học mà không viết nổi một câu tiếng Nga, thậm chí một bài tiếng Việt. Đối với một bệnh mạn tính kéo dài hàng mấy chục năm của ngành giáo dục Việt Nam, thì không thể có một phương thuốc tiên dứt bệnh ngay được, lại không thể liệt kê trải mành mành 11 giải pháp, trên thực tế chỉ là 11 việc trong kế hoạch dài hạn của ngành giáo dục. Suy nghĩ kĩ, tôi thấy khâu quan trọng nhất, khâu đột phá có thể tác động đến toàn ngành giáo dục, không ai khác chính là người thầy. Bởi vì suy cho cùng thì người trực tiếp lên lớp, soạn bài giảng, cải tiến phương pháp sư phạp, cải tiến chương trình, biên soạn sách giáo khoa cũng là người thầy, một mình ông Bộ trưởng Giáo dục dù giỏi đến đâu cũng không làm được. Muốn vậy phải khôi phục truyền thống tôn sư trọng đạo của toàn xã hội đối với người thầy. Cần coi người thầy là một trí thức có nhiệm vụ cao quý, là người tác động đến tâm hồn và trí tuệ của lớp trẻ, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để họ không bắt học sinh học thêm, hoặc nhận quà biếu của phụ huynh, mà có thì giờ để đọc sách học thêm trau dồi đạo đức, nghề nghiệp, và không nên xếp họ vào thang cuối cùng của xã hội (công, nông, binh, trí). Ngày nay, sự yếu kém của nền giáo dục quốc dân không chỉ giới hạn ở nhà trường. Nó đã ảnh hưởng đến đạo đức của toàn xã hội với những tiêu cực lớn nhỏ nhan nhản trên báo chí hằng ngày. Một cơ trưởng lái máy bay hẳn đã học xong bậc đại học, lại cùng với mấy lưu học sinh tham gia vào các vụ ăn cắp vặt ở Nhật Bản, thật là một quốc sỉ cho một dân tộc anh hùng! Bởi vì mỗi trẻ em được cha mẹ dạy tốt rồi, đến trường cũng được dạy tốt, vẫn có thể bị ảnh hưởng tai hại của xã hội mà trở nên hư đốn. Vấn đề to lớn và quá khó khăn này, chắc chỉ khi những vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước có quan tâm thì may ra mới giải quyết được”.
Những lời phát biểu tâm huyết của Thầy chưa được trả lời thì Thầy đã vội vã đi xa cách đây những 3 năm rồi, vào hồi 11 giờ 40 ngày 21/7/2009,. Vẫn biết sinh tử là quy luật của muôn đời nhưng sao Thầy vội đi nhanh quá trước khi thấy các kiến nghị tâm huyết của Thầy được trở thành hiện thực. Tấm gương yêu nước, nhiệt tình cống hiến cho khoa hoc, giáo dục và một nhân cách cao đẹp của Thầy sẽ sống mãi trong các thế hệ học trò của Thầy và những người được biết đến Thầy.

Nguồn: Thầy Chiến của chúng tôi  (blog GS. Nguyễn Lân Dũng)


THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ


HỌC MỖI NGÀY. GS. Nguyễn Lân Dũng có bài viết "Thực trạng giáo dục và những kiến nghị". Đây là tài liệu giàu thông tin, mạch lạc, có hệ thống, với những  kiến nghị tâm huyết.  Diễn đàn Dạy và Học lưu chuyên mục này. Các ý kiến trao đổi trực tiếp cùng GS. Nguyễn Lân Dũng   tại đây

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ

GS. Nguyễn Lân Dũng

Nhân dịp khai giảng niên học 2012-2013, trong thư gửi các thầy cô giáo và học sinh , sinh viên cả nước, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã viết: "Năm học 2011-2012 vừa qua, ngành Giáo dục đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Công tác quản lý giáo dục có những đổi mới theo hướng tăng cường phân công, phân cấp, tăng quyền tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm và kiểm tra, giám sát trong quản lý giáo dục các cấp. Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục vùng khó khăn có mặt được nâng lên. Công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục thu được kết quả tích cực. Nhiều học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế.Tôi nhiệt liệt biểu dương sự nỗ lực cố gắng và những kết quả của ngành Giáo dục, nhất là đội ngũ các thầy giáo, cô giáo tâm huyết, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp "trồng người", các em học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vượt khó vươn lên trong học tập."


Nhìn lại trong10 năm qua (2001 - 2010), quy mô đào tạo nghề đã tăng 3,08 lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần; quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần. Năm 2010, số sinh viên cao đẳng và đại học trên một vạn dân đạt 227; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 40%, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, từng bước khắc phục một phần bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục và phát triển các cấp học và trình độ đào tạo. Trong 10 năm qua, tỷ trọng quy mô đào tạo ngoài công lập trong tổng quy mô đào tạo tăng: sơ cấp nghề tăng từ 28%5 lên 44%, trung cấp và cao đẳng nghề tăng từ 1,5% lên 5,5%, trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 5,6% lên 27,2%, cao đẳng tăng từ 7,9% lên 19,9%, đại học tăng từ 12,2% lên 13,2%. Cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện. Tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 52% năm 2006 lên 71% năm 2010. Nhà công vụ cho giáo viên và ký túc xá cho học sinh, sinh viên đã được ưu tiên đầu tư xây dựng và tăng dần trong những năm gần đây.Trong 10 năm qua, những thành tựu của giáo dục nước ta đã đóng góp quan trọng trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, tạo điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.


Bên cạnh các thành tựu đã đạt được nền giáo dục nước ta đã bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, bất cập. Nhân tham dự ngày khai trường tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu lên một phần những hạn chế bất cập này. Thủ tướng chỉ rõ : "giáo dục và đào tạo nước ta vẫn còn những bất cập, yếu kém, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự gắn với nhu cầu của xã hội. Giáo dục kiến thức về xã hội, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng thực hành còn kém, chưa phát huy khả năng tự học, tính chủ động, sáng tạo của người học; việc tham gia vào các hoạt động xã hội của học sinh, sinh viên còn nhiều hạn chế…"

Chúng ta hãy xem về những hạn chế, bất cập mà Thủ tướng đã nêu lên:

Vì chất lượng GDPT chưa cao (mặc dầu tỷ lệ thi tốt nghiệp là rất cao) nên đầu vào của các trường Đại học và Cao đẳng chưa tương xứng với yêu cầu. Trong khi các ngành khoa học cơ bản là xương sống của nền khoa học nước nhà thì số thí sinh thi vào các ngành khoa học cơ bản ngày càng ít , với chất lượng ngày càng thấp. Đặc biệt với các ngành Khoa học xã hội thì với kết quả hàng ngàn bài thi môn Lịch sử bị điểm 0 cho thấy một thực trạng hết sức đáng lo ngại về trình độ Tú tài của học sinh ta hiện nay. Chưa nói đến những yêu cầu cao siêu, chỉ xem một bức thư xin nghỉ học của một học sinh lớp 10, tuy chỉ có mươi dòng nhưng ngoài việc chữ rất xấu, viết hoa tùy tiện , còn thật đáng xấu hổ khi mắc những lỗi chính tả mà có lẽ học sinh tiểu học cũng không thể măc phải (như viết ngỉ học, hôm lay, đơn lày, chong lúc. có ngịch, xa xút, em ngĩ, học xinh, nhà chường, cho lên, phụ hunh...) .

Anh Jeffrey Thái một Việt kiều ở Mỹ đã viết trên blog của mình như sau: "Tôi là người sống xa xứ đã lâu, gần hai thập kỷ, và đã có một khoảng thời gian rất dài không có điều kiện để đọc chữ Việt, cho mãi đến khi chúng xuất hiện trên mạng Internet những năm gần đây. Khi đọc lại tiếng Việt của ngày hôm nay, tôi đã "choáng váng" mà nhận ra rằng: Nó đã xuống cấp nghiêm trọng, cụ thể nhất ở khâu chính tả và diễn đạt, ở những bài viết mà tôi có dịp được đọc qua. Tham gia các trang mạng xã hội Việt trong thời gian hơn một năm, tôi hiếm hoi đọc thấy một bài viết mà không có sai phạm về mặt chính tả và việc diễn đạt hoàn toàn trôi chảy theo đúng ngữ pháp tiếng Việt... Tôi vẫn còn nhớ vào những ngày còn đi học ở VN, tôi vẫn luôn được dạy để nhớ rằng: Việc viết sai chính tả là một điều cực kỳ đáng xấu hổ. Thế mà, giờ đây dường như mọi người "thoải mái" viết sai chính tả một cách rất... vô tư".

Năm học 2009-2010 cả nước có tới 149 trường Đại học và 227 trường Cao học, thu hút tới 1,93 triệu sinh viên.Không hiểu nổi trong 376 ngôi trường này có bao nhiêu phòng thí nghiệm, bao nhiêu xưởng thực hành? Cũng không hiểu trong số 70 558 thầy cô giáo đang giảng dạy tại các trường này có bao nhiêu người có trình độ Thạc sĩ hay Tiến sĩ. Kiểu Cơm chấm cơm và Học chay rất phổ biến này làm sao có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Rất nhiều trường mở Khoa Môi trường nhưng không một sinh viên nào về nơi công tác đủ khả năng thiết kế một công trình xử lý rác, xử lý nước thải, vậy thì biết làm gì khi các Sở tài nguyên Môi trường không còn biên chế để nhận thêm cán bộ. hàng loạt sinh viên Đại học sau khi tốt nghiệp đã thất nghiệp vì không đủ tiền chạy chỗ vào công sở, hoặc không đủ khả năng để nhận việc ở các công ty, xí nghiệp tư nhân. Không ít sinh viên đã phải đi tiếp thị mỳ tôm hay các việc làm tương tự để kiếm sống. Việc Nhà nước cho vay tiền để học Đại học không hiểu sinh viên sau khi ra trường sẽ lấy đâu ra tiền để trả lại cho Nhà nước? Tôi trộm nghĩ: việc đông đảo thanh niên ham thích được học Cao đẳng, Đại học là chuyện rất đáng quý, nhưng nếu không đủ thày cô dạy cho có nghề hẳn hoi thì thà cho học ngoại ngữ còn hơn.

Hiện nay trên internet có vô vàn bằng sáng chế, phát minh sau thời gian bảo hành được công bố rộng rãi. Chỉ cần biết ngoại ngữ là có thể sở hữu và có thể tự lập công ty sản xuất ra sản phẩm theo các công thức đã nắm được (!). Thật khôi hài khi một công ty tư nhân bé tý tẹo nhưng khi tuyển cán bộ ngoài tấm bằng chính quy ra còn đòi hỏi phải có thêm cả bằng Ngoại ngữ và bằng Tin học. vậy mà có 3 tấm bằng ấy rồi cũng đâu có dễ xin được việc làm. Hiện nay là như vậy, đến năm 2020 dự kiên sẽ có khoảng 350-400 sinh viên tính trên 1vạn dân, không hiểu nếu không đổi mới chất lượng đào tạo thì ngay tìm việc đi "tiếp thị mỳ tôm" cũng đau có dễ (!).Ngoại ngữ thiếu liên thông, cho nên đầu cấp học thường vẫn phải học lại từ đầu ây, bi, xi và vì vậy sau khi tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học vẫn chưa sử dụng được thành thạo bất kỳ một ngoại ngữ nào. 
 
Trong khi các trường Đại học thiếu điều kiện nghiên cứu cho cả thày lẫn trò thì Nhà nước lại cho thành lập hàng loạt các Viện, các Trung tâm nghiên cứu bên ngoài Đại học. Không kể các nước phát triển như ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Úc...mà ngay các nước châu Á như Thái lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor, Malaysia ... cũng chẳng có ai làm như vậy ? Tại sao không đưa Viện Toán về Khoa Toán Đại học quốc gia, nay lại thêm một Viện Toán cao cấp để GS.Ngô Bảo Châu xuân thu nhị kỳ đưa chuyên gia về giảng dạy (chả nhẽ mong có thêm một giải Fields nữa hay sao?).

Lại nói về phong trào "Hai không" được phát động rầm rộ cách đây không lâu. Khi ấy có trường với tỷ lệ tốt nghiệp là 0%, nhưng chính ngôi trường ấy năm vừa qua lại đỗ tốt nghiệp tới 100%. Tôi hỏi một cháu ở Hà Tây cũ về kỳ thi vừa qua. Cháu nói thày cô cho mang phao thoải mái vào phòng thi, chỉ cấm mang sách giáo khoa thôi. Vậy thì đâu chỉ có một Đồi Ngô ở Bắc Giang mà có cả Rừng Ngô trong cả nước. Kỷ luật các thày cô coi thi ở Đồi Ngô thật không công bằng, thật ra đấy là chủ trương của lãnh đạo Nhà trường chứ đâu có phải là hành động tự phát của các thày cô này.

Một bất cập rất lớn là Chương trình và sách giáo khoa. Vấn đề nay tôi sẽ xin nói thêm ở phần sau. 


Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về giáo dục và công nghệ đã đưa chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo vào cuộc sống; Từ tinh thần Nghị quyết 40/2000/QĐ10 của Quốc hội khóa X, nhà trường đã đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông; cùng nhiều chủ trương chính sách khác đã góp phần đổi mới nhà trường theo nhu cầu xã hội. Nhưng sự nổ lực của nhà trường trong thời gian qua vẫn còn những giới hạn so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Cần thiết phải thực hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện để góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành một cách căn cơ và bền vững. Xã hội đã có những thay đổi về cơ chế hoạt động, về hệ thống giá trị và, về nhu cầu cuộc sống;tâm sinh lý lứa tuổi học sinh và tâm lý xã hội đã có những đổi thay; điều kiện hoạt động của xã hội và của từng gia đình thay đổi, khoa học kỹ thuật phát triển, công nghệ thông tin được sử dụng rộng khắp trong từng lãnh vực cuộc sống con người… Nên chúng ta không thể tiếp tục sử dụng nội dung chương trình, phương pháp dạy học, cơ chế tổ chức quản lý, phương thức đánh giá của nhà trường theo quan niệm giáo dục và hệ thống chuẩn mực của những năm trước.


Theo TS Huỳnh Công Minh thì thực tế cuộc sống đòi hỏi phải đổi mới toàn diện, đồng thời và đồng bộ trên tất cả các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục từ mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp dạy học, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức đánh giá.

Mục tiêu giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ từ con người khoa bảng thành con người thực tế; từ mục tiêu nhồi nhét kiến thức hàn lâm chuyển thành năng lực làm chủ cuộc sống; từ cơ chế độc quyền với từng hoạt động đơn lẻ chuyển sang phục vụ xã hội đa dạng, cạnh tranh với tinh thần hợp tác, thân thiện.
Nội dung chương trình phải đổi mới từ phân hóa theo môn học thành tích hợp theo mục tiêu đào tạo; giảm lý thuyết từ chương, tăng cường thực tế; đổi mới mạnh mẽ từ nhà trường khép kín, gò bó sang giáo dục xã hội, mở rộng cửa trường đưa nhà trường thâm nhập vào cuộc sống.
Phương pháp dạy học phải đổi mới từ dạy số đông sang dạy cá thể, dạy cách học; đổi mới từ dạy áp đặt một chiều của người dạy sang tương tác đa chiều của người học với thầy cô, bạn bè, sách vở, trong gia đình và ngoài xã hội; không dừng lại ở lý thuyết, minh họa mà vươn tới hoạt động thực hành, trải nghiệm, làm sinh động và hiệu quả hơn nội dung giáo dục để đạt yêu cầu mục tiêu giáo dục tốt nhất; làm cho học sinh thích thú, chủ động và tích cực tự tìm tòi học tập, nâng cao năng lực tự học, học suốt đời, học ở mọi lúc mọi nơi.
Đánh giá quá trình dạy học vừa mang tính công nhận nhưng quan trọng hơn còn có tác dụng định hướng giáo dục rất hữu hiệu – “Thi cử thế nào, thầy và trò dạy và học như thế ấy!” Phải đổi mới mạnh mẽ hoạt động đánh giá, coi trọng đánh giá của giáo viên ngay trong quá trình dạy học, đây là hoạt động chủ yếu thay vì tập trung thi cử cuối khóa nặng nề, đối phó, hình thức, thiếu thực chất thoát ly mục tiêu đào tạo. Phải tạo điều kiện cho người học tự đánh giá để tự hoàn thiện mình, phải phối hợp với phụ huynh đánh giá học sinh để tạo sự thống nhất hệ thống giá trị giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Cơ chế tổ chức quản lý, phải đổi mới mạnh mẽ từ quan liêu bao cấp sang cơ chế tự chủ nhà trường, không chờ đợi, ỷ lại vào cấp trên mà phải tạo điều kiện cho từng giáo viên sáng tạo, tự giác chấp hành luật pháp, thực hiện quy chế với ý thức tổ chức kỷ luật cao, đồng thời chủ động thể hiện từng động tác giáo dục phù hợp và hiệu quả với từng học sinh trong quá trình dạy học như những nhà giáo dục thực thụ.
Thiết chế tổ chức nhà trường phải đổi mới phù hợp với quan điểm đổi mới, giảm sỉ số trong lớp từ 35, 45 học sinh xuống còn 20, 30 học sinh; học sinh học tập và hoạt động cả ngày trong trường (2 buổi/ngày); giáo viên phải có chế độ làm việc cả ngày (8 giờ) theo đúng quy trình lao động của ngành nghề, nghiên cứu tài liệu, tiếp cận học sinh, nắm chắc tâm sinh lý lứa tuổi, hoàn cảnh, soạn bài, giảng bài, ra bài tập kiểm tra, chấm bài, chữa bài, đánh giá nhận xét từng học sinh chu đáo, đúng mực…thay vì chỉ đến trường theo giờ dạy, vì lao động của nhà giáo là lao động cao cấp, phức tạp, khác với các ngành nghề lao động giản đơn.

Tôi đồng ý về cơ bản với những quan điểm trên đây và thấy không cần bổ sung gì thêm .

Tôi chỉ muốn dẫn chứng về một chuyên ngành mà tôi am hiểu . Đấy là chương trình và sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông: Bộ sách giáo khoa Sinh học là cố gắng rất lớn của nhiều tác giả, nhưng rất tiếc là chương trình lại không hợp lý: Rõ ràng là rất nhiều vấn đề nhưng các vấn đề đưa ra ở đây rất "nông". Tôi đã mua trên 70 cuốn sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông ở các nước và thấy chương trình ở ta chẳng giống nước nào cả (!). Vừa nặng lại vừa thấp. Có lẽ đó là do chịu ảnh hưởng của sách giáo khoa Sinh học trước đây của Liên Xô. Hầu như tất cả các môn học ở Khoa Sinh Trường đại học Sư phạm đều có trong chương trình phổ thông. Như vậy có thể thấy trong cuốn Sinh học chương trình phổ thông có quá nhiều nội dung, quá nhiều chi tiết không cần thiết trong khi số giờ lại quá ít. Tôi đã thử hỏi nhiều em đang học cấp III và thấy các em hiểu biết rất mù mờ và hầu như chả mấy em thích thú. Em nào định thi vào Sinh, vào Y, vào Dược thì đi tìm sách Đại học để đọc thêm, vì phải cạnh tranh rất cao trong khi sách phổ thông quá sơ lược (nhiều vấn đề nhưng dàn trải, vấn đề nào cũng rất "nông").Hơn nữa, ra đề thi Tốt nghiệp PTTH nếu theo nguyên tắc không được hỏi trùng các đề đã ra thì thật vô cùng khó, vì cuốn sách giáo khoa lớp 12 quá... mỏng! Vấn đề nào hay đã bị hỏi trong các kỳ thi trước hết rồi. Các em đã học quá nhiều chuyên ngành (động vật không xương, động vật có xương, thực vật bậc thấp, thực vật bậc cao, vi sinh vật học, giải phẫu và sinh lý người, di truyền học, tiến hóa học, sinh thái học...), trong khi số lượng giờ dạy quá ít ỏi mỗi tuần. Vừa khó hiểu, vừa khó nhớ, lại không muốn học (vì ít khi có trong số các môn thi tốt nghiệp) thì hiểu sao được? Đã không hiểu thì còn nói gì đến nhớ (thế là lại phải cầu cứu đến "phao"). Nội dung di truyền học là rất khó, nếu giáo viên không hiểu kỹ thì rất khó làm cho học sinh có thể hiểu được. Xem kết quả các bài thi thì thấy rất rõ chuyện này. Và liệu rằng một cháu 12 tuổi ở nước ta có nhớ nổi sơ đồ cắt ngang của một thân cây trưởng thành với các thuật ngữ khó hiểu như vỏ, tầng sinh vỏ, thịt vỏ, mạch rây, tầng sinh trụ, mạch gỗ? Cháu 13 tuổi có thể nhớ các bộ phận thùy khứu giác, thùy thị giác, não trước, tiểu não, hành tủy, tủy sống của con thằn lằn?

Tôi thấy cần tham khảo chương trình các nước. Tôi chú ý đến chương trình của hai nước: Pháp và Nepal. Pháp là một nước khoa học phát triển nhưng học sinh phổ thông không học Sinh học (Biologie) mà chỉ học môn Khoa học về sự sống và về Trái đất (Sciences de la Vie et de la Terre). Đó là cách dạy tích hợp những kiến thức về sự sống và về Trái đất nói chung. Về sự sống, học sinh sẽ hiểu khá sâu về tiêu hóa, tuần hoàn, thần kinh, hô hấp, tiêu hóa, di truyền, tiến hóa... của thế giới sinh vật chứ không học sâu về bất kỳ nhóm sinh vật nào. Nhờ có thời gian nên có thể hiểu rất sâu cả những tiến bộ mới mẻ về di truyền, thậm chí về cả sinh học phân tử và công nghệ sinh học. Còn ở Nepal, một nước rất nghèo, họ lại coi kiến thức phổ thông hết lớp 10 là đủ rồi (thế hệ chúng tôi học hết phổ thông có 9 năm thôi). Họ dành hai lớp 11 và 12 để phân ban sâu. Chỉ có 4 phân ban: Quản trị & Kinh doanh, Xã hội & Nhân văn, Toán-Lý và Hóa- Sinh. Chỉ có ban Hóa-Sinh mới học Sinh học mà thôi. Chính vì vậy tôi giật mình khi mua 2 cuốn sách giáo khoa Sinh học lớp 11 và lớp 12, mỗi cuốn trên 700 trang. Thế thì cần gì phải dạy thêm, học thêm nữa? Các nước Anh, Pháp, Australia... đều dạy môn Sinh học theo phương pháp tích hợp. Trước đây, ta đã mời chuyên gia Australia sang giúp xây dựng một chương trình sinh học theo hướng tích hợp. Không hiểu vì sao lại không được sử dụng!

Tôi thấy cần sớm thay đổi chương trình Sinh học ở bậc phổ thông để không chênh lệch nhiều với các nước khác trên thế giới. Kiên quyết dạy theo phương pháp tích hợp. Không đi sâu vào từng nhóm sinh vật và càng không học phân loại (vừa khó nhớ lại vừa không cần thiết). Dạy sao cho học sinh có được hiểu biết chung về sự sống, kể cả những khám phá mới nhất về sự sống (tất nhiên bằng những khái niệm dễ hiểu và dễ nhớ). Chi tiết nào thầy không nhớ nổi thì đừng bắt học sinh phải nhớ. Đừng ngụy tạo ra quan điểm thay đổi như thế thì giáo viên không dạy được (!). Nếu thấy cần cho học sinh đa số rẽ ngang, không học tiếp đại học thì nên theo hướng phân ban sâu như Nepal. Chuyện này cần thảo luận và cân nhắc kỹ lưỡng.

Còn việc in Sách Giáo khoa lại là chuyện của từng nhóm tác giả và từng nhà xuất bản. Bộ sách nào không theo sát chương trình thì không được in, nhưng trình bày có thể rất khác nhau (như nhiều nước khác). Lựa chọn bộ sách nào để dạy, để học là tùy thầy cô giáo và học sinh. Chỉ có cạnh tranh như vậy mới mong sớm có được những bộ sách giáo khoa tốt. Đây là một sự cạnh tranh rất khoa học, rất lành mạnh.

Tôi nghe nói đến năm 2015 mới bàn lại Chương trình giáo dục phổ thông. Sau đó là thí điểm chương trình. Rồi thí điểm viết lại bộ sách giáo khoa, sau đó lại thí điểm sử dụng sách giáo khoa. Có thể khi đó tôi không còn tồn tại nữa rồi. Đâu cần nhiều tiền bạc như dự án vừa qua. Bộ nên dựa vào các Hội Khoa học chuyên ngành. Các Hội này sẽ lựa chọn ra các chuyên gia giỏi, kết hợp với các thầy cô giáo có kinh nghiệm lâu năm để biên soạn ngay một chương trình mới. Bộ chỉ cần xin các Sứ quán bạn các chương trình Sinh học phổ thông, hay lấy được từ trên Internet để tham khảo kinh nghiệm của một số nước đáng học hỏi. Tổ chức các cuộc Hội thảo sâu sắc về nên phân ban sâu hay không phân ban. Bỏ hẳn kiểu phân ban chênh nhau quá ít thời gian như hiện nay. Chương trình sau khi biên soạn xong cần đưa ra trưng cầu ý kiến rộng rãi trước khi thông qua một Hội đồng Quốc gia đầy đủ tín nhiệm. Sau đó để cho các nhà xuất bản và các nhóm tác giả cạnh tranh qua chất lượng các bộ sách giáo khoa khác nhau (nhà nước không cần tốn kinh phí gì về chuyện này). Bộ sách nào hay sẽ được tái bản nhiều lần (và ngược lại). (Sách giáo khoa) Tôi mong có thể làm ngay mà không cần đợi đến tận năm 2015.

Về các chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển Giáo dục 2010-2020 đã được Thủ tướng phê duyệt vào tháng 6 vừa qua, tôi cho rằng không có cơ sở để tin rằng có thể thực hiện được nếu không có những giải pháp hết sức mạnh dạn và với sự đầu tư đáng kể về tài chính của Nhà nước.

Xin hãy xem đó là những chỉ tiêu gì? 

Theo Chiến lược này thì đến năm 2020. nghĩa là còn chưa đến 8 năm nữa sẽ phải đạt được các mục tiêu sau đây: Mục tiêu cụ thể được đặt ra là hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015.Đối với giáo dục phổ thông, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học. Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, sẽ điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, phấn đấu đến 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350 - 400. Giáo dục thường xuyên cũng được phát triển tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, bước đầu hình thành xã hội học tập.

Để đạt được các mục tiêu chiến lược cần thực hiện tốt 8 giải pháp, trong đó các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá và giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là giải pháp then chốt.

Một trong các nội dung đổi mới quản lý giáo dục là bảo đảm dân chủ hóa trong giáo dục. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá người dạy, giáo viên và giảng viên tham gia đánh giá cán bộ quản lý...

Bên cạnh đó, phân loại chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục quốc gia, các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn phải có lộ trình để tiến tới đạt chuẩn. Đồng thời, chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế - xã hội.

Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học.

Chiến lược nêu rõ, chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên. Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 10% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ.Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ.

Trên cơ sở đánh giá chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tham khảo chương trình tiên tiến của các nước, thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương.

Chú trọng nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng - an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống; giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lao động và hướng nghiệp học sinh phổ thông.

Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học. Đến năm 2020, 90% trường tiểu học và 50% trường trung học cơ sở tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.

Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi.Thực hiện định kỳ đánh giá về chất lượng học tập của học sinh phổ thông nhằm xác định mặt bằng chất lượng và làm căn cứ đề xuát chính sách nâng cao chất lượng giáo dục của các địa phương

NguồnGS.TS. Nguyễn Lân Dũng


Đôi nét về tác giả: GS, TS, Nhà giáo nhân dân .Nguyễn Lân Dũng là chuyên gia cao cấp Viện Vi Sinh vật  và Công nghệ Sinh học,Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII, Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình tự nguyện đưa KHKT vào hộ nông dân; Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; Chủ tịch Hội liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Lân Dũng sinh năm 1938 tại xã Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông là con thứ ba của GS. Nguyễn Lân và bà Nguyễn Thị Tề là đại gia đình trí thức rất nổi tiếng của Việt Nam với tám người con đều là giảng viên của các trường đại học lớn và đều là những nhà khoa học xuất sắc. Giáo sư Nguyễn Lân Dũng có vợ là  PGS. TS Nguyễn Kim Nữ Hiếu nguyên là Phó Giám đốc Bệnh viện 108 và là người mẹ của hai tiến sĩ đã trưởng thành. GS. Nguyễn Lân Dũng cũng là chủ bút của trang Blog Nguyễn Lân Dũng "già làng" tại Xóm Lá. (Bài post theo đúng bản gốc, Đôi nét về tác giả và những chữ in đậm là của do chúng tôi nhấn mạnh. Hoàng Kim )

Trở về trang chính

DẠY VÀ HỌC
(trang tình yêu, văn hóa giáo dục,
khoa học cây trồng và du lịch Việt)
HỌC MỖI NGÀY
(Những bài tuyển chọn về văn hóa giáo dục
lịch sử, thơ văn)
DẠY VÀ HỌC Ở ĐHNL HCM

Đăng nhận xét