Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Tam nông là hướng đi cho thịnh vượng nông thôn, nếu ...


T.S. Trần Văn Đạt

(Nguyên Chánh chuyên gia FAO, Rome)

DẠY VÀ HỌC. “Nông thôn vẫn hiền hòa như thuở nào, nhưng phải tiến bộ đồng thời với đô thị, vì đó là yêu cầu xã hội đứng đắn của một nước văn minh. Cần phát triển hệ thống giao thông và hạ tầng cấu trúc nông thôn. Cần mang các công nghiệp nhỏ và vừa về xã ấp, đặc biệt công nghệ thông tin, công nghiệp năng lượng xanh và công nghiệp chế biến thích ứng nông thôn. Cần đẩy mạnh nhiều hơn nữa hiện tượng đô thị hóa hoặc thị trấn hóa nông thôn và thành lập các nông thôn mới với các tiêu chí đã đề ra để sớm đưa làn sóng văn minh hiện đại về thôn ấp.” TS. Trần Văn Đạt, nguyên Chánh chuyên gia FAO đã trao đổi…

Tại các nước phát triển, ngành nông nghiệp tiến bộ không ngừng nên sản xuất lương thực dư thừa đối với nhu cầu trong nước. Thành phần nông dân thường là giới giàu có, với từ hàng chục đến hàng ngàn hecta ruộng vườn, và có cả tiếng nói chính trị riêng để bênh vực quyền lợi mình. Nông thôn dù không còn làng ấp, nhưng là những môi trường xanh thân thiện mà các du khách thường muốn thăm viếng vãng lai. Đất nông nghiệp ngày càng hẹp lại, được thay thế dần bằng các đô thị hay thị trấn nhỏ cả nước. Số nông dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp cũng giảm bớt theo thời gian và tỉ trọng nông nghiệp đóng góp vào phát triển kinh tế quốc gia sút giảm không ngừng, mặc dù tổng sản lượng thực phẩm tiếp tục tăng gia. Vào đầu thế kỷ 20, lao động Hoa Kỳ đóng góp vào GDP 41%, năm 1945 chỉ 16%, 2000 1,9%, 2008 dưới 1%, nhưng vẫn có khả năng nuôi cả nước và một phần thế giới. Tương tự, hiện tượng này cũng xảy ra ở các nước Châu Âu. Đó là nhờ vào cải tiến hiệu năng sản xuất dưới sự bảo hộ lớn lao của chính phủ. Nhưng lợi tức kinh tế của ngành này không được hấp dẫn, các nước tiến bộ đã có chính sách chuyển đổi nông nghiệp qua các lãnh vực khác, như công nghiệp, dịch vụ, tài chính, tin học, du lịch…

Trong khi đó, tại các nước đang phát triển chậm, nông nghiệp vẫn còn hiện diện đậm nét trong đời sống hàng ngày của đại đa số và là thành tố quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Đối với các nước đang phát triển nhanh như Việt Nam, giai cấp nông dân vẫn còn chiếm đến 73% dân số cả nước, và tỉ trọng nông nghiệp góp phần vào kinh tế quốc gia giảm dần từ 40,2% trong 1984 xuống 22,2% trong 2008; trong khi Nhựt Bổn còn 1,6%, Đại Hàn 3%, Malaysia 8,7%, Thái Lan 10%, Trung Quốc 11,9%, Indonesia 13,3%, Philippines 14,2%, và Ấn Độ 19,9%.

Trong bối cảnh hội nhập thế giới và xu hướng toàn cầu hóa - khu vực hóa, đất nước chủ trương cải cách đồng bộ cả 3 lãnh vực: nông nghiệp, đời sống nông dân và nông thôn là định hướng đứng đắn để đưa dân tộc cùng tiến bộ và nông thôn có được nếp sống văn minh thịnh vượng như các nước láng giềng đã đi trước.

Về nông nghiệp, trong thế kỷ 21, trình độ nông dân đã cao hơn một bậc, tiến bộ nhiều trong suy nghĩ và sử dụng kỹ thuật mới. Họ cảm nhận luật cung cầu thị trường điều khiển kinh tế, và giá cả nông sản chi phối khâu sản xuất và đời sống gia đình họ. Họ biết nắm bắt ngay các kỹ thuật tân tiến vì chúng mang đến nhiều lợi ích thiết thực. Công tác khuyến nông trở nên dễ dàng hơn cho bất kỳ kỹ thuật mới nào chứng tỏ hữu ích. Công việc tăng gia sản xuất không còn khó khăn, miễn giá cả hấp dẫn, các quy hoạch hữu hiệu và có sẳn đầu ra. Do đó, đối với các nước xuất khẩu lúa gạo chẳng hạn, vấn đề an ninh lương thực không còn tùy thuộc khâu sản xuất nữa để tăng số lượng, mà phải có nhiều nỗ lực hơn ở khâu tồn trữ và phân phối để đáp ứng nhu cầu đúng lúc khi cần.

Đầu thiên kỷ mới, công tác phát triển nông nghiệp phải đặc biệt chú ý đến chất lượng, hiệu năng, giá thành và môi trường, nhằm vào mục tiêu sản xuất bền vững, cải thiện quyền lợi nông dân và làm tốt đẹp hơn nếp sống nông thôn. Để hiện đại hóa ngành nông nghiệp, điều kiên tiên quyết là sớm có chính sách tích tụ đất đai, tăng gia diện tích nông trại gia đình đáp ứng yêu cầu cơ giới hóa. Có lẽ nên noi theo kinh nghiệm thành công tại các nước tiền tiến, nhưng tránh bắt chước nông nghiệp tiểu điền Nhựt Bổn, Đại Hàn vì nước ta không có khả năng bảo hộ lớn.

Đối với nông dân: Trong các nước đang phát triển, họ luôn là thành phần chịu ảnh hưởng nhiều nhứt trong các chính sách, quy hoạch và quản lý các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp đề ra. Ngay từ thời phong kiến, các nhà nước luôn đưa ra chính sách trọng nông, chỉ nhằm tăng gia sản xuất để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ nội địa, an ninh lương thực, mục tiêu xuất khẩu kiếm ngoại tệ, và đặc biệt thu thuế cho ngân sách quốc gia. Từ triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến Nhà Nguyễn và thực dân Pháp, người dân quê chỉ là giới sản xuất để phục vụ cho các tầng lớp cai trị và giàu có. Họ là thành phần luôn ở thế yếu, bị chèn ép từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ chiếm đa số trong xã hội, nhưng lại bị bỏ quên ở các nước nghèo, chỉ do nhà nước còn nghèo quá nên không thể hỗ trợ đầy đủ cho thành phần này như đã làm ở các nước công nghiệp tiến bộ!

Giới nông dân tại các nước đang phát triển còn thiếu tiếng nói tập thể chính trị để bênh vực, bảo vệ quyền lợi tối thiểu của mình. Vì thế, đa số nông dân vẫn còn chịu kiếp nghèo khó, an phận trong giai cấp xã hội thấp cho đến ngày nay, ngoại trừ lúc “Nhứt sĩ nhì nông, hết gạo chạy rong, nhứt nông nhì sĩ!”. Cho nên, chủ trương tam nông là định hướng đúng đắn để nhà nước không bỏ quên thành phần nông dân và nông thôn trong thời kỳ đất nước đang phát triển kinh tế, tạo nên bước tiến đồng bộ từ thành thị đến thôn ấp. Nghĩa là họ cần được hỗ trợ thực sự trong quá trình sản xuất để tăng cường lực cạnh tranh, đối diện với các đại gia bên ngoài và các ngành nghề khác trong nước. Đặc biệt nông dân cần được đảm bảo lợi tức hợp lý cho sức lao động đầu tư và sản phẩm của mình, nhứt là giá cả nông sản tại sân nhà không bị giới trung gian (doanh nghiệp và lái buôn) bốc lột trên mồ hôi họ.

Nông thôn sẽ thịnh vượng khi nông dân hàng năm thu được nhiều lợi tức tương xứng, dưới sự hỗ trợ của nhà nước, đời sống của họ sẽ ngày càng sung túc, phát đạt hơn. Từ đó, vùng đồng quê sẽ vươn lên để trở thành nông thôn mới, tiến bộ và văn minh hơn, một hình thức “thị trấn nông thôn” từng thấy tại các nước công nghiệp, xuất hiện khắp nơi. Nếp sống nông thôn đã chuyển mình qua năm tháng để trở thành các khu đô thị và thị trấn nhỏ mà mọi người được hưởng đầy đủ tiện nghi tối thiểu cần có của nếp sống văn minh đô thị.

Ở các nước đang phát triển, người ta luôn cổ võ văn minh miệt vườn hay miệt ruộng, nhưng đó chỉ là một nếp sống an phận trong xã hội đa cực, trong khi bảo thủ, lo ngại tiến trình đô thị hóa làm mất đất đai nông thôn.

Ở Mỹ, khu đô thị hàng năm chiếm độ 400.000 ha đất nông trại. Trung Quốc đã bị mất gần 1 triệu ha đất ruộng mỗi năm trong thời gian từ 1987 đến 1992. Vào 1975, Trung quốc trồng độ 37 triệu ha lúa để nuôi dân, nay chỉ còn trồng 29 triệu ha lúa; nhưng họ không những đã nuôi dân sống khá đầy đủ mà còn có thể xuất khẩu gạo, nhờ cải tiến năng suất và chương trình trồng lúa lai. Như thế, việc chuyển đổi đất ruộng nông thôn cho các ngành phát triển khác có lợi nhuận nhiều hơn không phải là vấn đề đáng lo ngại, nếu được qui hoạch kỹ lưỡng và có quản lý xây dựng tuân theo luật lệ đô thị để khuyến khích phát triển công nghiệp và kinh tế quốc gia.

Mỗi năm các chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thị trấn hóa nông thôn lan rộng là dấu hiệu của tiến bộ và phát triển đất nước; nhưng chương trình chuyển đổi đất này phải hội đủ các đòi hỏi tối thiểu sau: (i) Khuyến khích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp hoặc có giá trị nông nghiệp thấp kém, (ii) Bảo tồn những khu thiên nhiên có ảnh hưởng đến môi trường cả vùng và bảo tồn văn hóa, (iii) Bảo tồn nguồn cung cấp nước ngầm dùng để cung cấp nguồn nước ngọt cho con người và nông nghiệp, (iv) Bảo tồn khoảng trống không gian cần thiết nhằm tạo thông thoáng, bớt ô nhiễm trong khu đô thị hoặc công nghiệp trong tương lai (v) Cần có qui hoạch khoanh vùng hợp lý và quản lý xây dựng hữu hiệu để tránh các ảnh hưởng tiêu cực, và (vi) Cần có giải pháp kinh tế-xã hội ổn thỏa cho sử dụng đất đai ngoài mục tiêu nông nghiệp để tránh xáo trộn đời sống người dân cư ngụ lâu đời.

Nông thôn vẫn hiền hòa như thuở nào, nhưng phải tiến bộ đồng thời với đô thị, vì đó là yêu cầu xã hội đứng đắn của một nước văn minh. Cần phát triển hệ thống giao thông và hạ tầng cấu trúc nông thôn. Cần mang các công nghiệp nhỏ và vừa về xã ấp, đặc biệt công nghệ thông tin, công nghiệp năng lượng xanh và công nghiệp chế biến thích ứng nông thôn. Cần đẩy mạnh nhiều hơn nữa hiện tượng đô thị hóa hoặc thị trấn hóa nông thôn và thành lập các nông thôn mới với các tiêu chí đã đề ra để sớm đưa làn sóng văn minh hiện đại về thôn ấp.

Trần Văn Đạt, Ph. D.

(Bài viết do tác giả gửi)

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Economic Research Service (ERS/USDA). 2006. Land use, value, and management: urbanization and agricultural land (http://www.ers.usda.gov/Briefing/Land Use/urbanchapter.htm).

2. GDP: http://www.phrasebase.com/english/countries/fin_gdpofag.php?variable=fin_gdpofag

3. Lê Hồng Nhu. 1999. Rice production in Viet Nam and policies to promote its development. In Proceedings of the 19th session of the IRC. Int. Rice Comm., Cairo, Egypt, 7-9 September 1998, Rome, p 162-165.

4. Nature Gallery (Global Trends. Urbanization and cities) . 2005. (http://www.pacificislandtravel.com/nature_gallery/urbanization).

5. People’s Daily Online. 2005. China to push forward urbanization steadily (05-12-2005) (http://english.people.com.cn).
Đăng nhận xét