DAYVAHOC. Báo Nông nghiệp đăng ý kiến của nhà sử học Dương Trung Quốc trao đổi với nhà văn Văn Chính " Bằng vào những trải nghiệm khi tiếp xúc với lịch sử, tôi thấy cứ học ông cha. Ông cha còn rất nhiều điều có thể học và phải học nếu muốn hùng cường trong thế giới hội nhập...Ở vào địa vị Lý Công Uẩn, mà không sợ câu “Phép vua thua lệ làng”, không dùng quyền lực với quân đội và hệ thống quan lại rải khắp nước để dẹp bỏ, để xoá nó khỏi tâm thế thần dân, hơn nữa, lại còn nương dưỡng cho thiết chế làng xã phát triển mạnh mẽ, nguyên bài học ấy mọi thời đại phải học".
Từ 10 năm nay, báo Hà Nội Mới đã có cuộc thi “Cả nước cùng Thủ đô hướng tới 1.000 năm Thăng Long Hà Nội” phản ánh nét sinh hoạt văn hoá chính trị thật sâu rộng. Và khi đồng hồ đếm ngược đặt ở Bờ Hồ hối hả “đi” những ngày cuối cùng đến 1.000 năm, cả nước càng náo nức chuẩn bị như chưa hề có đại lễ nào sánh nổi về cấp độ to lớn, rộng khắp, tiền của và nhất là lòng dân hướng về. Nhưng sau tất cả những bộ phim, vở kịch, sách báo ti vi, lễ hội, kỳ đài, diễn văn, khánh chúc… của năm kỷ niệm thì vận hội nước nhà, hùng khí và niềm tự tôn dân tộc sẽ được chấn hưng để bước những bước dài của ngàn năm sắp đến, ấy mới là nỗi lo của kẻ sỹ vậy. Cuộc trò chuyện giữa nhà văn Văn Chinh và nhà sử học Dương Trung Quốc sẽ cho thấy điều đó và mở ra những điều rất thú vị.
Nhà văn Văn Chinh (VC): Thưa ông, công chúng vẫn thấy ông mang lịch sử về bàn ở Quốc hội và bàn cũng ra nhiều nhẽ lắm. Mà triều đại nhà Lý làm được quá nhiều đại sự, đặc biệt về bảo vệ bờ cõi, về văn hoá, chính trị hẳn cũng để lại cho chúng ta nhiều bài học lịch sử?
Nhà sử học Dương Trung Quốc (DTQ): Vâng, quá nhiều. Nhiều đến nỗi nói về nó không còn biết bắt đầu từ đâu…
VC: Xin cứ bắt đầu về tư tưởng kiến trúc kinh thành, về dân chủ tam giáo đồng nguyên…
DTQ: Đúng là thời gian là thuốc hiện hình. Hình như Văn Chinh từng viết, lịch sử như xương cốt, chỉ khi vấp ngã rạn xương hay gẫy tay, con người mới nhớ ra là có nó và nó quan trọng như thế nào?
VC: Khi viết như vậy, tôi muốn lưu ý các nhà sử học, chính trị và trí thức nói chung không được phép quên rằng, trong cơ thể của dân tộc có xương cốt và nhiệm vụ của họ là không được phép để cho cộng đồng lâm vào thế vấp ngã hệt như một khúc nào đó, của lịch sử.
DTQ: Nhưng, lịch sử thì luôn mang tính ngụ ngôn mà người ta chỉ nhắc lại khi trước mắt là những bế tắc hệt một khúc nào đó của xa xưa hay như hôm nay ta đang chuẩn bị cho đại lễ. Nhà Lý tồn tại như là sự khởi đầu cho kỷ nguyên mới trong tâm thức người Việt. Nhà văn hoá Phan Bội Châu gọi Lý Công Uẩn là Tổ Trung hưng lần thứ nhất. Chúng ta thử đặt câu hỏi: Tại sao cụ dời đô?
Có nhiều câu trả lời. Sử sách có nói cụ vâng theo ý của cha nuôi, nhà sư Vạn Hạnh. Dân gian bảo cụ “áo gấm về làng”, sau khi lấy được ngai vàng thì về gần quê quán là Kinh Bắc. Nhưng tất cả đều coi việc dời đô là một tư duy đột biến, vượt ra khỏi mọi giá trị thông thường. Nhưng thực ra là cụ trở lại với Đại La và gọi nó là Thăng Long. Chúng ta thấy lịch sử dựng nước của dân tộc là ở trung du gắn với huyền thoại vùng đất Tổ. Nhưng xu thế phát triển của văn minh lại không ở trung du mà gắn với lưu vực của hai dòng sông Mã và sông Hồng. Ngay thời Hùng Vương đã gắn với văn hoá Đông Sơn – sông Mã. Suốt hơn 1.000 năm phương Bắc đô hộ nước ta, họ đều chọn đóng đô ở quanh Đại La. Cổ Loa của An Dương Vương, huyền thoại cuối cùng của nền tự chủ, Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, đều ở gần Đại La. Lý Nam Đế thì chưa biết chắc ở chỗ nào, chỉ biết ở cạnh sông Tô Lịch.
Cần nói rõ, thành Đại La là nhiệm sở của Cao Biền, trong Chiếu dời đô, cụ Lý Công Uẩn nói rõ ràng như vậy; cho nên có thể nói, nhà Lý đã trở lại Thăng Long và toàn bộ sự nghiệp chính trị, kiến trúc, kinh tế của nhà Lý là đặt trên nền tảng các giá trị khoa học, lâu bền của lịch sử văn minh. Chứ không phải cho gần quê. Điều đặc biệt quan trọng là cụ không bị mặc cảm dân tộc, còn đánh giá cao, gọi Cao Biền là Cao vương, Sỹ Nhiếp là Sỹ Nhiếp vương như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh về sau sẽ gọi. Với việc dời đô về Đại La, nhà Lý đã làm cho lịch sử tiếp tục dòng chảy của xu thế phát triển bằng cách phát huy những giá trị kế thừa.
VC: Vâng, trí lự phải thật lớn mới không bị mặc cảm. Và quả nhiên, trên cái nền tảng của lệ thuộc phương Bắc, nhà Lý đã đưa Đại Việt đến những mốc son huy hoàng.
DTQ: Mới đây, Uỷ ban Giám sát quan hệ Mỹ - Trung của Nghị viện Mỹ có làm việc với chúng tôi, họ có hỏi về Việt - Trung và bầy tỏ sự khâm phục rằng Đại Việt tồn tại bên cạnh một phương Bắc hùng mạnh như thế mà vẫn phát triển, không chịu trở lại làm quận huyện Trung Hoa mà vẫn hoà hiếu để độc lập và mở mang bờ cõi.
VC: Cứng mà mềm, giữ thể diện cho nước lớn mà mình không nhục đó là những bài học vô giá của tiền nhân. Tôi nhớ, cứ mỗi khi đuổi được giặc qua bờ cõi, thì triều đình lại mau mải sắm sửa châu báu sang bệ kiến mà rằng, bọn quan lại biên cương (cấp dưới) làm bậy quá, quan dân của thần nó nổi lên đánh đuổi để giữ chính phép cho Thiên triều, thần cản lại không được! Chỉ có điều lạ là, về thể chế phong kiến Đại Việt theo Khổng Mạnh mà không rơi vào chuyên chế hà khắc. Ông có thấy về sau, chúng ta theo Trung Quốc mô hình HTX, nhưng đất 5% ở ta thì làm ra 50% thu nhập, Trung Quốc hơn 37 triệu người chết đói, còn ở ta thì chỉ đói chứ không ai chết
DTQ: Học ông cha, chúng ta cũng không mặc cảm mà nói rằng, về ảnh hưởng triết học tư tưởng và có thể còn bị trộn lẫn về huyết thống với Trung Hoa. Nhưng chúng ta có cái may mắn là nhà Lý xuất thân từ chùa chiền, chủ động tiếp cận Phật giáo dù đại thừa hay tiểu thừa. Có thể nói, thiết chế quyền lực để bảo toàn triều đại, không gì bằng giáo lý Khổng Tử mà người Việt đã tiếp thu giao thoa khi thì tự nguyện do bị thuyết phục, khi thì bị cưỡng bức phải theo. Còn thượng tôn đạo Phật để cân bằng với Khổng Mạnh, đó là yếu tố duy nhất để thoát thế giới Trung Hoa. (Về mặt lịch sử, trước khi tiếp xúc với Phật giáo và phương Tây, Trung Hoa trong con mắt người Việt là cả thế giới!)
Chúng ta mới chỉ nhấn mạnh sự nghiệp dời đô của nhà Lý, trong khi còn cả sự nghiệp đồ sộ là đắp đê để ổn định nông nghiệp vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Dời đô ra đây, ngay lập tức các cụ đắp đê Cơ Nhị rồi Cơ Xá. Ổn định xã hội nông nghiệp xong thì xây nhiều chùa chiền, rất nhiều. Và lập Tứ trấn: Quán Thánh, Voi Phục, Kim Liên và Bạch Mã. Chỉ có triều đại nào coi trọng các giá trị tinh thần, thật coi trọng mới lập ra nhiều chùa chiền, đình đền đến thế; vì như Marx nói, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân mà khi thần dân say mê với Thần Phật, ảnh hưởng của thế quyền sẽ bị san sẻ, không thể rơi vào chuyên chế. Hay có thể nói một cách hình ảnh, cả vua quan lẫn thần dân đều còn biết sợ Thần Phật. Chứ một khi vua đã coi mình là con trời hoặc không biết sợ ai nữa, với vị thế độc tôn, chỉ đi nửa bước là đến ngay chuyên chế hà khắc. Trung Hoa chỉ tập trung cho sức mạnh thể chế.
VC: Tôi có bằng chứng là chùa Pháp Môn ở Thiểm Tây Trung Quốc vốn cao 11 tầng. Chùa này tương truyền thờ ống xương ngón tay của Đức Phật, khi ngài hoá, các đệ tử chia nhau xá lỵ ngài, nhà sư Trung Quốc nhanh tay nhặt ống xương ngón tay về ngoại vi thành Trường An lập chùa thờ. Bà Võ Tắc Thiên bắt dỡ đi 4 tầng tháp, nói Hoàng đế được gọi là cửu trùng đài, chùa không thể hơn vua.
DTQ: Đại Việt không xây thành cao hào sâu, không giữ thành bao giờ, giặc đến là chạy, sau mới quay về đánh và bao giờ cũng thắng. Như một sự trớ trêu, Hồ Quý Ly định xây thành Tây Đô theo kiểu Trung Quốc thì thành chưa xây xong đã bị bại trận, nước mất nhà tan. Các cụ Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương hết sức giữ thành, rất đáng kính trọng về ý chí kiên trinh, nhưng các cụ đều để bị mất thành. Có thể nói nhà Lý đã lựa chọn cách sống, lối giữ nước dựa trên hạ tầng làng xã. Hệ thống phòng thủ của Đại Việt (gồm cả Lý, Trần, Lê) là làng xã, nhà nghiên cứu lịch sử Pháp gọi đó là pháo đài của Đại Việt.
VC: Chả cứ Đại Việt, làng xã mới là pháo đài. Bác Hồ cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp đã rút lui chiến lược lên Việt Bắc. Dưới thế trận xe tăng, máy bay của địch, nhưng đại đoàn Đồng Bằng chỉ có súng trường mã tấu của cụ Văn Tiến Dũng, cụ Đỗ Mười xuất quỷ nhập thần đánh cho giặc thất điên bát đảo suốt 9 năm.
DTQ: Nhân nói đến làng xã, cần nói thêm mẹo của các cụ tránh cái ẩn hoạ của thị trường: Chợ làng không bao giờ đặt ở trung tâm, mà ở rìa làng. Đó là cách để yếu tố văn hoá làng không bị ngoại lai từ nơi khác. Ngay cả đại dịch cũng không thể lan tràn vì làng cấm mua gia cầm gia súc từ xa về. Hà Nội băm sáu phố phường dù mãi sau mới hình thành nhưng gần như không dính gì đến Hoàng Thành, văn hoá chợ và văn hoá cung đình không thể có cơ hoà trộn giao thoa. Cho nên làng xã là một yếu tố quan trọng, không những để hơn một ngàn năm người Việt vẫn giữ được cốt cách của mình; mà nó còn phản ánh vào sinh hoạt triều chính như một hệ quy chiếu ngược lại so với hệ quy chiếu Khổng Mạnh. Dân chủ làng xã ùa vào triều đình, triều đình gần dân hơn.
VC: Vâng, câu kết của chiếu dời đô không phải hai chữ “Khâm thử” vốn là mệnh lệnh thức quen thuộc, mà là “Các ngươi nghĩ sao?” Chiếu là pháp lệnh mà còn hỏi dân, còn muốn dân bàn thêm, huống chi là việc vẫn đương khi bàn bạc, phải tự do dân chủ và thấu đáo biết dường nào. Tôi bấy lâu vẫn khao khát viết được cái truyện kể lại tâm tư của Lý Công Uẩn sau khi được phó tướng của mình là Đào Cam Mộc cùng bá quan nhà tiền Lê “bầu” ngài lên làm vua. Trước việc Lê Ngoạ Triều chơi trò róc mía trên đầu sư, việc chính sự hà khắc còn bản thân vua thì sa đoạ suy đồi. Có lẽ vì vậy chăng mà Lý Thái Tổ biết quý cái giá của dân chủ; chứ nếu nhà vua lấy ngai vàng trên lưng ngựa hoặc giả nghịch thần tiếm ngôi bằng bạo lực thì ngài hẳn sẽ giữ ngôi hay kiến quốc bằng cách khác. Giả dụ như thế thì nền độc lập tự chủ phỏng có ích gì cho dân? Nhưng có lẽ chúng ta hãy trở lại với tư tưởng quy hoạch đô thị của Ngài?
DTQ: Nhà Minh cai trị quá hà khắc. Cứ hình dung cả một hệ thống mật vụ (Đông Sưởng) rải khắp hang cùng ngõ hẻm của nhà Minh thì đủ rõ, đốt hết diệt sạch cái có hại cho nền cai trị của họ. Sử chúng ta đang dùng là qua lăng kính của nhà Lê, mà Lê thì đã khác Lý, Trần để gần Khổng Mạnh lắm rồi, có quá ít sử liệu để bàn về tư tưởng kiến trúc. Ý ông là sao?
VC: Tôi thì càng cảm tính hơn. Nhưng cứ qua những gì đã còn lại sau ngàn năm vật đổi sao dời thì ấy là chân lý (tư tưởng) cái gì có lý thì tồn tại! Tôi nhớ GS Trần Quốc Vượng có nói, sứ nhà Nguyên vào triều kiến vẫn thấy bức hoành phi đề An Nam đô hộ phủ treo ở nguyên vị trí hơn hai trăm năm trước nó đã được treo vào thời Cao Biền. Cái mà ông bảo là Lý Thái Tổ không bị mặc cảm dân tộc, cứ xây kinh thành trên nền móng của lệ thuộc. Như thế thì rẻ, đỡ tốn tiền dân mà lịch sử vẫn tiếp nối và phát triển; lại đỡ tốn công phá phách, như nhà Nguyễn Tây Sơn, Nguyễn Gia Long và cả chúng ta nữa từng làm về sau đối với thiết chế tín ngưỡng. Nhưng không bắt chước Trung Quốc, cửa chính thành ở mạn Nam, không nhìn hướng Bắc như một biểu trưng thần phục; chất liệu “bê tông” đất sét trộn sỏi làm móng, ngói đỏ Chăm lợp mái chứ không ngói men lưu ly như nhà Nguyễn nhập khẩu, bệ nguyên xi toà ngang dẫy dọc (tuy kích thước nhỏ hơn) Tử Cấm thành Trung Quốc.
DTQ: Ông nói đúng, Hoàng thành và Kinh đô nói chung rất giàu sắc thái bản địa. Lúc nãy tôi có nói, Đại Việt không xây thành cao hào sâu nhưng Kinh đô có hẳn một hệ thống sông ngòi và hồ đầm sâu rộng và rất dài làm hào, ấy là bản địa vậy. Hệ thống ấy lại là tiềm năng, là thế để mở rộng, có thể không đến “muôn đời” như chiếu dời đô nói, nhưng cả ngàn năm qua, thế rồng cuộn hổ ngồi vẫn chưa hết.
VC: Làm sao mà hết nổi. Tôi hình dung 50 năm nữa, khi Dự án Thành phố Bên Sông Hồng hoàn thành, cái phong thuỷ rồng cuộn hổ ngồi mới gọi là tạm xong. Tôi nghĩ, một cái quy hoạch sau ngàn năm không lạc hậu, không phải quy hoạch lại thì nó là một tư tưởng quy hoạch vĩ đại. Ông cũng vừa nói, văn minh của Đại Việt nằm cạnh hai dòng sông, sông Mã và sông Hồng. Nhân loại cũng vậy thôi, văn minh Hoàng Hà, văn minh sông Hằng, sông Nin, sông Mi - si- si- pi…Việt Nam là nước nông nghiệp, gắn liền với nước; lại được biểu trưng bằng con Lạc cháu Rồng. Rồng thì nước bay lên, tôi hằng tin như vậy!
DTQ: Tôi mới từ Hải Dương về, đi dự lễ khởi công dựng tượng Phật, mệt quá. Lại còn đang mắc nợ bao nhiều bài báo Tết. Vậy mà lại có thể cùng ông say sưa nói về một triều đại cách đây hàng ngàn năm, nguyên việc ấy đủ nói lên nhà Lý quan trọng với chúng ta đến thế nào, cụ Lý Công Uẩn vĩ đại đến thế nào.
VC: Nhưng vẫn rất cảm ơn ông đã dành cho buổi làm việc rất lý thú này. Thưa ông, ông làm sử, như thể chế cũ, ông là sử quan, là trọng thần của triều đình. Vậy ông có thể nhân danh lịch sử để khuyên nhủ hôm nay một điều hệ trọng nào đó?
DTQ: Tôi không dám nhân danh như thế, có thể nói tôi nghe rõ những nhắn nhủ của tiền nhân, nhưng cũng không dám nói nhân danh tiền nhân. Bằng vào những trải nghiệm khi tiếp xúc với lịch sử, tôi thấy cứ học ông cha; ông cha còn rất nhiều điều có thể học và phải học nếu muốn hùng cường trong thế giới hội nhập. Những gì chúng ta vừa trao đổi chả thấm gì so với những điều cha ông dạy bảo chúng ta, thậm chí chưa phải là những bài học chủ yếu nhất. Muốn học ông cha, phải ứng xử như ông cha.
Ở vào địa vị Lý Công Uẩn, mà không sợ câu “Phép vua thua lệ làng”, không dùng quyền lực với quân đội và hệ thống quan lại rải khắp nước để dẹp bỏ, để xoá nó khỏi tâm thế thần dân, hơn nữa, lại còn nương dưỡng cho thiết chế làng xã phát triển mạnh mẽ, nguyên bài học ấy mọi thời đại phải học. Mặt khác, còn học hỏi lối bàn việc ở làng, đưa nó vào cung đình để bàn việc nước, vậy là vua mà biết lắng nghe dân; thà học dân chứ không học giáo lý nhập khẩu. Mặt khác nữa, vẫn theo thiết chế Trung Hoa để duy trì đặc quyền dòng họ - triều đại mình mà vẫn dùng cha nuôi làm Quốc sư cả theo nghĩa Quân sư, coi tam giáo (Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo) là đồng nguyên chứ không độc tôn Nho giáo; ấy là coi nước hơn nhà, coi dân sinh dân chủ hơn giai cấp mình vậy.
VC: Một ví dụ về việc coi dân sinh dân chủ hơn giai cấp của mình, ấy là vua Lý Huệ Tông trao ngai vàng cho con gái khi ngài đang tuổi tráng niên, rồi vào chùa. Con gái là con người ta, nhà vua hẳn là biết câu ấy; biết câu ấy mà cư xử như vậy thì đúng là coi quyền lực và đặc quyền nhẹ tựa lông hồng!
DTQ: Cố nhiên, cứ nhắm mắt mà học các cụ thì cũng không cần thiết. Thiết chế làng xã có cái nhược điểm là cố kết dòng họ, phe giáp; không chịu coi chân lý là quan trọng nhất. Nếu cái đó mà can dự vào đời sống chính trị thì cực kỳ nguy hiểm. Đóng kín cổng làng sau luỹ tre ken thành chiến luỹ thì tuy giữ được nước nhưng rất dễ nhanh thoả mãn để rơi vào nghèo nàn lạc hậu. Người Pháp khi đô hộ nước ta, muốn phá luỹ tre làng, muốn can dự vào thiết chế làng xã nhưng sau khi tốn rất nhiều tiền của thì bất lực. Mọi sắp xếp để vô hiệu làng xã đều là dại dột; để làng phát huy sức mạnh của nó và vua không ở trên luật pháp, thì lý trưởng không dám hà khắc với dân. Nhà nước chỉ nên khuyến học, khuyến nông và làm đường giao thông đến tận bờ ruộng, để hàng nông sản của dân một bước là có thể ra với thế giới, với thành thị.
Vâng, tôi muốn nói, cứ học hỏi ông cha, ứng xử với dân theo ông cha; thì dân sẽ giữ nước thay vua, còn nước thì cứ thế mà hội nhập.
VC: Xin một lần nữa cảm ơn ông!
- Hoàng Kim
- Nhà sách HOÀNG GIA
- Ngọc phương Nam
- Chào ngày mới
- Thung dung
- Dạy và học
- Dạy và học BLTV
- Dạy và học ĐHNL
- Cây Lương thực
- Food Crops News
- Food Crops.vn
- Food Crops
- Green Super Rice
- Cassava Viet
- Cassava News
- Gardening Tips
- Học mỗi ngày
- Danh nhân Việt
- Tin Nông nghiệp Việt Nam
- Tình yêu cuộc sống
- Kim on Twitter
- KFB
Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010
Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010
Những dâng hiến lặng lẽ...
DAYVAHOC. Yêu mãi yêu hoài không hết yêu/ Cuộc đời như mãnh đất phì nhiêu/ Trồng bao nhiêu vụ còn tươi tốt/ Hạt gặt đi rồi hạt để gieo. Bài thơ của cố bộ trưởng nông nghiệp nhà thơ Huy Cận thật xúc động. Và hôm nay trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Tết Canh Dần (2010) có bài Những dâng hiến lặng lẽ ... của anh Trần Hữu Dũng cũng là một viên ngọc quý.
Tôi không được hân hạnh quen biết chị Võ Hồng Anh* hoặc gia đình chị, nhưng khi nghe tin chị đột ngột từ trần hôm 21 tháng 7, 2009, tôi buồn một cách lạ. Thời bây giờ, sáu mươi bảy tuổi là còn quá trẻ để vĩnh biệt. Rồi khi đọc tít trên một tờ báo “GS TSKH Võ Hồng Anh - Lặng lẽ dâng hiến, lặng lẽ ra đi”, tôi bàng hoàng.
Lặng lẽ dâng hiến, lặng lẽ ra đi..
Chị Võ Hồng Anh là một trường hợp dâng hiến mà nhiều người đã biết, nhưng tôi biết rằng ở nước ta hiện nay, và trong số những người Việt Nam ở nước ngoài, còn rất nhiều người như chị. Họ là những người đang lặng lẽ bảo tồn và phát huy tinh anh của dân tộc, và phần nào, thay mặt dân tộc, đóng góp cho nhân loại. Họ thầm lặng nghiên cứu, giảng dạy, sáng tác, chia sẻ kiến thức với người khác. Đa số họ không được sự biệt đãi nào của xã hội, và cũng chẳng bao giờ (hoặc luôn luôn từ khước) nhận “vinh danh”.
Bao nhiêu người như thế đã sống giữa chúng ta, đã đem lại cho chúng ta những niềm vui, những phút giây thoải mái, mà chúng ta không hề biết họ. Họ là những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu, những nhà văn, nhà thơ, những người soạn nhạc, những nhà văn hoá... họ ảnh hưởng đến chúng ta qua những trước tác, những công trình nghiên cứu, những thế hệ môn sinh, những tấm gương lao động mẫn cán, miệt mài.. . Họ làm việc vì chúng ta, trong im lặng, rồi lặng lẽ ra đi... Có người thì sự dâng hiến được ghi nhận khi họ còn sống, song có người (rất nhiều người) mà khi họ đã ra đi chúng ta mới xót xa sự mất mát, mới ý thức những gì họ đã cho chúng ta thuở sinh thời.
●
Dâng hiến là hành động đặc thù của một cá thể ý thức vị trí của mình trong xã hội và lịch sử. Trong lòng xã hội, họ luôn nghĩ đến những người cùng đang sống với họ. Và trong dòng lịch sử, họ cảm khái món nợ với những thế hệ đi trước và trách nhiệm với những thế hệ đến sau. Thiếu hai ý thức đó thì không thể “dâng hiến”.
Đối với nhiều người, “dâng hiến” có nguồn gốc tôn giáo, là hiến mình cho một thượng đế, một đấng thiêng liêng, nhưng dâng hiến không nhất thiết hàm ý tôn giáo. Thực vậy, một sự dâng hiến thế tục, phần nào đó, lại đáng cho chúng ta (những người trần tục) ngưỡng mộ hơn, bởi vì đó là hoàn toàn cho đồng loại, không với ước mơ lên thiên đàng hay được cứu rỗi cho bản thân. Đó là tặng phẩm cho một cái gì ngoài mình, hoàn toàn không nghĩ đến mình.
Đa số những người dâng hiến có hành động này chẳng phải để thoả mản nhu cầu vật chất (hoặc danh vọng) cho bản thân hoặc gia đình họ. Nói thẳng ra: họ bị thúc đẩy bởi một sự đam mê! Chính vì thế mà họ không dám nhận là họ đang “hi sinh” bởi vì họ có một sự thoả mãn, sung sướng trong hành động của mình. Cái sung sướng ấy là sự chia sẻ kiến thức, là niềm vui khi nhìn thấy việc họ làm là có ích cho người khác, đem đến cho người khác một nụ cười, hoặc vài phút giây thanh thản. Dâng hiến, nhìn như thế, vừa là cao thượng vừa là nhân bản.... Sự “cho kẻ khác” này tạo cho cuộc đời họ tính chất của người nghệ sĩ: niềm vui không vụ lợi, một sự đam mê, một sự vượt phóng ra ngoài những cái thông thường. Họ có thể là những nhà khoa học chuyên nghiệp, những nhà nghiên cứu chỉnh chu... nhưng sự “dâng hiến” của họ lãng đãng “tính tài tử”. Trong tâm hồn, họ là những “nghệ sĩ” trong nghĩa cao quý nhất của nó. Họ là những nhà thơ “danh dự”!
Đóng góp của những người đó lớn vô cùng. Không chỉ ở sự thành nhân của những đứa con, đứa cháu, những người học trò, sinh viên, gần gủi họ, nhưng còn ở những người chỉ quen biết họ, hay chỉ nghe về họ qua một mẫu tin trên báo. Chính họ làm những người khác tin vào cuộc đời hơn, vào sự tốt đẹp của đồng loại hơn. Không đòi hòi “trả công” cho cá nhân mình, người dâng hiến có thể xem như đã nhận, rồi hoàn ngay lại những “thù lao” ấy cho xã hội. Bản chất công việc của họ (“phục vụ người khác”) xem sự thăng tiến trong đời sống của kẻ khác như là ý nghĩa của đời họ. Qua việc họ nghĩ đến “người khác” trong cộng đồng của họ, người dâng hiến trở thành chất keo kết nối cộng đồng ấy. Và chính người thụ hưởng những dâng hiến ấy sẽ cảm thấy sự gắn bó, thậm chí trách nhiệm, của mình với người khác đậm đà hơn, thắm thiết hơn. Nói cách thời thượng, người dâng hiến vừa đóng góp vào “vốn xã hội”, vừa khích dụ sự đóng góp của kẻ khác vào vốn ấy. Tuy rằng sự tôn vinh cuả xã hội là không cần thiết, sự lặng lẽ của dâng hiến, nhất là của những người họat động văn hoá, chỉ có ý nghĩa khi có người thụ huởng những hiến dâng đó.
●
Nếu “dâng hiến” đã là đáng tri ân vì tác dụng của nó ở người thụ hưởng, thì chính sự “lặng lẽ” của sự dâng hiến làm nó trở nên cao thượng. Mọi dâng hiến đều không đòi hỏi “trả công”, nhưng chính sự thầm lặng của nó bảo đảm rằng sự không đòi hỏi ấy là thực tâm. Chính vì thế mà sự dâng hiến đúng nghĩa là sự dâng hiến không ồn ào, không cần ai biết “tác giả” của nó.
Lặng lẽ khác với im lặng. Một nhạc sĩ có thể sáng tác nhiều bài ca đem lại niềm vui cho bao nhiêu người, và có thể không ai biết tên người nhạc sĩ ấy. Đó là một người lặng lẽ nhưng không im lặng. Lặng lẽ có nghĩa là không phô trương. Có những người đóng góp một cách... ồn ào, để được nổi danh. Không nên chê trách họ (vì dù sao họ cũng đóng góp, còn hơn không!), song những đóng góp ấy khó được gọi là “dâng hiến”. Sự “ồn ào” làm mất “tính dâng hiến” của chúng đi.
Người dâng hiến trong thầm lặng còn đáng ngưỡng mộ hơn nữa khi người ấy xem sự thầm lặng như đương nhiên. Chẳng những không ồn ào, họ cũng không tự mãn, tự hào về sự lặng lẽ ấy. Họ cho đó là bình thường, như ăn uống, như hít thở, như chăm sóc luống hoa trước nhà, hay như dạy con vào buổi tối. Họ không là thần thánh, và họ cũng muốn được nổi danh. Song họ không nghĩ những việc họ làm là để được nổi danh. Đó là thứ yếu, không có cũng chẳng sao. Trong thâm tâm, họ hiểu rằng sự “ồn ào” là không cần thiết.
Ngược lại, nhiều khi chính sự “lặng lẽ” mới là cần thiết nếu “thế giới công khai” không thuận lợi cho đóng góp của họ. Trong trường hợp này người dâng hiến còn phải trả một giá đắt cho sự thầm lặng của họ, bởi họ có thể bị hiểu lầm, vu cáo, thậm chí “chụp mũ”, mà không thể thanh minh hay biện hộ cho mình. Sự dâng hiến ấy càng đáng trân trọng.
●
Khi còn sống, người dâng hiến đã có một phần thưởng vô giá ở chỗ biết rằng họ có ich cho xã hội, thậm chí cho cả loài người. Chỉ rằng khi họ không còn nữa thì một lỗ hổng sâu hoắm mới lộ ra cho những người ở lại. Và nỗi tiếc nuối, thậm chí muộn sầu, là ở những người còn sống, khi người dâng hiến đã vĩnh viễn ra đi. Hầu như mỗi chúng ta, đã nhiều lần, một hôm thức dậy, bổng thấy một sự thiếu vắng vô cùng, và nhận ra rằng sự thiếu vắng ấy chỉ vì một người nào đó không còn nữa. Hoặc vài tháng, hay đôi năm, chực nhớ: sao không đọc được bài nào mới của ông X, bà Y nào đó nhỉ, và được cho biết: người ấy đã qua đời. Bùi ngùi, và buồn biết bao nhiêu! Ôi, những sự ra đi lặng lẽ ấy!
Chúng ta cũng không nên quên những người, đa số rất trẻ, đã chết trong chiến tranh, vì quê hương, đất nước. Họ đã dâng hiến sự sống của họ, sự sống duy nhất của họ. Họ còn quá trẻ để để lại một vết tích gì (một công trình khoa học, một cuốn tiểu thuyết, hay một bài thơ...) nhưng khi đi qua những cánh rừng, những khúc sông mà trước đây là chiến địa, tôi ngắm những cành cây, những bãi cát... và tôi tự hỏi... nhánh hoa dại ấy, làn sóng xanh kia... có phải là sự dâng hiến tuyệt vời của họ không? Tôi nghĩ rằng, trong cái tích tắc cuối đời của người chiến sĩ ấy, họ còn nhìn thấy bầu trời xanh của đất nước, ngửi mùi bùn đỏ của quê hương, và cảm giác mãn nguyện của dâng hiến đã ngập tràn trong lòng họ, vì họ biết rằng họ sẽ nhập vào trong đó, cho thiên thu... Rồi họ lặng lẽ ra đi. Cái đẹp là ở chỗ “lặng lẽ” ấy bởi vì, cuộc đời họ, từ lúc ấy, trở thành một bài thơ.
Nhân dịp xuân về, tôi xin nghiêng mình và thầm cảm ơn những người đã và đang lặng lẽ hiến dâng, cảm ơn tất cả...
Trần Hữu Dũng
Tết Canh Dần (2010)
* Chú thích của Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn: GS. TS. Võ Hồng Anh (1941-2009) là con gái duy nhất của bà Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai) và đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1965, bà Võ Hồng Anh tốt nghiệp khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp Lomonosov (Liên Xô). Năm 1982, bà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán – lý tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna. Năm 1988, GS. TS. Võ Hồng Anh trở thành người phụ nữ đầu tiên của ngành vật lý được tặng giải thưởng Kovalevskaia – giải thưởng cao nhất của Việt nam về khoa học kỹ thuật dành cho các nhà khoa học nữ. Những năm cuối đời, GS. TS. Võ Hồng Anh đã dành nhiều thời gian cho công việc ở Hội Khuyến học Việt Nam.
Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010
Đọc lại và suy ngẫm: Mô hình Trung Quốc
DAYVAHOC. Báo Nhân Dân dẫn số liệu của IMF cho biết 10 nước lớn kinh tế năm 2008 là Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đức, Pháp, Anh, Ý, Nga, Tây Ban Nha và Brazil. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc liên tục dẫn đầu thế giới trong nhiều năm qua, năm 2009 đạt 8.5% trong khi nền kinh tế toàn cầu bị suy thoái. Nền kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật năm 2010 và sẽ vượt Mỹ năm 2020. Trung Quốc là cường quốc chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa sát nách Việt Nam. Do vậy, hiển nhiên cần đầu tư nghiên cứu kỹ và toàn diện. Dưới đây là tập hợp tư liệu đọc lại và suy ngẫm cho bài viết: Mô hình Trung Quốc.
Người Trung Quốc nói gì về “Mô hình Trung Quốc”?
Nhân Dân - Ngày 21 tháng 1 năm nay Cục Thống kê nhà nước Trung Quốc công bố GDP năm 2009 của nước này tăng 8,7% so với năm 2008, đạt 33.535,3 tỷ Nhân Dân Tệ. Tính theo tỷ giá hối đoái 1 Nhân Dân Tệ = 0,1466 USD thì con số ấy tương đương 4916,275 tỷ USD.
Cục trưởng Cục Thống kê Trung Quốc nói: “Dù GDP Trung Quốc xếp thứ mấy trên thế giới đi nữa nhưng GDP bình quân đầu người vẫn xếp thứ hạng sau 100. Tình hình cơ bản của Trung Quốc vẫn là người đông, vốn mỏng, tương đối thiếu tài nguyên, lắm người nghèo.”
Theo số liệu của IMF, 10 nước lớn kinh tế năm 2008 là Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đức, Pháp, Anh, Ý, Nga, Tây Ban Nha và Brazil. Ngành thống kê Trung Quốc cho biết: vì gần đây đồng Yen Nhật tăng giá so với USD, cho nên kinh tế Trung Quốc năm 2009 chưa vượt Nhật nhưng năm 2010 (vượt Nhật) thì “không có vấn đề.”
Một công ty tư vấn Pháp dự kiến sớm nhất tới năm 2020 kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, năm 2030 vượt xa Mỹ; khi ấy 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Brazil, Nga, Đức, Mexico, Pháp và Anh; tỷ lệ của các nước trong GDP toàn cầu là: Mỹ 16%, EU 15%, Trung Quốc 19%, Ấn Độ 9%.
Hôm 24/1 Jim O’Neill chuyên viên trưởng kinh tế của Goldman Sachs Group Inc. nói trong năm nay Trung Quốc có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sớm 1 năm so với dự kiến trước đây. Ông nói: với tốc độ tăng trưởng 8,3%, tới năm 2020 quy mô kinh tế Trung Quốc sẽ gấp 3 hiện nay.
Rõ ràng sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc đã trở thành hiện thực trước mắt toàn thế giới. Tạp chí Forbes (Mỹ) số ra ngày 15-12-2009 viết “Trung Quốc đã là siêu cường”
Dư luận quốc tế bắt đầu bàn luận ồn ào về Mô hình kinh tế Trung Quốc. Các nước đang phát triển mong muốn từ mô hình đó tìm được con đường phát triển của mình; các nước giàu cũng muốn tham khảo các kinh nghiệm bổ ích của Trung Quốc để giúp cho sự phục hồi kinh tế của họ.
Mới đây Joshua Cooper Ramo đăng trên cơ quan ngôn luận của một nhóm chuyên gia cố vấn nổi tiếng Anh Quốc là Trung tâm chính sách ngoại giao Luân Đôn bài viết có tên Nhận thức chung Bắc Kinh (The Beijing Consensus), tuyên truyền rùm beng về cái gọi là Mô hình Trung Quốc, cho rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua mô hình này đã “cứu thế giới” ra khỏi cơn suy thoái kinh tế. Thậm chí báo Anh The Guardian còn gọi năm 2008 là Năm mô hình Trung Quốc.
Nhà chính trị học nổi tiếng Francis Fukuyama, tác giả cuốn Hồi kết của lịch sử (The End of History and the Last Man, 1992) – trong đó ông từng quả quyết “Mô hình Mỹ ưu việt hơn bất cứ mô hình nào khác” – nhưng năm 2009 khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Nhật lại nói: “Trong gần 30 năm nay sự phát triển nhanh chóng kỳ lạ của kinh tế Trung Quốc đã thể hiện tính hữu hiệu của Mô hình Trung Quốc, nhìn chung người ta cho rằng Trung Quốc có khả năng tiếp tục tăng trưởng 30 năm nữa. Hiện thực khách quan chứng tỏ dân chủ tự do của phương Tây không phải là hồi kết của lịch sử tiến hoá của nhân loại. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, cái gọi là thuyết Hồi kết của lịch sử cần được cân nhắc lại và hoàn thiện thêm. Kho tàng tư tưởng của nhân loại cần dành một chỗ cho truyền thống của Trung Quốc.”
Báo Washington Post ngày 14-11-2009 cũng đăng bài với đầu đề Người Trung Quốc đang thay đổi chúng ta.
Tóm lại dường như các nước phương Tây tràn đầy niềm hy vọng đối với Trung Quốc. Có điều niềm hy vọng ấy không đơn giản chút nào.
Dư luận Trung Quốc cũng rất phấn khởi đưa tin thế giới xôn xao ca ngợi mô hình phát triển kinh tế của nước họ. Tuy vậy, theo Quảng Châu nhật báo, nhiều người đã nhanh chóng nhận ra động cơ sâu xa tại sao phương Tây lại làm rùm beng vấn đề Mô hình kinh tế Trung Quốc – đó là họ muốn Trung Quốc phải gánh vác trách nhiệm vượt quá năng lực của mình. Nói trắng ra, cách phương Tây tâng bốc “Mô hình Trung Quốc” chẳng qua là để làm hại Trung Quốc mà thôi – tờ Quảng Châu nhật báo viết.
Tổng thống Obama từng nói trong chuyến thăm Trung Quốc năm 2009: “Mỹ không theo đuổi việc kiềm chế Trung Quốc, ngược lại, Trung Quốc lớn mạnh phồn vinh có thể trở thành một lực lượng của cộng đồng quốc tế.” Có thể từ câu nói này suy ra ông Obama yêu cầu Trung Quốc cần có đóng góp tương xứng với vai trò một lực lượng của cộng đồng quốc tế.
Đồng thời báo chí phương Tây bắt đầu bàn tán ầm ỹ cái gọi là mô hình “G2”, tức liên kết kinh tế My-Trung Quốc, cho rằng thế giới đã tiến sang thời đại “Trung Quốc-Mỹ cùng thống trị toàn cầu”. Theo lô-gic của họ, một khi Trung Quốc đã ngang hàng với Mỹ thì nước này nên gánh vác nhiều ‘trách nhiệm” hơn đối với thế giới.
Thí dụ khái niệm G2 được nêu lên tại 2 cuộc họp G20 trong năm 2009, sau đó lại được tiếp tục đề cập tới trong hội nghị thượng đỉnh khí hậu Copenhagen. Có người nói Mỹ và Trung Quốc chiếm 40% lượng khí thải gây nên hiệu ứng nhà kính toàn cầu, nếu hai nước này không có cam kết cụ thể thì hội nghị Copenhagen rất khó đạt được bất cứ thoả thuận nào. Nghĩa là phương Tây muốn trên vấn đề biến đổi khí hậu, Trung Quốc phải cùng gánh vác trách nhiệm như Mỹ. Người Trung Quốc cho rằng, đòi hỏi như vậy là không hợp lý, vì họ đã không xét tới việc Trung Quốc chỉ là nước đang phát triển, khác với Mỹ là nước đã phát triển; một nước đang phát triển đang mở mang kinh tế thì dĩ nhiên cần thải khí nhiều hơn.
Báo Nhật Mainichi ngày 3-8-2009 có bài viết dưới đầu đề “Kế tâng bốc để diệt Trung Quốc”. Bài báo viết: Chủ tịch Uỷ ban Kinh tế Mỹ (National Economic Council) Lawrence Summers mới đây nói: “Mỹ không còn là đầu tàu kinh tế thế giới nữa”, ngụ ý nhường vai trò đó cho Trung Quốc, nhưng đây chỉ là kế sách tạm thời của Mỹ nhằm để tâng bốc mà làm hại Trung Quốc. 20 năm trước Mỹ cũng dùng cách tâng bốc Nhật là Số Một thế giới để hại Nhật, kết quả chỉ sau vài năm kinh tế bong bóng của Nhật tan vỡ, rơi vào tình trạng trì trệ lâu dài.
Một chuyên gia tại Brookings Institution phân tích phương Tây muốn Trung Quốc gánh vác “trách nhiệm quốc tế” trên 3 mặt: Thứ nhất, trách nhiệm về kinh tế và vật chất; họ nói Trung Quốc nay giàu rồi nên góp công góp của cho các vấn đề quốc tế. Thí dụ Ngân hàng Thế giới WB nói Trung Quốc đã không còn là nước cần được quốc tế cho vay nữa. Thứ hai, trách nhiệm mở cửa thị trường tài chính, Trung Quốc cần bãi bỏ sự kiểm soát thị trường này để các công ty nước ngoài tham gia thị trường tài chính Trung Quốc, một thí dụ là phương Tây ép Trung Quốc nâng giá đồng Nhân Dân Tệ. Thứ ba, trách nhiệm về đạo nghĩa, Trung Quốc cần tăng đóng góp tài chính cho cộng đồng quốc tế, cho các tổ chức quốc tế.
Quảng Châu Nhật báo cho rằng tình hình Trung Quốc hiện nay rất giống Nhật trước đây. Sau 2 thập niên tăng trưởng cao, nửa cuối thập niên 80, kinh tế Nhật tiến vào thời kỳ phồn vinh chưa từng thấy. Năm 1985 Nhật trở thành nước chủ nợ lớn nhất thế giới, còn nước Mỹ sau 70 năm là chủ nợ nay lại là con nợ. Ngày ấy dư luận phương Tây bàn tán om xòm về Huyền thoại Nhật Bản. Năm 1979 cuốn Nhật Bản là Số Một (Japan As No. 1) của Ezrra Vogel xuất bản làm chấn động dư luận thế giới. Trong cuốn Thuật luyện đan tài chính (The Alchemy of Finance, 1988), George Soros tuyên bố: sức mạnh kinh tế tài chính đang chuyển từ Mỹ sang Nhật.
Thập kỷ 80, tư bản Nhật thừa đô-la tranh nhau mua bất động sản tại Mỹ. Nhiều người Mỹ lo sẽ có ngày Nhật mua hết cả nước mình. Thực ra doanh nhân Nhật còn thiếu kinh nghiệm đầu tư ở nước ngoài. Trên thực tế họ đã mù quáng mua lại nhiều công ty cũng như bất động sản của Mỹ.
Trong thời gian đàm phán Thoả ước Plaza (Plaza Accord) Nhật Bản quá tự tin đã chủ động đề xuất tăng giá trị đồng Yen Nhật thêm 10%. Nhưng chính là việc ký thoả ước đó (22/9/1985) làm cho Nhật chỉ vài năm sau đã rơi vào cuộc suy thoái “10 năm mất mát”. Đồng yên lên giá, đô-la mất giá làm cho xuất khẩu của Nhật giảm sút, mặt khác các bất động sản người Nhật tậu tại Mỹ tự nhiên mất giá, toàn bộ sự phồn vinh kinh tế của Nhật nhanh chóng biến thành bong bóng xà phòng. Một thí dụ: công ty Mitsubishi bỏ ra 1,4 tỷ USD mua Trung tâm Rockefeller chưa được bao lâu phải bán lại cho chủ cũ với giá bằng một nửa. Nhiều dự án đầu tư của Nhật tại Mỹ thất bại thảm hại.
Mãi tới cuối 1989 chính phủ Nhật mới chú ý đến tính chất nghiêm trọng của nền kinh tế bong bóng. Ngược lại, kinh tế Mỹ từ thập niên 90 bắt đầu thoát ra khỏi sự trì trệ, tiến sang thời kỳ tăng trưởng nhanh liên tục trong cả chục năm. Sau khi các bong bóng kinh tế nối nhau tan vỡ, người Nhật mới tỉnh ngộ, suy nghĩ lại mọi chuyện. Nhiều chuyên gia kinh tế Nhật đổ lỗi cho Thoả ước Plaza, thậm chí cho rằng đó là âm mưu thâm hiểm của Mỹ.
Trung Quốc cần rút kinh nghiệm tránh giẫm lên vết xe đổ của Nhật Bản, chớ nên hoa mắt trước những lời tâng bốc ca ngợi Mô hình Trung Quốc của phương Tây – Quảng Châu Nhật báo kết luận.
NGUYÊN HẢI tổng hợp
Trung Quốc nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nhân Dân - Năm 2009, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm, Chính phủ Trung Quốc đã công bố gói kích thích kinh tế trị giá bốn nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương 586 tỷ USD), góp phần giúp nền kinh tế nước này phục hồi nhanh, đạt mức tăng trưởng khoảng 8,5%.
Nhiều chuyên gia cho rằng, những biện pháp mà Trung Quốc áp dụng nhằm đối phó cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ giúp nền kinh tế nước này đạt mức tăng trưởng khả quan, mà còn hỗ trợ nỗ lực quốc tế giảm bớt tác động của khủng hoảng tài chính và phục hồi kinh tế thế giới.
Với gói kích thích kinh tế trị giá 586 tỷ USD nói trên và hàng loạt biện pháp khác, trong đó có cắt giảm mạnh các loại thuế để đẩy mạnh tiêu dùng trong nước, nền kinh tế của Trung Quốc trong năm 2009 đã đạt nhiều thành tựu lớn. Các số liệu thống kê cho thấy, trong năm 2009, thặng dư thương mại của Trung Quốc là 196 tỷ USD, và nước này đã vượt Ðức trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Trong đó, tính riêng trong 11 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đạt 1,07 nghìn tỷ USD, trong khi kim ngạch xuất khẩu của Ðức chỉ đạt 734,6 tỷ euro (tương đương 1,05 nghìn tỷ USD). Hiện Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về mức dự trữ ngoại tệ. Bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm qua dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã tăng 24%, lên tới 2,4 nghìn tỷ USD. Chỉ riêng trong tháng 12-2009, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã được bổ sung 10,4 tỷ USD.
Nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài và bền vững, Trung Quốc đã thực hiện nhiều dự án đầu tư lớn. Trung tuần tháng 12-2009, Trung Quốc đã khởi công xây dựng cây cầu qua biển dài nhất thế giới, nối TP Chu Hải, tỉnh Quảng Ðông, miền nam nước này với hai khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc là Hồng Công và Ma Cao. Việc xây dựng cây cầu là một sự kiện quan trọng, tạo điều kiện giao thông thuận tiện giữa Hồng Công, Ma Cao và khu vực tam giác sông Châu Giang, giúp tăng thêm sự liên kết và hợp tác kinh tế giữa Hồng Công và Ma Cao, cũng như giữa các vùng đại lục Trung Quốc với Hồng Công và Ma Cao, tăng tính cạnh tranh của khu vực. Cầu chữ Y nối Hồng Công - Chu Hải - Ma Cao do chính quyền tỉnh Quảng Ðông, Hồng Công và Ma Cao đầu tư 10,7 tỷ USD. Cây cầu được thiết kế gồm sáu làn xe, có chiều dài 50 km, trong đó 35 km được xây trên biển, cho phép lưu thông với tốc độ tối đa 100 km/giờ và có thể sử dụng trong khoảng 120 năm.
Cùng với dự án trên, Trung Quốc cũng khánh thành "tuyến đường ống dẫn khí đốt thế kỷ" dài gần 7.000 km nối ba nước, gồm Turmenistan, Kazakhstan và Uzbekistan ở khu vực Trung Á với Trung Quốc. Hệ thống đường ống này khi đi vào vận hành sẽ cho phép Turmenistan cung cấp cho thị trường tiêu thụ năng lượng khổng lồ Trung Quốc 40 tỷ m3 khí đốt/năm, và dự kiến công suất tối đa này sẽ đạt được vào năm 2012. Trong năm 2009, Trung Quốc đã đầu tư số tiền không nhỏ cho khu vực Trung Á với 10 tỷ USD cho Kazakhstan và bốn tỷ USD cho Turmenistan.
Cùng với việc đạt mức tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2009, Trung Quốc - nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới, lần đầu trong lịch sử đã vượt Ấn Ðộ trở thành nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới. Theo đó, tiêu thụ vàng của Trung Quốc trong năm 2009 ước tính khoảng 450 tấn, vượt mức tiêu thụ khoảng 380 tấn của Ấn Ðộ. Sản lượng vàng của Trung Quốc trong năm 2009 là 282,5 tấn, tăng 14,6% so với năm 2008. Hầu hết vàng do Trung Quốc sản xuất được tiêu thụ trong nước và Trung Quốc hiện đứng thứ năm thế giới về dự trữ vàng.
Nhằm nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mới đây Chính phủ Trung Quốc đã họp và đề ra những biện pháp nhằm duy trì các chính sách khắc phục hậu quả của suy thoái kinh tế toàn cầu, tiếp tục đẩy mạnh tiêu dùng nội địa và kích thích tăng trưởng. Chính phủ Trung Quốc cho biết, sẽ tăng cường hơn nữa các chính sách thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong nước và hầu hết các biện pháp kích thích kinh tế hiện nay sẽ tiếp tục được thực thi. Theo đó, Chính phủ sẽ duy trì những chính sách hỗ trợ các hộ gia đình ở nông thôn mua các thiết bị điện, kéo dài thời gian trợ cấp tiền mua ô-tô tới năm 2010. Bên cạnh đó, tiếp tục hỗ trợ tài chính cho người dân mua các trang thiết bị nông nghiệp và giảm thuế đối với xe khách. Chính phủ cam kết thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế trong năm 2010, trong khi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và tương đối nhanh. Thực hiện nhiệm vụ này, trong năm 2010, Chính phủ Trung Quốc sẽ thi hành những biện pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nâng cao sản lượng nông nghiệp, nhanh chóng chuyển sang phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tăng nguồn cung cho thị trường, mở rộng nhu cầu ở các vùng nông thôn, nâng cao thu nhập của nông dân, duy trì mức giá tương đối ổn định, nâng giá mua đối với các loại ngũ cốc chủ yếu, hỗ trợ tài chính và thuế cho nông dân. Nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, trong đó có việc củng cố các hệ thống tưới tiêu, cải thiện mạng lưới điện và xây mới đường sá, đồng thời cải thiện các dịch vụ công cộng ở khu vực nông thôn, cải tiến giáo dục và chăm sóc y tế. Khôi phục hoạt động xuất khẩu và thúc đẩy thương mại quốc tế cân bằng là một trong những nhiệm vụ then chốt của Trung Quốc trong năm 2010. Trung Quốc sẽ bảo đảm "tính liên tục và ổn định" của chính sách thúc đẩy nhu cầu nước ngoài, đa dạng hóa các chiến lược thị trường, mở rộng thị trường mới trong khi duy trì thị trường cũ nhằm đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu.
ANH ÐỨC
Vài suy ngẫm về Trung Quốc
I. Một số điều nên lưu ý khi nghiên cứu Trung Quốc đương đại
Trung Quốc là một nước lớn, 9,6 triệu km vuông, chiếm 1/5 diện tích thế giới, 1/4 diện tích châu Á, đứng thứ 3 thế giới (sau Nga và Canada). Trung Quốc hiện có khoảng 1,3 tỷ dân (là nước đông dân nhất thế giới, chiếm khoảng 1/5 nhân loại) dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên đến 1,5 - 1, 6 tỷ dân (lúc đó sẽ đứng thứ hai thế giới sau Ấn Độ).
Trung Quốc là nước có đường biên giới trên đất liền tiếp giáp với 19 nước, dài trên 20.000 km, và bờ biển dài 18.000 km. Từ đầu những năm 60 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước, Trung Quốc đã chủ động gây ra 3 cuộc chiến tranh biên giới trên bộ (với Ấn Độ, Liên Xô cũ và Việt Nam). Đến nay Trung Quốc còn tranh chấp lãnh thổ với Ấn Độ (theo phía Ấn Độ thì Trung Quốc đã chiếm của họ hàng vạn km vuông lãnh thổ, trong khi Trung Quốc cho là họ chỉ thu hồi lại phần đất mà trước đây thực dân Anh đã chiếm của họ một cách bất công). Trung Quốc đang tranh chấp về chủ quyền đảo, biển với nhiều nước, nổi bật là chủ quyền đảo Senkaku (Điếu Ngư) với Nhật Bản (hiện nay Nhật Bản đang chiếm giữ đảo này), quần đảo Hoàng Sa với Việt Nam, quần đảo Trường Sa với Việt Nam và một phần quần đảo này với Phi-líp-pin, Brunei, Malayxia, Đài Loan, với Indonesia và (Bắc) Triều Tiên, Hàn Quốc có việc phân chia lãnh hải. Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (năm 1974) và 6 bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam (năm 1988). Trong tranh chấp ở biển Đông, Trung Quốc đã từ chỗ chưa bao giờ có, nay đã đứng vững trên quần đảo Hoàng Sa và có chỗ đặt chân trên quần đảo Trường Sa, thể hiện chủ quyền thực tế.
Trung Quốc hiện đã trở thành cường quốc kinh tế, năm 2004, GDP đạt 13.615,5 tỷ NDT (khoảng 1665 tỷ USD), sản xuất được 970 triệu tấn xi măng, 175 triệu tấn dầu mỏ, 272 triệu tấn thép, 73,28 triệu tivi màu, 30,38 triệu tủ lạnh, 66,42 triệu điều hòa không khí, 42 tỷ mét vải v.v.., kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1154,8 tỷ USD (trong đó xuất khẩu 593,4 tỷ USD, nhập khẩu 561,4 tỷ, xuất siêu 32 tỷ USD); dự trữ ngoại tệ đạt 609 tỷ USD (năm 2002 đạt 270 tỷ USD, năm 2003 đạt 403,3 tỷ, trong 3 năm liền tăng với tốc độ rất cao). Trung Quốc đã là nước thu hút đầu tư lớn nhất thế giới, năm 2004 đạt trên 60 tỷ USD. Việc Trung Quốc được mời vào nhóm G7 đã là hiện thực.
Sau Nga và Mỹ, Trung Quốc là cường quốc quân sự hàng đầu trên thế giới, có bom nguyên tử, bom khinh khí và phương tiện mang các vũ khí này tới mọi nơi trên thế giới; sau Nga và Mỹ, Trung Quốc đã tự đưa được người của mình vào vũ trụ.
Trung Quốc là một cường quốc chính trị (Nhật Bản hiện giàu mạnh hớn Trung Quốc về kinh tế nhưng Nhật Bản chưa được thế giới coi là cường quốc về chính trị) là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, là nước có ảnh hưởng không thể bỏ qua trong khu vực (Đông Nam Á và Đông Bắc Á).
Trung Quốc là một trong mấy nước có nền văn minh cổ xưa huy hoàng nhất thế giới, nền văn minh đó có lúc lên lúc xuống, nhưng trước sau vẫn nổi tiếng, xưa nay chưa bao giờ gián đoạn, và có triển vọng phát triển rực rỡ trong thế kỷ 21, Trung Quốc còn có hơn 30 triệu người Hoa ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có nhiều tỷ phú, nhiều nhà khoa học nổi tiếng v.v..
Tuy vậy, Trung Quốc đang phải đối mặt với mấy vấn đề: An toàn về dầu mỏ, an toàn về nước và an toàn về lương thực.
Mặc dù năm 2004, Trung Quốc đã sản xuất được 176 triệu tấn dầu mỏ, nhưng Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu 100 triệu tấn. Trung Quốc đã là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai, sau Mỹ. Dự kiến đến năm 2010, lượng nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc mỗi ngày sẽ tăng gấp đôi, đạt 4 triệu thùng/ngày và đến năm 2030 vào khoảng 10 triệu thùng/ngày.
Nguồn tài nguyên nước của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 6% thế giới, bình quân đầu người chỉ bằng 1/4 trung bình thế giới. Dự tính vào khoảng năm 2030, Trung Quốc sẽ đạt đến đỉnh cao về sử dụng nước, và lượng nước dùng lúc đó đã đến cực hạn của nguồn nước có thể lợi dụng.
Mấy năm gần đây, trung bình mỗi năm Trung Quốc mất khoảng 300.000 ha đất canh tác, trong khi dân số mỗi năm tăng khoảng 10 triệu người, người tăng đất giảm, nên việc cung cầu lương thực ở Trung Quốc đã và sẽ luôn ở trạng thái cân bằng căng thẳng.
Trung Quốc là đất nước có đủ loại tôn giáo, trong đó đạo Phật rất được tôn sùng ở Tây Tạng, đạo Hồi ở Tân Cương, Ninh Hạ có nhiều khả năng tự phát, hoặc bị lợi dụng để phát triển thành mâu thuẫn tôn giáo, mâu thuẫn dân tộc, các tà giáo (như Pháp Luân Công...) còn có đất phát triển.
Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp trong xã hội ngày càng mở rộng. Một bộ phận quần chúng, chủ yếu là nông dân nghèo, công nhân viên chức bị mất việc trong quá trình cải cách có tâm lý bất mãn (năm 2004 đã xảy ra nhiều vụ biểu tình, tuần hành của thôn dân ở Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Hồ Nam..) với hàng chục vạn người tham gia, gây mất ổn định cục bộ.
Qua một số số liệu và tình hình trên, có thể thấy Trung Quốc đã trở thành một cường quốc chính trị, quân sự, kinh tế trên thế giới có vai trò đặc biệt ở khu vực. Địa vị cường quốc đó ngày một lớn và triển vọng trở thành siêu cường ngang hàng với Mỹ trong khoảng hai mươi năm nữa không phải là không có khả năng.
II. Vài nhận định căn bản về liên hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam
Trước khi đề xuất kiến nghị về chính sách và đối sách có tính lâu dài, cần thấy rõ, làm rõ một số vấn đề sau:
A. Chiến lược, sách lược, sức mạnh của Trung Quốc đến năm 2020
Cần phải thấy sự tan rã của Liên Xô, kết thúc chiến tranh lạnh là một cơ hội “trời cho” đối với Trung Quốc. Để thoát khỏi thế hai cực thống trị thế giới hình thành sau đại chiến thế giới thứ hai, thoát khỏi kiềm chế của Liên Xô và Mỹ trong những năm 50, 60, 70 của thế kỷ trước, cấp lãnh đạo Trung Quốc (từ Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình) đã tìm trăm phương ngàn kế nhằm nhoi lên thành một cực, một siêu cường nhưng chưa thực hiện được. Liên Xô tan rã, một cực, một siêu cường mất đi. Đây là cơ hội vàng để Trung Quốc nhoi lên thành siêu cường mới (nước Nga còn rất yếu về kinh tế, Nhật Bản chưa đủ sức mạnh về quân sự và dã tâm chưa rõ, EU là một thực thể mạnh về kinh tế, nhưng không thống nhất v.v..) Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng sự tăng trưởng lớn mạnh về kinh tế của mình có thể giữ được tốc độ cao và tương đối cao liên tục trong 40 năm (từ năm 1980 đến năm 2020) để đến lúc đó, Trung Quốc trở thành cường quốc hàng đầu về kinh tế trên thế giới (Theo tính toán của Ngân Hàng Thế Giới năm 1997 thì đến năm 2020 GDP của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, còn theo tính toán của Hồ An Cương – một nhà kinh tế học nổi tiếng Trung Quốc thì đến năm 2020, Trung Quốc sẽ trở thành một thực thể kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm 22% GDP thế giới – của Mỹ lúc đó chỉ là 20%, còn nếu tính theo sức mạnh tổng hợp đất nước (tức năng lực tổng hợp của một quốc gia thông qua những hành động có mục đích nhằm theo đuổi mục tiêu chiến lược của mình)) năm 1998 của Mỹ là 22,7% của thế giới. Đứng đầu thế giới, của Trung Quốc là 7,78% đứng thứ hai thế giới trên cả Nga, Ấn Độ. Đáng chú ý là nếu năm 1980, sức mạnh tổng hợp đất nước của Trung Quốc mới bằng 1/5 của Mỹ, thì đến năm 1998, Trung Quốc đã bằng 1/3 của Mỹ, tức là trong 20 năm, Trung Quốc từ chỗ kém Mỹ năm lần rút ngắn còn ba lần thôi.
Trung Quốc cho rằng “Hòa bình và phát triển vẫn là chủ đề chính của thời đại. Sự phát triển đa cực hóa thế giới và xu thế toàn cầu hóa kinh tế mang lại cơ hội và điều kiện có lợi cho hòa bình và phát triển của thế giới. Đại chiến thế giới mới sẽ không xảy ra trong khoảng thời gian có thể dự tính được. Việc tranh thủ môi trường quốc tế lâu dài và môi trường xung quanh tốt đẹp là có thể thực hiện được”.
Ngoài những chủ trương lớn như độc lập, tự chủ, gìn giữ hòa bình, xây dựng trật tự kinh tế công bằng hợp lý, cải thiện và phát triển quan hệ với các nước láng giềng, nước đang phát triển, chống chủ nghĩa khủng bố v.v.. ra, cần chú ý đến những nguyên tắc của họ: “Ai cũng không sợ, nhưng không làm mếch lòng ai “Quyết không đi đầu”...
Để thực hiện mục tiêu chiến lược “Dân giàu nước mạnh” đưa Trung Quốc trở thành siêu cường, cạnh tranh vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ hiện nay, Trung Quốc dốc nhiều tâm sức vào việc đối phó với đối thủ hàng đầu là Mỹ và một số đối thủ tiềm ẩn khác như Nhật, Nga, Ấn Độ... Tuy vậy, Trung Quốc không “bỏ qua” Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ.
B. Trung Quốc muốn gì ở Việt Nam?
Việt Nam có trên 1.300 km biên giới trên bộ với Trung Quốc, ngoài ra với hơn 3.000 km bờ biển, án giữ Biển Đông, chúng ta là nước duy nhất (không kể Đài Loan) có tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ khi Việt Nam tiến hành cải cách và đổi mới, đặc biệt là sau khi gia nhập ASEAN, bình thường quan hệ với Mỹ, tích cực chuẩn bị gia nhập WTO, chúng ta đã có vai trò đáng kể ở Đông Dương và khu vực Đông Nam Á. Đó là một sự thực mà Trung Quốc không thể xem thường. Mặc dù hai nước đã thỏa thuận xây dựng quan hệ Việt – Trung theo phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” nhưng qua những diễn biến kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ đến nay, có thể thấy:
- Yêu cầu tối đa của Trung Quốc là biến Việt Nam thành một đồng minh trung thành của họ (trường hợp tốt hơn nữa là “tay sai tin cậy” của họ).
- Yêu cầu trung bình của Trung Quốc là không muốn Việt Nam phát triển nhanh, mạnh, trở thành nước cạnh tranh về kinh tế với Trung Quốc ở Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.
- Yêu cầu tối thiểu tức là khi họ không ngăn được sự phát triển nhanh về mọi mặt của ta thì Việt Nam giữ được vị trí trung lập, không đi theo các nước lớn khác chống Trung Quốc.
Cần thấy thêm là ban lãnh đạo Trung Quốc hiện nay (và có thể thế hệ sau), không tin ta, một bộ phận Trung Quốc nhất là thế hệ trẻ không còn cảm tình với ta như trước (do bị giáo dục sai lệch từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đến nay), khi muốn “gây sự” với Việt Nam, Trung Quốc không cần phải chuẩn bị dư luận nội bộ. Trung Quốc là nguy cơ trực tiếp nguy hiểm nhất về lãnh thổ, lãnh hải của ta.
3. Việt Nam nên nhận thức Trung Quốc như thế nào?
Trung Quốc là một nước lớn (sẽ trở thành siêu cường) láng giềng chung đường biên giới trên bộ – biển (Mỹ là siêu cường ở xa ta, nên mức độ nguy hiểm giảm đi nhiều). Đừng quên bài học đối đầu với nước lớn láng giềng Trung Quốc trong mười mấy năm qua.
Trung Quốc là nước còn tồn tại nhiều vấn đề với ta nhất; ngoài lãnh thổ, lãnh hải, biển đạo còn các vấn đề “nạn kiều” (280.000 người rời Việt Nam, trong đó có những người có công với cách mạng Việt Nam) người Hoa (hơn 1 triệu người), nợ vay từ thời xây dựng hòa bình và thời kỳ chống Mỹ (khoảng 1,5 tỷ NDT, vừa qua dịp Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đi thăm Trung Quốc, Trung Quốc đã xóa bớt cho ta còn 420 triệu NDT), những phụ nữ Việt Nam nhập cảnh phi pháp lấy chồng sinh con đẻ cái (do bị dụ dỗ và do cả tự nguyện) hiện còn đang sinh sống nhiều nơi trong Trung Quốc (chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng không ít hơn mười mấy vạn người). Khi muốn gây chuyện và gây sức ép, Trung Quốc không thiếu con bài để sử dụng.
Trung Quốc không còn chung ý thức hệ với Việt Nam. Họ không còn tinh thần quốc tế vô sản, “Đồng chí” đối với họ chỉ là mỹ từ dùng để lừa gạt những ai nhẹ dạ. Cần nhớ là trong thời gian qua Trung Quốc chưa giúp được nước nào phát triển cả.
Những người lãnh đạo Trung Quốc và ban tham mưu của họ là những bậc thầy về lợi dụng mâu thuẫn. Về chính trị, kinh tế, không bao giờ họ chỉ sử dụng một con bài, một phương án, họ luôn có con bài dự trữ. Nên ghi nhớ câu nói của người Trung Quốc: “Người tốt với ta một, ta tốt với người mười. Người xấu với ta một, ta xấu với người một trăm” và “Ta thà phụ người chứ không bao giờ để người phụ ta” (Ba cuộc chiến tranh biên giới với Ấn Độ, Liên Xô và Việt Nam, Trung Quốc đều bất ngờ “ra tay trước”).
Mặc dù Trung Quốc đang tồn tại nhiều vấn đề, sự phát triển không đều giữa các vùng, nông dân, nông nghiệp, nông thôn chưa xử lý tốt, chênh lệch giàu nghèo ngày càng mở rộng, vấn đề dân tộc, tôn giáo đang âm ỉ, nhưng nhìn chung xã hội Trung Quốc đang trên đà phát triển ổn định. Khẩu hiệu “Chấn hưng Trung Quốc” xây dựng một xã hội hài hòa đã thấm sâu vào lòng người, với tư tưởng quan trọng “Ba đại diện” Đảng cộng sản Trung Quốc còn có thể duy trì được sự lãnh đạo của mình trong nhiều năm nữa (vì Đảng này đang tự thay đổi về nhiều mặt tư tưởng, lý luận, tổ chức, chính sách..) vì vậy đừng đặt ảo tưởng vào việc Trung Quốc xảy ra động loạn lớn hay quay trở lại con đường đồng chí anh em với ta.
III. Một số đề nghị và đối sách
A. Những điều kiện không thể thiếu cho những chính sách và đối sách cụ thể
(1) Nội bộ trước hết là ban lãnh đạo cao nhất, phải có sự đoàn kết nhất trí cao, xin dùng câu nói của Trần Hưng Đạo khuyên vua Trần, trước khi ngài mất để khái quát “Trên dưới đồng lòng, vua tôi hòa thuận”. Khó lại có thể có nổi, nhưng vẫn ao ước được một phần của thời Bác Hồ, tuyệt đại đa số nhân dân đồng lòng đánh Mỹ, tin tưởng vững chắc ở sự lãnh đạo của Đảng và của Bác, trong nội bộ lãnh đạo cao nhất dù có bất hòa, bất đồng, nhưng vẫn có thể nói công khai và chưa dám hoặc chưa thể tìm cách triệt tiêu nhau, làm hại nhau, kéo bè kéo cánh... Vì vậy đã tập trung được trí tuệ cao nhất của toàn dân, toàn Đảng vào việc thực hiện mục tiêu chiến lược.
Còn bây giờ suy nghĩ của người dân vừa phức tạp, vừa phân hóa mà lãnh đạo chưa tìm được nhân tố nào để liên kết lại tạo thành sức mạnh. Ở đây có khó khăn là chúng ta đang từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề cũ đòi hỏi phải giải quyết, nhiều vấn đề mới xuất hiện mà chúng ta chưa đủ kinh nghiệm và bản lĩnh để xử lý .. (thế nhưng, bài học Trung Quốc giương cao ngọn cờ “chấn hưng Trung Quốc”, “dân giàu nước mạnh” trong quyết sách những vấn đề đối nội, đối ngoại rất để chúng ta suy nghĩ).
Trong tình hình hiện nay, chỉ cần bị chụp cái mũ “phá hoại tình hữu nghị Việt-Trung” hoặc “Thân Mỹ” là nhiều sự việc đã được giải quyết một cách gọn ghẽ, và sinh mạng chính trị có thể bị đe dọa.
Không có một ban lãnh đạo đoàn kết nhất trí, tập trung được tinh hoa của dân tộc thì mọi kiến nghị về chính sách, đối sách cũng chẳng có tác dụng gì. Nhìn lại lịch sử, mỗi khi nội bộ nước ta lục đục, triều chính đồi bại, chính là lúc phong kiến phương Bắc tăng cường sức ép, yêu sách và tiến hành xâm lược, chiếm đóng. Và Trung Quốc hiện đại cũng chưa bao giờ từ bỏ tác động vào nội bộ ta.
Trong quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ, nước nhỏ ở thế bị động. Lực lượng nghiên cứu Trung Quốc ở nước ta hiện nay không ít, nhưng phân tán, rời rạc, thiếu chuyên gia đầu đàn, thiếu chuyên gia giỏi cho từng lĩnh vực. Cần có sự tổ chức, phân công, chính sách thích hợp để tập hợp được tinh hoa, giành chủ động trong thế bị động với Trung Quốc.
(2) Nói chung, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc lớn, những vấn đề đụng chạm đến chủ quyền, đến sự tôn nghiêm của dân tộc, trong khi xử lý quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, hiểu rõ vai trò và sĩ diện nước lớn của họ để tùy từng vấn đề, vụ việc mà có khi phải vuốt bụng nhịn, nhường họ trong một sự việc nhạy cảm cụ thể nào đó, thậm chí có khi phải tránh đường hoặc đi đường vòng, “tránh voi chẳng xấu mặt nào” mà. Cần hết sức lưu ý là đừng để bao giờ lâm vào cảnh mình là người đối đầu duy nhất với Trung Quốc.
(3) Chúng ta tôn trọng Trung Quốc, hiểu rõ sức nặng nước lớn – láng giềng của họ – nhưng không vì thế mà chúng ta phải nơm nớp sợ họ, lùi bước trước sức ép của họ một cách bị động, thậm chí nhượng bộ họ một cách vô nguyên tắc.
Cần phải thấy rằng Trung Quốc không thể ép chúng ta, đối xử với chúng ta một cách quá mức để Việt Nam phải ngả sang với Mỹ. Nói giả dụ một nước Việt Nam “thân Mỹ” hùng mạnh, ở ngay biên giới phía Nam của Trung Quốc, án ngữ biển Đông (nơi 21/39 đường hàng hải Trung Quốc phải đi qua) sẽ ảnh hưởng tới an ninh của Trung Quốc như thế nào. Hơn nữa, mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là trở thành siêu cường. Siêu cường không thể không có đồng minh thân cận (như Mỹ với Anh), Trung Quốc hiện nay chưa có đồng minh thân cận (Bắc Triều Tiên không được Trung Quốc coi là đồng minh tin cậy) do đó Trung Quốc không thể từ bỏ ý đồ lôi kéo Việt Nam. Ngoài ra trong đối xử với Trung Quốc, chúng ta còn có các nước trong khu vực, một số nước lớn khác, nhiều nước đang phát triển... nên ngoài sức mạnh bản thân, chúng ta còn có sự ủng hộ của loài người tiến bộ và cả “cái thế” lựa chọn nữa. (Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta ngả hẳn về một phía để chống Trung Quốc).
(4) Trung Quốc là một nước đi tắt đón đầu tốt nhất, sẽ hoàn thành hiện đại hóa trong thời gian lịch sử tương đối (khoảng 100 năm). Trung Quốc là nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường tương đối thành công, do vậy có nhiều điều chúng ta có thể học tập, rút kinh nghiệm từ họ (ngay cả với những vấn đề không thành công). Tuy vậy cần tránh hai khuynh hướng; cho rằng cái gì của Trung Quốc cũng hay hoặc ngược lại cho rằng Trung Quốc chẳng có gì đáng học cả, để tránh bắt chước một cách mù quáng hoặc bài xích.
B. Một số kiến nghị về đối sách và chính sách
Trước khi nêu một số vấn đề cụ thể, xin tóm tắt những điều đã nói ở trên: “Trung Quốc là một nước láng giềng lớn mạnh và ngày càng hùng mạnh hơn nữa. Giữa họ và ta còn tồn tại nhiều vấn đề (có vấn đề rất phức tạp, gay cấn), họ có tham vọng lớn với ta về cả lãnh thổ, chính trị, kinh tế. Chúng ta cần tôn trọng, nhân nhượng với Trung Quốc trong những vụ việc có thể nhân nhượng được. Quyết không đi với nước khác hay nhóm nước khác chống lại Trung Quốc và không bao giờ để rơi vào thế một mình đối đầu với Trung Quốc, nhưng quyết không khiếp sợ họ, lùi bước hoặc từ bỏ những vụ việc không thể từ bỏ được. Nội bộ chúng ta đoàn kết nhất trí, tập trung được sức mạnh và trí tuệ toàn dân, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới, lớn mạnh nhanh chóng về mọi mặt là bảo đảm vững chắc cho mọi ứng xử đã, đang và sẽ xảy ra trong mối quan hệ hai nước”.
(1) Vấn đề biên giới lãnh thổ
Ngày 30/12/1999, hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền (có hiệu lức từ ngày 6/7/2000). Đến nay hai bên đã cắm được 400 cột mốc biên giới. Tốc độ cắm như vậy là chậm (theo tính toán sẽ có khoảng 1.100 cột trên hơn 1300km đường biên). Hiệp định đã được ký và đã có hiệu lực, thiệt hơn khó có thể sửa được, vì vậy chúng ta không nên kéo dài thời gian cắm mốc (bởi vì nước yếu hơn bao giờ cũng phải chịu phần thua thiệt, nhất là khi sự đã rồi). Qua việc ký kết Hiệp ước biên giới giữa Trung Quốc và Mông Cổ, Lào, Miến Điện, thấy nói chung Trung Quốc tôn trọng đường biên giới đã ký (cũng có thể mấy nước này không có vấn đề gì gay cấn với Trung Quốc, nên họ không dùng vấn đề biên giới để gây sự...), tuy vậy có cái rõ ràng để làm cơ sở đấu tranh sau này còn hơn là không có.
(a) Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá
Ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 30/2/2004. Nói chung ký được bây giờ còn hơn sau mới ký. Tuy vậy thời hạn của vùng đánh cá chung để hơi dài (12-15 năm), Trung Quốc sẽ triệt để lợi dụng thời gian này để khai thác và gây sự. Tàu ta bé, lưới ta nhỏ hơn, phần thua thiệt đã rõ, oán trách lẫn nhau cũng không xoay chuyển được tình hình, nếu không vươn lên ngang ngửa với họ (một cách đúng luật) thì đành chấp nhận. Việc thăm dò khai thác tài nguyên trong lãnh hải thuộc chủ quyền đã phân định của ta trong Vịnh bắc bộ cần phải cảnh giác, đề phòng mọi khả năng có thể xảy ra.
(b) Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Quần đảo Hoàng Sa. Chỉ có Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đòi chủ quyền quần đảo này, hiện Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng phi pháp toàn bộ (một nửa năm 1956 và nửa còn lại tháng 1 năm 1974) và ngang nhiên coi chúng là của mình. Ta không thể dùng vũ lực để thu hồi, nhưng không thể từ bỏ chủ quyền. Có thể chỉ nên đòi những đảo mà Trung Quốc đánh chiếm từ tay chính quyền Sài Gòn hồi tháng 1 năm 1974, như thế vừa tỏ ra có nhượng bộ mà vẫn có cơ sở pháp lý để thế hệ sau giải quyết vấn đề.
Quần đảo Trường Sa. Đây là nơi tranh chấp của Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phi-líp-pin, Brunei, Malaysia về biển đảo và Indonesia (có thể cả Đông Timor) về lãnh hải. Hiện nay số đảo bãi ngầm mà các bên chiếm giữ là Việt Nam 21, Phi-líp-pin 8, Trung Quốc 6 và Đài Loan 1.
Chúng ta nên đòi chủ quyền một phần quần đảo này, nghĩa là ngoài 21 đảo bãi ngầm mà chúng ta đã chiếm giữ ra, ta chỉ đòi quyền ở những bãi đảo ngầm dọc theo bờ biển nước ta cho đến hết phần biển Đông. Ta không phản đối Trung Quốc thăm dò khai thác ở vùng lãnh hải sát Phi-líp-pin, Indonesia v.v.. Đây không phải là sự từ bỏ chủ quyền, việc đồng ý của Trung Quốc và Phi-líp-pin thăm dò ở vùng thuộc biển Đông nhưng cách rất xa ta là một quyết định khôn ngoan. Từ nay nên tránh một mình phản đối Trung Quốc ở những nơi xa tít tắp trên biển Đông, nhưng với những cái đã có và những cái ở sát sườn mình thì quyết không nhân nhượng.
Trong vấn đề quần đảo, Trung Quốc rất không muốn quốc tế hóa, chính vì vậy mà chúng ta cần khôn ngoan quốc tế hóa vấn đề, nhất là tìm kiếm sự “có mặt” của Mỹ.
(c) Trong vấn đề biên giới, biển đảo
Chúng ta cần công khai đến mức tối đa, tập trung được trí tuệ của toàn dân tộc. Không nên coi đó là việc làm của riêng một số người và không ai chịu trách nhiệm cả. Cụ Phan Thanh Giản thời Nguyễn sau khi kí hiệp ước cắt sáu tỉnh Nam Bộ cho xâm lược Pháp, đã phải uống thuốc độc tự vẫn. Vì vậy quyết không được coi thường dư luận.
(2) Các vấn đề hợp tác kinh tế, ngoại thương, hợp tác văn hóa, kỹ thuật v.v..
Những vấn đề nay tiến hành như thời gian qua là tương đối tốt, ngoại trừ tệ nạn buôn lậu và thu hút đầu tư của Trung Quốc chưa được nhiều.
Chúng ta đều biết, tháng 5 năm 2004, thủ tướng Phan Văn Khải thăm Trung Quốc và tháng 10 cùng năm, thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm Việt Nam. Qua hai chuyến thăm đó, hai bên đã xác định hợp tác; Hành lang Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, hành lang Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ (mà theo ý tưởng của một học giả Trung Quốc, vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ gồm 10 tỉnh, thành phố sau đây của Việt Nam: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị với diện tích 58.452 km vuông và 16,8 triệu dân, còn phía Trung Quốc chỉ gồm: cảng Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải, Ngọc Lâm của tỉnh Quảng Tây và Trạm Giang, Mạo Danh thuộc tỉnh Quảng Đông, và Tỉnh Hải Nam với diện tích 113.876 kilômét vuông và 39,8 triệu người).
Ngoại trừ Trạm Giang và Mạo Danh thuộc tỉnh Quảng Đông là vùng duyên hải khá phát triển của Trung Quốc ra, hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây thuộc vùng phát triển trung bình kém của Trung Quốc (theo số liệu của Ngân Hàng Thế Giới năm 2000, bình quân đầu người GDP tính theo trình độ sức mua (PPP) của Quảng Tây đứng thứ 155 trên 206 nước và khu vực trên thế giới, còn Vân Nam là 149/206), nói một cách khác là sự phát triển của họ không cao hơn Việt Nam bao nhiêu.
Mở hai hành lang kinh tế và vành đai kinh tế nói trên, nếu nói là Việt nam không thu được lợi ích gì là không đúng, nhưng rõ ràng là sự thua thiệt về ta. Trước hết ta không thể chờ vào sự thu hút đầu tư vốn và kỹ thuật tiên tiến. Thứ hai, họ sẽ hút hết những nguyên liệu thô quý báu của chúng ta. Thứ ba, thông qua các hành lang và vành đai này, Việt Nam sẽ là nơi để trút hàng kém phẩm chất, hàng giả, hàng nhái của Trung Quốc thông qua con đường buôn lậu. Chưa có hai hành lang, một vành đai chúng ta đã khốn khổ vì nạn nhập “hàng lậu” của Trung Quốc, thử hỏi khi chúng hình thành tình hình sẽ ra sao. Thứ tư, hai hành lang, một vành đai có thể nói là một sự mở toang cánh cửa cho sự xâm nhập về mọi mặt của Trung Quốc một cách công khai, dễ dàng vào Việt Nam. Vấn đề an ninh quốc gia sẽ như thế nào đây?
Khi đã hợp tác thì hai bên phải cùng có lợi, ai giỏi tính toán hơn thì được phần nhỉnh hơn, nhưng phải cố gắng để không thiệt hại nhiều. Trung Quốc đã muốn thì ta không thể từ chối hoàn toàn và ta cũng không dại gì mà không hợp tác với Trung Quốc nhưng vấn đề mà hai bên cùng có lợi. Nhưng của nả của ta có nhiều đâu? Không làm thử một hành lang thôi? Các làm tốt nhất là cho tiếng, là sự biểu thị sự tôn trọng, sự không chống lại họ, và nếu là những đồng tình thì càng nên khai thác.
(3) Một vài kiến nghị và đối sách đối với Mỹ, Nhật
(a) Với Mỹ
Phải sau kết thúc chiến tranh hơn 20 năm (4/1975 – 8/1995) chúng ta mới lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Ở đây, có lỗi của người Mỹ, nhưng phải thấy là chúng ta đã để lỡ thời cơ và mắc mưu Trung Quốc trong việc sa lầy ở Campuchia. Đề nghị hãy đọc lại và suy ngẫm thật sâu, thật kỹ việc Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã chủ động, nín nhịn và sáng suốt hơn người để nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với nhà Minh. Sau gần 20 năm chiếm đóng, giặc Minh đã gây cho nhân dân chúng ta những tội ác “trời không dung, đất không tha” như “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò trai, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chi chả. Tàn tạ cả côn trùng, thảo mộc (khác gì chất độc da cam)... chẻ hết trúc Nam Sơn không ghi hết tội ác; lấy hết nước Nam Hải không rửa hết hôi tanh”. Nhưng khi giặc đã chịu thua rút quân về nước (như quân viễn chinh Mỹ) thì mặc dù vừa qua sự tàn phá ghê gớm của chiến tranh, mối căm thù với giặc chưa nguôi, nhưng xuất phát từ lợi ích tối cao của dân tộc, Lê Lợi – Nguyễn Trãi vẫn “Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho 500 chiến thuyền (ra đến biển chưa thôi trống ngực), Vương Thông, Mã Anh phát cho vài trăm cỗ ngựa (về đến nước còn toát mồ hôi), và sau đó còn chịu cống người vàng Liễu Thăng trong một thời gian, để yên phương Bắc, xây dựng lại đất nước. Không có quyết sách này làm sao có thời thịnh trị Lê Thánh Tôn sau đó.
Một vấn đề cần đặt ra đây để đối chiếu. Vì sao Trung Quốc bất ngờ, chủ động gây ra cuộc chiến tranh biên giới, giết hại khá nhiều chiến sĩ đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất và nhà cửa ở các thị xã thuộc các tỉnh biên giới (chưa kể việc họ còn giúp bọn Khờ-me Đỏ đánh úp ở biên giới nước ta và cuộc chiến đấu sau khi ta vào Campuchia làm rất nhiều chiến sĩ và đồng bào ta bị hy sinh, mang thương tật. Nghe nói ở Campuchia, tổn thất, thương vong về người của chúng ta bằng cả cuộc chiến tranh chống Pháp). Thế mà họ không hề có một lời xin lỗi, một tý đền bù, còn trịnh thượng ra điều kiện cho chúng ta khi bình thường hóa quan hệ (sao lại có sự đối xử không công bằng với hai nước như vậy?)
Cần thấy rằng nước Mỹ không phải là kẻ thù truyền thống của ta, họ lại ở rất xa ta, không có tham vọng về lãnh thổ của ta và không có nhiều vấn đề gay cấn với ta như với Trung Quốc. Là một siêu cường, Mỹ có thể hiện nước lớn của mình, chúng ta cần tôn trọng họ, chí ít cũng như đối với Trung Quốc. Khách quan mà nói Mỹ (một số nước phát triển ở Tây Âu, Nga, Nhật ...) đang là những người kiềm chế hành vi quá khích ở Trung Quốc; không có cuộc cấm vận sau sự kiện Thiên An Môn (tháng 4/198) mà cuộc cấm vận về quân sự còn kéo dài đến tận bây giờ, và những tuyên bố của Mỹ, chưa ai biết là Trung Quốc đã và sẽ làm gì ở biển Đông.
Vì thế cần nhanh chóng đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, giáo dục. Cần nghiêm chỉnh học tập tinh thần của cha ông, rửa mặt cho người Mỹ, dù là đã muộn, nhưng muộn còn hơn không. Tất nhiên Trung Quốc không vừa lòng nếu ta cải thiện mối quan hệ với Mỹ hơn nữa, tuy vậy chúng ta không đi với Mỹ để làm hại lợi ích của Trung Quốc thì họ cũng khó ngăn cản, mà cản cũng không được nếu ta khôn khéo tính tóan bước đi phù hợp. Cải thiện hơn nữa quan hệ với Mỹ sẽ còn góp phần hòa giải dân tộc, thu hút tốt hơn nữa chất xám và vốn của Việt Kiều (thử hỏi mỗi năm không có vài ba tỷ USD kiều hối bằng tiền mặt gửi về, tình hình cân bằng ngoại tệ của ta sẽ ra sao).
(b) Với Nhật Bản
Trong quá khứ, Nhật Bản đã chiếm đóng nước ta và gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, nhưng người Nhật đã có bồi thường và tỏ ra có lỗi. Từ sau khi nước ta thống nhất, quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam phát triển nhanh chóng, nhất là trong thời gian gần đây. Mọi người đều biết Nhật Bản là cường quốc kinh tế số hai thế giới hiện nay, dù mấy năm nay sự phát triển có phần chững lại, nhưng Nhật Bản vẫn là nước có tiềm năng dồi dào về vốn và kỹ thuật, Nhật Bản là một trong vài nước đủ sức giúp ta phát triển nhanh chóng. Nước ta cách xa Nhật Bản, không tồn tại vấn đề gay cấn. Cũng như ta, Nhật Bản đang có vấn đề tranh chấp về biển, đảo với Trung Quốc, (Nhật đang chiếm giữ đảo Seikaku mà Trung Quốc tự nhận là của mình với cái tên Điếu Ngư). Người Trung Quốc còn thù dai tội ác của Nhật Bản gây cho họ trong thời gian xâm lược (1937 - 1945) như cuộc tàn sát đẫm máu nhân dân Nam Kinh, việc sử dụng người Trung Quốc làm thử nghiệm vũ khí vi trùng... Nhật Bản cũng đang tỏ ra lo lắng trước sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Chúng ta đang ở thế nếu tiến gần Mỹ sẽ bị Trung Quốc “không bằng lòng” và nếu gần Trung Quốc sẽ bị Mỹ “không ưa”, và cả hai nước đều biết ta sẽ không đi với nước này chống nước kia, nên họ sẽ cùng ép ta, chúng ta chống đỡ xoay xở rất khó. Đó là một thực tế khách quan. Chính vì vậy mà nâng quan hệ về mọi mặt, nhất là về hợp tác kinh tế, kỹ thuật với Nhật Bản lên tầm cao mới là vấn đề có ý nghĩa trọng đại.
Thi hành những chính sách, đối sách trên không bao giờ nằm mục đích chống lại Trung Quốc. Chúng ta chỉ muốn người láng giềng lớn mạnh này để yên cho chúng ta làm ăn theo sự lựa chọn có lợi nhất cho chúng ta mà không làm tổn hại đến họ – chúng ta có đủ điều kiện thuận lợi trong, ngoài để làm được điều đó. Nhưng thời gian thuận lợi khó có ấy chỉ còn độ 10 – 20 năm nữa thôi. Cần thấy rõ điểm này để đoàn kết nội bộ hơn nữa, tập trung được ý chí toàn dân hơn nữa, vận dụng tốt quan hệ với nước ngoài hơn nữa, nhanh chóng xây dựng đất nước ta giàu mạnh lên.
Ngày 30/3/2005
Tài liệu tham khảo
1/ Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 16, năm 2002.
2/ Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc tại kỳ họp Quốc Hội tháng 3 năm 2005.
3/ “Đại chiến lược Trung Quốc” năm 2002.
4/ “Báo cáo vấn đề Trung Quốc” năm 2001.
Và một số chuyên đề, đề tai về Trung Quốc mà tác giả đã viết hoặc tham gia.
* Nguyên là viên chức nhiều thập kỉ trong ngành ngoại giao Việt Nam. Trước khi về hưu năm 1996, ông là Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tất nhiên mọi nhận định, ý kiến trong bài này là của riêng tác giả, hoàn toàn độc lập với quan điểm chính thức hay không chính thức của chính phủ Việt Nam, hiện tại cũng như trong quá khứ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

