Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Hai lần khó ...

DẠY VÀ HỌC. Bài viết "Hai lần khó..." của Văn Công Hùng chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên: "Nếu không từng lăn lộn chết sống và yêu Tây Nguyên đến rớm máu, đến tận cùng thì đã không có Nguyên Ngọc, Thu Bồn. Nếu không trực tiếp tham gia cuộc đánh chặn lịch sử và kỳ lạ ở đường 7 năm 1975, mở ra một giai đoạn mới cho cuộc tổng tấn công toàn thắng tháng tư năm bảy lăm thì Khuất Quang Thụy không thể có "Trong cơn gió lốc", hoặc có nhưng nó sẽ khác...Có thể ngồi một chỗ gõ google tìm số liệu, nhưng google không thể chỉ ra chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm hồn, những phập phồng thức mở của từng nhịp đập trái tim, của những li ti rung động, và cả những chấn động lớn trong tâm hồn con người trong cuộc sống còn nhiều những vòng xoay trái chiều hôm nay. Phía trong cái vẻ trầm mặc của đời sống có vẻ buồn bã kia là điều gì, những gì đang cuộn xoáy phía trong...Như thế, thiển ý của chúng tôi là muốn chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên."

                                                                                         
Cho đến bây giờ không ai phủ nhận Tây Nguyên là một cái mỏ tiềm ẩn cho người viết Văn. Một đời sống tâm linh bí ẩn, một sự vỡ da đau đớn và sung sướng, một quá khứ bi hùng, những xô dạt trắc ẩn, những thân phận mông muội và phong phú, những cuộc đời lênh đênh và tự tại, chênh vênh cùng bền vững, khắc khoải cùng an nhiên, khoảnh khắc và dằng dặc, vân vân và vân vân khiến cho có người từng ví Tây Nguyên giống như một thời Nam Mỹ của Mác Két. Nhưng cũng phải công nhận, những gì mà người viết ở Tây Nguyên hiện nay đã có, chưa tương xứng với kỳ vọng, với tiềm năng...


Có thể kể tên hàng loạt người viết văn ở 5 tỉnh Tây Nguyên. Kon Tum có Tạ Văn Sĩ, Hữu Kim, Phạm Minh Sáng, Gia Lai có Hương Đình, Thu Loan, Phạm Đức Long, Chử Anh Đào, Ngô Thị Thanh Vân, Vũ Thu Huế, Hoàng Thanh Hương, Nguyễn Quảng Hà..., Đắc Lắc có Linh Nga Niekdam, Phạm Doanh, Hữu Chỉnh, Lê Vĩnh Tài, Đinh Như Thúy, Nie Thanh Mai, Đặng Bá Tiến, Hoàng Thiên Nga..., Lâm Đồng có Phạm Quốc Ca, Trần Ngọc Trác, Chu Bá Nam, Đào Hữu Thức... con số những cái tên có thể còn dài thêm, nhưng một vấn đề đặt ra là, trong những cái tên ấy, những ai đã để lại dấu ấn Tây Nguyên, Tây Nguyên theo nghĩa bản sắc văn hóa, trầm tích tâm linh của vùng đất vốn dĩ mang trong nó nhiều bí ẩn, đầy mâu thuẫn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất, đa dạng phong phú nhưng lại cũng thuận hòa, trong tác phẩm của mình, cũng nhưng mấy người viết gắn với đề tài dân tộc thiểu số, cụ thể hơn, đến Tây Nguyên.

Một số người đang sống và viết ở Tây Nguyên nhưng chả có dòng nào về Tây Nguyên, có chăng là nhắc phố núi, chiều mưa, yàng ơi... tức nó chỉ là cái vỏ hình thức, chứ còn sâu thẳm đời sống Tây Nguyên thì chưa chạm vào được.

Vì sao thế?

Ba chục năm sống và viết ở đất này, cũng chịu khó đọc và chơi với nhiều bạn viết, tôi thấy có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân phổ quát của cả nền văn chương quốc gia, và có nguyên nhân khu biệt. Tôi thử nêu ra ở đây vài nguyên nhân khu biệt.

1. Hiện nay người viết là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất ít, trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình tôi biết mới chỉ có ở Đăc Lăc, Gia Lai và Lâm Đồng. Đăc Lắc có các chị Linh Nga, Kim Nhất, Nie Thanh Mai, một số cháu mới phát hiện trong các trại sáng tác của hội. Gia Lai có Ksor Bi Tó. Lâm Đồng có Kpa Plin. Họ viết như thế nào, chủ yếu, nếu không nói là tất cả, bằng tiếng Kinh. Trong quá trình tác nghiệp, chúng tôi thấy người dân tộc Tây Nguyên có những cách dùng từ, dùng hình ảnh rất hay trong các bài dân ca, các trường ca của họ, ví dụ như cái hình ảnh "Cười đầy mồm" trong trường ca Di ông Dư mà chúng tôi có tham gia sưu tầm. Những chữ ấy, hình ảnh ấy hầu hết bị triệt tiêu khi sáng tác bằng tiếng Kinh. Các anh các chị người Tây Nguyên có muốn sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ cũng không được, vì sẽ phổ biến như thế nào khi mà bản thân đồng bào, bạn đọc không biết chữ mẹ đẻ. Rồi báo nào in những tác phẩm mà bản thân các biên tập viên cho đến người duyệt không đọc được ấy. Văn chương nó khác một bài báo, một mẩu tin để có thể in trên báo ảnh tiếng dân tộc. Mà viết bằng tiếng Kinh thì, bản thân người Kinh nhiều khi cũng còn lè lưỡi lắc đầu về độ khó, độ phong phú, phức tạp của tiếng Việt, huống gì ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ đã được luyện, được vót, được tinh tuyển đến độ tinh xảo, đến độ chữ không còn chữ, câu không còn câu, chỉ còn nỗi ám ảnh sau chữ, sau câu, sau trang văn. Và vì thế mà cho tôi bày tỏ sự kính trọng của mình với các anh chị đồng nghiệp người Tây Nguyên viết bằng tiếng Việt. Chúng tôi khó một các anh chị khó hai, thậm chí là ba bốn lần, và vì thế mà những gì các anh chị đã có là những tài sản rất quý, rất đáng trân trọng về mặt lao động chữ nghĩa... Tức là cái khó đầu tiên của người viết là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên chính là rào cản ngôn ngữ. Cũng tức là, để là một nhà văn Tây Nguyên các anh chị phải vất vả gấp 2 lần khi thể hiện ý tưởng của mình.

2. Với các anh chị người Kinh viết về Tây Nguyên, ngoài một số sống ở ngay Tây Nguyên nhưng không viết gì về Tây Nguyên, một số tạm gọi là thành công khi tên tuổi của họ thường được nhắc đến trên các diễn đàn mỗi khi cần chỉ ra một vài gương mặt cầm bút Tây Nguyên..., còn một số người viết Tây Nguyên rất ngây ngô. Họ chưa sống tận cùng với đời sống Tây Nguyên. Không chỉ sống cùng ăn cùng ở, mà còn phải nghiên cứu, học hỏi... một vài ví dụ: Có nhà văn nọ viết truyện, có nhân vật phụ nữ đi mua lông gà lông vịt trong làng dân tộc. Nhà văn này không biết rằng người Tây Nguyên không nhúng nước sôi vặt lông gà như người Kinh mà họ nhúng nước rồi đốt gà. Mà đốt như thế thì lấy đâu lông gà lông vịt mà mua. Chưa hết, khi tả các phong tục thì lẫn lộn lung tung giữa Ba Na với Gia Rai, giữa Ê Đê với Rơ Ngao, cứ đại khái là già làng khấn: Ơi lũ làng, ơi thần sông thần núi thần rẫy thần rừng, rồi thì cái mày cái tao, cái bụng cái rẫy... lẫn lộn giữa tết cơm mới với lễ pơ thi, giữa tượng nhà mồ với hình tượng rau dớn nhà rông, giữa việc đẻ trong rừng với kiêng khem đốt lửa hơ hóng người Kinh... Cái cách ấy là cách nhanh nhất để tuyệt diệt Tây Nguyên bằng văn chương, đồng hóa Tây Nguyên với các vùng đất khác một cách sang trọng và hồn nhiên, bởi khi sách đã in ra, hàng ngàn người đọc và hiệu ứng cứ thế lan truyền.

Ngày xưa, các nhà văn tiền bối như Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Ngọc Anh, Trung Trung Đỉnh... đã đánh đổi cả cuộc sống của họ cho những trang văn. Trước hết là họ phải tìm cách để sống. Và cái sự tìm cách sống ấy khiến họ phải hòa đồng vào đời sống với đồng bào, họ sống đến tận cùng đời sống ấy, một cách hồn nhiên và đầy gian khổ đau đớn. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của chúng ta là chiến tranh nhân dân. Cuộc chiến tranh ấy đã lan tới từng ngôi nhà ngõ phố, đụng đến số phận của từng cá nhân, từng gia đình trong tổ quốc Việt Nam. Nó đánh thức, khơi dậy, đụng đến từng góc sâu kín nhất của con người. Có những người ra đi có những người ở lại, có những nỗi nhớ, có sự đợi chờ, có sự dấn thân, có sự mất mát... Rất nhiều cán bộ người Kinh đã lên Tây Nguyên hoạt động, làm "Người Đảng" cùng ăn cùng ở cùng làm với nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Họ cũng đóng khố, cà răng căng tai, nghĩ nếp nghĩ cùng dân, nói tiếng nói của dân, và họ đã cùng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên làm nên chiến thắng. Một số họ sau này đã trở thành các nhà văn như đã kể trên. Nếu không từng lăn lộn chết sống và yêu Tây Nguyên đến rớm máu, đến tận cùng thì đã không có Nguyên Ngọc, Thu Bồn. Nếu không trực tiếp tham gia cuộc đánh chặn lịch sử và kỳ lạ ở đường 7 năm 1975, mở ra một giai đoạn mới cho cuộc tổng tấn công toàn thắng tháng tư năm bảy lăm thì Khuất Quang Thụy không thể có "Trong cơn gió lốc", hoặc có nhưng nó sẽ khác. Cũng như thế, nếu không có những ngày tháng vừa lăn lộn chiến đấu vừa ba cùng học hỏi nhân dân, tắm mình trong đời sống văn hóa Tây Nguyên thì sẽ không có nhà văn Trung Trung Đỉnh sau này, hoặc có thể ông vẫn trở thành nhà văn nhưng sẽ không có "Lạc rừng", "Đêm nguyệt thực", "Chớp trên đỉnh Kon Tầng"...

Còn nhà văn chúng ta bây giờ, nói là ở Tây nguyên, nhưng phần lớn là sống ở thành phố, ở các khu đô thị, lâu lâu lại đi "thực tế". Những cuộc thực tế vài ba ngày ấy là rất quan trọng và cần thiết nhưng nó chỉ như là cưỡi ô tô ngắm làng. Ai đó nói không cần đi thực tế vẫn viết được, tôi thì tôi không tin, bởi nếu không đi thực tế hoặc không sống cùng, chỉ ngồi một chỗ, làm sao biết được cái lễ đâm trâu nó khác lễ cơm mới như thế nào, cái khố khác cái váy thế nào, và sâu xa hơn nữa, chiều sâu tâm hồn tính cách con người như thế nào? Có thể ngồi một chỗ gõ google tìm số liệu, nhưng google không thể chỉ ra chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm hồn, những phập phồng thức mở của từng nhịp đập trái tim, của những li ti rung động, và cả những chấn động lớn trong tâm hồn con người trong cuộc sống còn nhiều những vòng xoay trái chiều hôm nay. Phía trong cái vẻ trầm mặc của đời sống có vẻ buồn bã kia là điều gì, những gì đang cuộn xoáy phía trong...

Như thế, thiển ý của chúng tôi là muốn chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên. Nếu là người dân tộc thiểu số thì ngoài tư chất nhà văn họ còn phải có một vốn tiếng Việt rất giỏi, có như thế mới chuyển hóa những ý tưởng của họ thành những lung linh ảo hoặc trang văn, thành những số phận, cuộc đời, những khoảnh khắc mưng mở của cảm xúc... Nếu viết bằng tiếng mẹ đẻ thì họ bị cái rào cản xuất bản và người đọc. Còn các nhà văn người Kinh thì chính là cái vốn sống mà họ cần phải có để viết Tây Nguyên cho nó ra Tây Nguyên, nó không bị một thứ Tây Nguyên giả cầy, lơ lớ, Tây Nguyên do họ nghĩ ra chứ không phải như nó vốn có, tất nhiên tôi hiểu, văn chương là trình bày cái mình nghĩ chứ không phải cái mình thấy.Nhưng trước khi nghĩ, nhà văn phải thấy một cách chính xác đã,

Vài lời trao đổi, mong được thể tất nếu có điều gì chưa tới và chưa phải.

Văn Công Hùng
http://vanconghung.vnweblogs.com/post/1026/235214
Đăng nhận xét