<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004</id><updated>2012-01-28T12:34:57.773+07:00</updated><category term='Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi'/><category term='Thầy'/><category term='Về cụ Phan Thanh Giản: &quot;Trao đổi với đồng nghiệp&quot;'/><category term='Chung sức giúp đồng bào miền Trung khắc phục hậu quả lũ lụt'/><category term='Vẻ đẹp bất biến trong vạn biến'/><category term='Gót chân Asin của Trung Quốc'/><category term='Đọc lại và suy ngẫm: Hồ Chí Minh với Trung Quốc'/><category term='Cuộc trò chuyện của hai nhà văn hóa: Tuổi trẻ chưa lớn'/><category term='Cần kết nối Internet cáp quang đến các trường đại học'/><category term='Thương nhớ nhà văn Nguyễn Khải'/><category term='85 năm Viện KHKT NN miền Nam: Thách thức vẫn còn phía trước'/><category term='Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt'/><category term='GS. Chu Hảo những bài viết ấn tượng'/><category term='GS Võ Tòng Xuân: Thao thức với &quot;các mũi giáp công&quot;'/><category term='Quy mô thị trường internet Việt Nam'/><category term='GS Tôn Thất Trình  bài viết mới'/><category term='.Đặng Nhật Minh: sông An cựu vẫn thao thức chẩy..'/><category term='Nguyên Ngọc_Cái giá văn hoá...'/><category term='Yên Tử Trần Nhân Tông'/><category term='Cây táo  chuyện đọc lúc nửa đêm'/><category term='Người đương thời với nghề trồng lúa'/><category term='Trường đại học Việt Đức đào tạo theo tiêu chuẩn Đức tại Việt Nam'/><category term='Người Nhật và nét đẹp văn hóa'/><category term='Lịch sử cần sự thật'/><category term='Chào mừng 85 năm  Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam'/><category term='Chậm từng giọt chữ…'/><category term='Lớp học trực tuyến trên Thư viện VIOLET'/><category term='Nguyên Ngọc'/><category term='Kiến nghị Cải cách'/><category term='GS. Tôn Thất Trình và blog The Gift'/><category term='Norman Bourlaug nhà khoa học xanh'/><category term='Phải là những người làm khoa học thực sự'/><category term='Chúc em nghị lực bước vào đời'/><category term='Vĩnh biệt Thầy Đào Thế Tuấn'/><category term='Thông tin từ một trong mười đại học hàng đầu nước Mỹ'/><category term='Lê Đạt'/><category term='Đọc lại và suy ngẫm &quot;Hiểu đời&quot; của Chu Dung Cơ'/><category term='Cần phân định rõ thế nào là đề tài khoa học'/><category term='Những bài chọn lọc về sống vui'/><category term='hiện đại hóa giáo dục của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS'/><category term='Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam'/><category term='Lạ và quen'/><category term='Không gian còn giữ mặt người thương yêu'/><category term='Norman Borlaug'/><category term='Nông dân ĐBSCL đang cần gì?'/><category term='Luận về chữ Học'/><category term='Nguyễn Quang Lập trong mắt ai'/><category term='Cây trồng bản địa kết hợp du lịch sinh thái'/><category term='Sự bùng nổ tích hợp phương tiện truyền thông xã hội'/><category term='Rành mạch như Nguyễn Hiến Lê'/><category term='Bên tượng đài Lý Thái Tổ'/><category term='Ngày Xuân thăm Thầy Bạn'/><category term='Xây dựng nông thôn mới'/><category term='Kênh ông Kiệt giữa lòng dân'/><category term='Diễn đàn DẠY VÀ HỌC'/><category term='Một cách nhìn khác về chấn hưng giáo dục'/><category term='3 tỷ dân'/><category term='sống khỏe'/><category term='Gặp thầy bạn cũ cấp ba Bắc Quảng Trạch ở đất phương Nam'/><category term='Mô hình Trung Quốc'/><category term='Bình Dương New City'/><category term='Để phát triển sản xuất trái cây bền vững cần có góc nhìn từ người nông dân'/><category term='Tinh khôi'/><category term='Phan Chí Thắng'/><category term='Kỳ tích từ cây lúa'/><category term='Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam'/><category term='Hoàng Ngọc Hiến như tôi đã biết'/><category term='Bill Gates'/><category term='Trong chuỗi họat động xuất khẩu gạo'/><category term='Mười câu hỏi kinh điển trong buổi phỏng vấn'/><category term='nông dân cực nhất'/><category term='Hữu Ngọc'/><category term='ca khúc biểu dương văn hóa Việt Nam'/><category term='Bảo đảm sự phát triển ổn định hệ thống đại học'/><category term='Những bài học vô giá (02)'/><category term='Suy nghĩ và ước mong của một người đọc'/><category term='Bài học từ blog của một cô giáo'/><category term='Lời thương'/><category term='Thành_viên:Dayvahoc'/><category term='củ khoai ở Hòn Ðất'/><category term='Ảnh mới của Gia đình Nông nghiệp'/><category term='Bỏ quên nông dân'/><category term='Bão số 9 và những bài học'/><category term='không thể công nghiệp hóa vững chắc'/><category term='Những dâng hiến lặng lẽ...'/><category term='cần được hỗ trợ nhất'/><category term='11 tiện ích miễn phí của Google'/><category term='Nguyễn Khải'/><category term='Võ Văn Kiệt: Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế'/><category term='sống có ích'/><category term='Hacker lừa đảo tấn công YahooMail Hoàng Kim'/><category term='là động lực cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế'/><category term='Bạn có thích trang www.hiendai.edu.vn?'/><category term='Một cây chuyện cảm động'/><category term='Chất người Nam Bộ trong văn Nguyễn Ngọc Tư'/><category term='OSHO 1970_01'/><category term='Đông Dương tìm tòi và suy ngẫm'/><category term='Lộc xuân: Nguyễn Vạn An'/><category term='Vũ Khoan'/><category term='Bài học phát triển của các nước Đông Á và Đông Nam Á'/><category term='Nhớ Sóc Trăng'/><category term='Steve Jobs'/><category term='Mùa xuân quê hương'/><category term='Trường tôi và lòng thương yêu gửi lại của thầy Lưu Trọng Hiếu'/><category term='Ngày_của_Mẹ'/><category term='Học ngàn năm ông cha để đi cùng nhân loại'/><category term='Xây dựng nông thôn mới 2'/><category term='Sống trong đời sống cần có một tấm lòng'/><category term='Góc nhìn.net bài vở'/><category term='Ấn tượng về thành phố hoa Đà Lạt'/><category term='Nhà phê bình - người bạn lớn của những nhà sáng tác'/><category term='Chào mừng website bách khoa toàn thư văn hóa Việt'/><category term='Nguyễn Hiến Lê'/><category term='Giáo sư Kazuo Kawano và cây sắn Việt Nam'/><category term='Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc'/><category term='Đường đời tấp nập'/><category term='Thư từ Mỹ'/><category term='Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ'/><category term='Nguyên Ngọc- Nhà văn chiến sĩ'/><category term='Đêm pháo hoa'/><category term='Triết học và lịch sử (Hồ Ngọc Đại)'/><category term='Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung: Một số nhiệm vụ cần triển khai'/><category term='cao đẳng ngoài công lập ở nước ta'/><category term='Đi như một dòng sông'/><category term='Điểm tin giáo dục'/><category term='Đọc và suy ngẫm bảy phút sự thật'/><category term='Thiết bị đọc sách Kindle'/><category term='Phạm Viết Đào kể về Đại hội nhà văn Việt Nam lần 8'/><category term='Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học'/><category term='góc nhìn cuộc sống'/><category term='Hành trình 60 năm của đất nước 1'/><category term='thông dịch là chìa khóa mở cửa nhìn ra thế giới'/><category term='Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận kiến thức'/><category term='Chữ nghĩa trong Văn Miếu'/><category term='Vì một nền giáo dục trung thực lành mạnh và hiện đại'/><category term='Việt Nam: Giáo dục đại học và  Kỹ năng cho tăng trưởng'/><category term='Phan Thanh Giản một tấm lòng yêu nước'/><category term='Trường  Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ'/><category term='Toàn văn phát biểu của GS.Ngô Bảo Châu'/><category term='Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu'/><category term='Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa'/><category term='Nỗi niềm Biển Đông'/><category term='bạn là lộc xuân của cuộc đời'/><category term='Đầu năm đọc bài GS Hoàng Tụy'/><category term='Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỹ'/><category term='Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ'/><category term='Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh'/><category term='Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam'/><category term='Sóc Trăng nơi sông về tới biển'/><category term='Xếp hạng đại học và cách tiếp cận mới trong xếp hạng đại học'/><category term='Nông nghiệp là giá đỡ'/><category term='Nhà Nguyễn và Ngọc phương Nam'/><category term='Giảng viên ĐH: Lời cảnh báo của con số'/><category term='Thầy Lương Định Của và tính tình Người Nam Bộ.'/><category term='Người đi tìm đồng đội'/><category term='tranh ảnh'/><category term='Hai lần khó'/><category term='Li Ka Shing giúp những người kém may mắn'/><category term='dayvahoc'/><category term='Lời khuyên tốt cho sức khỏe'/><category term='Người Hiền'/><category term='Sự thật lịch sử chỉ có một'/><category term='Rừng Lipa'/><category term='Cung cấp Internet miễn phí cho tất cả trường học'/><title type='text'>DẠY VÀ HỌC</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>151</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-3490401887297011883</id><published>2012-01-11T08:44:00.002+07:00</published><updated>2012-01-11T08:51:08.232+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ'/><title type='text'>Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ</title><content type='html'>&lt;strong&gt;&lt;a href="http://blogtiengviet.net/media/usersh/hoangkim/Truocden.jpg" target="_blank"&gt; &lt;/a&gt;&lt;/strong&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://blogtiengviet.net/media/usersh/hoangkim/Truocden.jpg" target="_blank"&gt; &lt;img src="http://blogtiengviet.net/media/usersh/hoangkim/Truocden.jpg" alt="" width="306" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM. Trần Đăng Khoa vừa có bài viết “&lt;a href="http://laokhoa.blogtiengviet.net/2012/01/10/na_m_cau"&gt;Ngoái nhìn năm cũ&lt;/a&gt;” bình luận những sự kiện nổi bật và rất đáng quan tâm trong năm 2011. Bài này cùng với &lt;a href="http://hocmoingay.blogspot.com/2012/01/suy-ngam-nhung-bai-viet-am-anh.html"&gt;những bài viết ám ảnh&lt;/a&gt;  “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ  thống” của Hoàng Tụy là những phản biện khách quan, sâu sắc cần đọc lại  và suy ngẫm.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;NGOÁI NHÌN NĂM CŨ&lt;/strong&gt;…&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;Trần Đăng Khoa&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch,  Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm  bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365  ngày, với 8760 giờ – Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới –  thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ  đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi,  cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại  trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người  Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta  đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa  đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được  một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong  năm vừa qua.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn  giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên  sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy  không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta  cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà  lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước  phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần  bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất  nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có  đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho  giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai  hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt  Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu  Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất  nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện  cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên  ngành. Đó là điều rất không bình thường.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến  trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh  như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của  cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc biệt với những tài năng lớn, họ  yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng  trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ  còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố  Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954,  Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm  sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh – ấy  là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành  phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể  xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976,  Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học  Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng  chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa  Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của  Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những  văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ,  hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ  những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời  sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”.  Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ  thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít  người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam  Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không  tìm được hài cốt.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời – Sữa nuôi phần xác. Hát  nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi  đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất  và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ  thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa  thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng  lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh  nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao  giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học  trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh  nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở  học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau  tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng  tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa đã làm  ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn  Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một  cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến  đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở  lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử.  Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị  thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại  còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì  Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả  một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an  cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử  hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những  hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những  kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu  nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi.  Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em  để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người,  giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất  của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện  vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội  đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những  nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có  những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta  đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và  phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta  sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới.  Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng  nhân ái mà không có máu người…&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đọc tiếp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://hocmoingay.blogspot.com/2012/01/suy-ngam-nhung-bai-viet-am-anh.html"&gt;Suy ngẫm những bài viết ám ảnh&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;a href="http://hocmoingay.blogspot.com/"&gt;HỌC MỖI NGÀY&lt;/a&gt;. Ba bài viết ấn tượng và ám ảnh tôi đầu xuân 2012 là “&lt;a href="http://quechoa.info/2012/01/07/on-cu-d%E1%BB%83-bi%E1%BA%BFt-m%E1%BB%9Bi/"&gt;Ôn cũ để biết mới &lt;/a&gt;“của Nguyễn Trọng Vĩnh, “&lt;a href="http://viet-studies.info/kinhte/HoangTuy_TaiCoCau.htm"&gt;Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống&lt;/a&gt;” của Hoàng Tụy và “&lt;a href="http://laokhoa.blogtiengviet.net/2011/12/15/p5252437#more5252437"&gt;Lại chuyện giao thông …&lt;/a&gt;” của Trần Đăng Khoa.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trở về trang chính&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-3490401887297011883?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/3490401887297011883/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=3490401887297011883' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3490401887297011883'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3490401887297011883'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2012/01/tran-ang-khoa-ngoai-nhin-nam-cu.html' title='Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-4006509602436393833</id><published>2012-01-06T23:06:00.009+07:00</published><updated>2012-01-06T23:55:00.747+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Đầu năm đọc bài GS Hoàng Tụy'/><title type='text'>Đầu năm đọc bài GS Hoàng Tụy</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-bst1eXbM8OU/Twchc1eIqHI/AAAAAAAAJVA/CEgiN0G3AR8/s1600/Truoc%2Bden.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 304px; height: 315px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-bst1eXbM8OU/Twchc1eIqHI/AAAAAAAAJVA/CEgiN0G3AR8/s320/Truoc%2Bden.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5694557033106810994" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; font-family: arial;font-family:arial;font-size:130%;"  &gt;DẠY VÀ HỌC. Đầu xuân giáo sư Hoàng Tụy đã viết bài "&lt;a href="http://viet-studies.info/kinhte/HoangTuy_TaiCoCau.htm"&gt;Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống&lt;/a&gt;" đăng trên viet-studies.info, Giáo sư nhấn mạnh "&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-weight: bold;font-family:&amp;quot;;font-size:130%;"  &gt;&lt;span style="font-family: arial;font-size:130%;" &gt;Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước     hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu     như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến     nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà     một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay     go, gian khổ.  Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất,      cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách     này."&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="margin-right:0;text-align:center" align="center"&gt;&lt;b&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:6;"&gt;TÁI CẤU TRÚC VÀ SỬA LỖI HỆ THỐNG &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-weight:700font-family:&amp;quot;;" &gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:130%;" &gt;Hoàng Tụy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;     &lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Mấy năm nay trong xã hôi ta thường nghe nói đến các &lt;i&gt;    lỗi hệ thống&lt;/i&gt;. Và trong năm 2011 cụm từ &lt;i&gt;tái cấu trúc&lt;/i&gt; được     nhắc đi nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó     khăn kinh tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở     thành những &lt;i&gt;từ khoá&lt;/i&gt; trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý     kinh tế xã hội trong cả năm 2011. Cho nên có lẽ cũng là tự nhiên nếu     câu chuyện đầu năm xoay quanh tái cấu trúc và lỗi hệ thống.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu,     thành phần, cơ chế hoạt động và cấu trúc các mối quan hệ giữa các     thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài. &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của     nó, một hê thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh     tế, văn hoá, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi     lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành     bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều     chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu, thì thường có     thể do mục tiêu sai, hoặc cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết     tật cơ bản, hoặc cả mục tiêu lẫn cấu trúc đều có chuyện. Khi đó, nếu     chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó,     thì không những không giảm bớt được truc trặc, mà có khi còn làm     phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, làm bất ổn gia tăng, đến     mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình     huống đó chỉ có thể là dựa trên phân tích hệ thống, xét lại toàn bộ     tổ chức, từ mục tiêu đến cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong     nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách     sửa chữa những khuyết tật cơ bản của hệ thống, tức là các lỗi hệ     thống, theo cách nói quen thuộc gần đây. &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Đó là ý nghĩa các phạm trù “lỗi hệ thống” và “tái cấu     trúc” mà gần đây đã được sử dụng khá phổ biến trong các câu chuyện     chính trị và kinh tế, xã hội.   &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Thực tế xây dựng đất nước hơn ba mươi năm qua đã dạy     chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng mười năm sau ngày thống     nhất Tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta     phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại gây nên do những lỗi     lầm hệ thống tich luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có     công cuộc đổi mới mà nhờ đó đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi     sinh kỳ diệu trong thập kỷ 90.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng     trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu     bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian 5-7 năm gần đây đã xuất hiện     nhiều sai lầm, thất bại đưa đất nước đến những khó khăn hết sức     nghiêm trọng. Những gì tich cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã đạt     tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay     bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc     tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy     cơ trì trệ, thậm chí lụn bại và chuốc lấy nguyền rủa của đời sau,     hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn     trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một     lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống     cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh     mất mác to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Trước hết, về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết     những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng, kéo dài     trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới     những khuyết tật hệ thống của thể chế chính trị, cho nên sẽ khó có     hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.    &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Điều nguy hiểm đáng lo, như Tổng Bí Thư đã nhận định     trong Hội nghị TƯ vừa qua, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một     bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực,     ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian: nhà     dột từ nóc. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung quá đáng mà     không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, tiếng là thể chế dân chủ nhưng     nặng về dân chủ hình thức, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham     nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải     gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính qua nhiều lần “cải     cách” ngày càng đồ sộ mà vẫn quan liêu, xa dân, hành dân là chính.     Nhiều quan lớn trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra     lối sống đồi truỵ, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh     thân phì gia. Với một nền quốc trị như thế, trách sao văn hoá, đạo     đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hàng ngày dày đặc     những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt; Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa     lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy     rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, không chút tự     trọng. Cho nên sửa đổi hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh     đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa     sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được     mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Thứ hai, về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải     mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao đông giá     rẻ, lấy doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ     chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của Nhà nước chứ không dựa trên     cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hoá, giáo dục,     khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng – nay đã      rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển     kinh tế thiển cận đó được thực thi trên nền một thể chế lỏng lẻo bị     thao túng bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiếu     dân chủ đã trở thành những căn bệnh đặc trưng của xã hội Viêt Nam     hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn     bệnh này ăn sâu vào xương tuỷ xã hội thì không mong gì những kế     hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện có hiệu quả.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt; Sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất,     là đời sống văn hoá, giáo dục, xã hội. Không phải không có cơ sở mà     ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan Châu Trinh đã khởi xướng cứu     nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự     xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình     thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện     giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe     liên tiếp vì xăng kém phẩm chất), bệnh viện quá tải thê thảm, thực     phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh, đành rằng tất     cả đều có phần hệ quả  trực tiếp của những sai lầm hệ thống nói     trên về chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhận rõ những     sai lầm hệ thống ngay trong văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế, xã     hội nữa.  &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;    &lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Về giáo dục, những yếu kém, bất cập, hư hỏng lưu niên     đến nay chưa dứt chứng tỏ đường lối đổi mới cục bộ, chắp vá, vụn     vặt, lăng nhăng, từng thực thi qua ba đời bộ trưởng đã hoàn toàn phá     sản. Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triêt để, đã được cuộc     sống cảm nhận bức thiết và TƯ Đảng, Chính Phủ cũng đã có những nghị     quyết trịnh trọng khởi xướng từ 6-7 năm nay. Sai lầm hệ thống lớn     nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung     của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay     từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc     lên án nó là nguyên nhân khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi”     (“Viêt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, trang 463). Trong đó cái     chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do     khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương     nhiên chủ yếu do chịu vòng cương toả của chính sách chung về lương     công chức của Nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là     trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ     quặc này, không giống bất cứ ai trên thế giới, nên mới có tình trạng     cũng không giống ai trên thế giới là thầy giáo không tập trung vào     công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu     nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là không đâu người     thầy bị rẻ rúng, coi thường như ở xứ này, nơi mà từ xa xưa đã có     truyền thống tôn kính thầy và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ tôn sư     trọng đạo. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã     quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ     với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn. &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p style="text-align:left;text-indent:50px; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới, vào cuối thập kỷ 80,     đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu     hiểu biết, khái niệm &lt;i&gt;hộp đen&lt;/i&gt; trong khoa học hệ thống đã được     vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ     hộp đen dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các     phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả     một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó     từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ     giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao,     cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản     xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tuỳ nghi, ai muốn     hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời.      Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải toả bớt tâm lý bế     tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là     tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập     gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hàng ngày. Mong rằng lần này     chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn. &lt;/span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;font-family:&amp;quot;;" &gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước     hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu     như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến     nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà     một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay     go, gian khổ.  Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất,      cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách     này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="margin-left:0;text-align:left;text-indent: 50px; line-height:100%; margin-right:0; margin-top:0; margin-bottom:0.1in"&gt;    &lt;span style="font-size:130%;"&gt;    &lt;span style=" font-weight: 700;font-family:'Times New Roman',serif;" &gt;    Hoàng Tụy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;    &lt;p&gt;  Nguồn: &lt;i&gt;viet-studies&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-size:small;"&gt;&lt;strong&gt;Trở về trang chính&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-size:large;"&gt; &lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;FOOD CROPS&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:large;"&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:large;"&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:large;"&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt;,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt;&lt;span style="color:#000080;"&gt;&lt;span style="font-family:Times New Roman;"&gt; DẠY VÀ HỌC&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-4006509602436393833?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/4006509602436393833/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=4006509602436393833' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/4006509602436393833'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/4006509602436393833'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2012/01/au-nam-oc-bai-gs-hoang-tuy.html' title='Đầu năm đọc bài GS Hoàng Tụy'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-bst1eXbM8OU/Twchc1eIqHI/AAAAAAAAJVA/CEgiN0G3AR8/s72-c/Truoc%2Bden.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-1407751522607405439</id><published>2012-01-01T07:19:00.008+07:00</published><updated>2012-01-06T23:45:12.386+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc'/><title type='text'>Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-_k5_PrM0AlE/Tv-n3mZ0OmI/AAAAAAAAJT4/y-0gJU-cJAk/s1600/HoamaiVietnam.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 214px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-_k5_PrM0AlE/Tv-n3mZ0OmI/AAAAAAAAJT4/y-0gJU-cJAk/s320/HoamaiVietnam.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5692453027663067746" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Mùa xuân đầu tiên &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Nhạc và lời Văn Cao&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Trình bày Thanh Thúy&lt;/span&gt;&lt;br style="font-style: italic;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;iframe src="http://www.youtube.com/embed/BxkTYEuLDrE" allowfullscreen="" frameborder="0" height="315" width="420"&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc&lt;/span&gt;&lt;br style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;Ngày mới xuân sang niềm hạnh phúc&lt;br /&gt;Yêu thương thanh thản sống thung dung&lt;br /&gt;An nhiên phúc hậu chăm điều thiện&lt;br /&gt;Vui giữa thiên nhiên với bạn hiền&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Hoàng Kim&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-1407751522607405439?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/1407751522607405439/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=1407751522607405439' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/1407751522607405439'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/1407751522607405439'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2012/01/khai-but-xuan-sang-mung-hanh-phuc.html' title='Khai bút xuân sang mừng hạnh phúc'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-_k5_PrM0AlE/Tv-n3mZ0OmI/AAAAAAAAJT4/y-0gJU-cJAk/s72-c/HoamaiVietnam.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-4450944825656235659</id><published>2011-12-20T07:31:00.003+07:00</published><updated>2011-12-20T07:47:21.139+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Người đương thời với nghề trồng lúa'/><title type='text'>Người đương thời với nghề trồng lúa</title><content type='html'>&lt;div class="ja-thumbnailwrap thumb-right" style="width: 200px;"&gt;  &lt;div class="ja-thumbnail clearfix"&gt;    &lt;div class="thumbnail" style="position:relative;z-index:2"&gt;          &lt;a rel="jagroupgroup" class="fancyboxgroup" href="http://foodcrops.vn/images/stories/0128.png" title=""&gt;        &lt;img src="http://foodcrops.vn/images/resized/images/stories/0128_200_200.png" alt="alt" /&gt;           &lt;/a&gt;         &lt;/div&gt;   &lt;/div&gt;    &lt;/div&gt;   &lt;p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;DẠY VÀ HỌC .  GS.TS Bùi Chí Bửu là &lt;a href="http://foodcrops.vn/index.php?option=com_content&amp;amp;view=article&amp;amp;id=2084:nhit-huyt-ca-ngi-cm-lai&amp;amp;catid=78:hoc-moi-ngay&amp;amp;Itemid=413"&gt;người đương thời với nghề trồng lúa&lt;/a&gt; (Bửu Lúa). Ông hiện là Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (Viện đầu ngành nông nghiệp toàn Việt Nam) kiêm Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.  Ông đã vinh dự được Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trao giải thưởng Senadhira vì có đóng góp xuất sắc  cho việc phát triển đa dạng hóa các giống lúa phổ biến tại Việt Nam. Năm  2000, công trình “Giống lúa và cải tiến kĩ thuật thâm canh lúa ở ĐBSCL”  mà ông là đồng tác giả đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng  Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Sang năm 2010 ông lại vinh dự được  Hội Khuyến học Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam trao Giải  Nhất giải thưởng Nhân tài Đất Việt vì có những đóng góc xuất sắc cho  ngành khoa học của nước nhà.&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="border-collapse: separate; color: rgb(0, 0, 0);  font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: 18px; orphans: 2; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 2; word-spacing: 0px; font-family:Arial,Helvetica,sans-serif;font-size:medium;"  &gt;&lt;span class="Apple-style-span" style=" text-align: right;font-size:12px;" &gt;&lt;em style="font-style: italic"&gt;&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;&lt;strong&gt;Nhà nông học Bùi Chí Bửu &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bài: Thịnh Phát - Ảnh: Lê Minh&lt;/em&gt;&lt;/span&gt; &lt;span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kĩ thuật Nông  nghiệp miền Nam được biết đến như một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh  vực nghiên cứu và lai tạo các giống lúa mới của Việt Nam. Những nghiên  cứu của ông được giới khoa học quốc tế đánh giá cao, trong đó có Viện  Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;GS.TS Bùi Chí Bửu là một trong những người đầu tiên đặt nền mó&lt;/span&gt;&lt;span&gt;ng  xây dựng nên Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nhớ lại những  ngày đầu Viện mới thành lập, ông tâm sự: “Thời đó, chiến tranh vừa kết  thúc, Viện nghèo lắm, đất rộng hàng trăm ha, nhưng cơ sở chỉ là một dãy  nhà cấp bốn (nay vẫn còn giữ lại làm nhà kho - PV). Cán bộ của Viện vừa  làm vừa tự mày mò nghiên cứu học hỏi thêm từ thực tế và các nguồn tài  liệu của nước ngoài”. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng để đáp ứng yêu cầu cấp bách về  nhiệm vụ phát triển nghề lúa ở ĐBSCL, năm 1987 ông đã bảo vệ thành công  luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm giống lúa nước sâu ở  ĐBSCL, phục vụ cho công tác chọn giống”. Đến năm 1989, ở tuổi 36 TS Bùi  Chí Bửu đã được đề bạt giữ chức Viện phó Viện lúa ĐBSCL và đến năm 2011  thì trở thành Viện trưởng. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối những năm 80 của thế kỉ trước, để thực hiện chương trình 1  triệu ha lúa chất lượng cao xuất khẩu, TS Bùi Chí Bửu cùng các đồng  nghiệp đã mạnh dạn đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  chương trình thử nghiệm giống lúa mới của mình. Chương trình được triển  khai thử nghiệm ban đầu trên khoảng 2% diện tích trồng lúa ở ĐBSCL nhưng  chỉ 5 năm sau đã tăng lên tới hơn 30%. Thành công này đã mở ra một bước  đột phá cho ngành sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL. Nhờ đó mà ĐBSCL trở thành  vựa lúa lớn nhất của cả nước, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất  khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Và từ đó đến nay, ĐBSCL luôn giữ vai  trò số 1 trong chiến lược đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất  khẩu.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;Nhắc đến những đóng góp của GS.TS  Bùi Chí Bửu, các chuyên gia nông nghiệp vẫn thường đề cập đến giống lúa  cực sớm. Nhờ có giống lúa này, người dân ĐBSCL không những đã chủ động  được kế hoạch “né lũ” trong mùa vụ mà còn đưa năng suất từ chỗ chỉ có 2  tấn/hecta lên đến 10 tấn/ha.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;Bằng tất cả tâm huyết đối với ngành lúa, suốt gần ba chục năm miệt mài  vừa nghiên cứu vừa tổ chức, ông đã xây dựng Viện lúa ĐBSCL trở thành một  trong những trung tâm nghiên cứu lúa hàng đầu của cả nước và khu vực.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;Có dịp cùng ông về thăm lại Viện  lúa ĐBSCL, được tận mắt chứng kiến những thành quả của Viện mới thấy hết  công sức đóng góp của ông cho ngành lúa Việt Nam suốt mấy chục năm qua.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;Được biết, từ cái nôi này, ông và các đồng nghiệp đã nghiên cứu sản xuất  thành công nhiều giống lúa chất lượng cao, trong đó có những giống lúa  chủ lực của Việt Nam. Điển hình như giống lúa OM4900, cho hạt gạo dài,  trắng và thơm, có thể cạnh tranh với giống lúa Pathum Thani nổi tiếng  nhất của Thái Lan hiện nay. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;GS.TS Bùi Chí Bửu cho biết thêm, Viện đã xây dựng được một ngân hàng  gien, lưu trữ hơn 1000 giống lúa mới và khoảng 3000 giống lúa cổ truyền.  Đây là nguồn tài nguyên có giá trị rất lớn đối với ngành khoa học lúa  gạo Việt Nam và thế giới.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;Với những đóng góp lớn cho ngành lúa nói riêng và khoa học nông nghiệp  nói chung, năm 2008, GS.TS Bùi Chí Bửu đã vinh dự được Viện Nghiên cứu  lúa Quốc tế (IRRI) trao giải thưởng Senadhira vì có đóng góp xuất sắc  cho việc phát triển đa dạng hóa các giống lúa phổ biến tại Việt Nam. Năm  2000, công trình “Giống lúa và cải tiến kĩ thuật thâm canh lúa ở ĐBSCL”  mà ông là đồng tác giả đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng  Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Sang năm 2010 ông lại vinh dự được  Hội Khuyến học Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam trao Giải  Nhất giải thưởng Nhân tài Đất Việt vì có những đóng góc xuất sắc cho  ngành khoa học của nước nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Thịnh Phát   &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;  &lt;p style="text-align: justify"&gt;&lt;span&gt;Source: &lt;/span&gt;&lt;a href="http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/6/6/28518/default.aspx"&gt;http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/6/6/28518/default.aspx&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt;&lt;strong&gt;Trở về trang chính&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt; &lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt; &lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt; &lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt; &lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;,&lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt; DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-4450944825656235659?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/4450944825656235659/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=4450944825656235659' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/4450944825656235659'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/4450944825656235659'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/12/nguoi-uong-thoi-voi-nghe-trong-lua.html' title='Người đương thời với nghề trồng lúa'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-5950293028772469803</id><published>2011-11-13T21:00:00.003+07:00</published><updated>2011-12-09T08:04:55.139+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam'/><title type='text'>Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam</title><content type='html'>&lt;b&gt;DẠY VÀ HỌC. Tôi quý mến và cảm thơ Bùi Văn Bồng khi đọc "Khóc bên mộ cha" anh viết thật xúc động: Cha đi chưa buổi chiều tà Hưởng dương một kiếp mưa sa nửa đời Đàn con bảy đứa đơn côi Khóc cha chưa biết bậm môi nén lòng Một mình đội rá ăn đong Mẹ dốc hết lòng nuôi bảy con thơ Chị tôi chớm nụ mộng mơ Đàn em còn tuổi ngây thơ đầu đời Thương cha chỉ biết kêu trời Trời thu xanh thẳm nắng vơi cuối đồng Cảnh đời xa xót long đong Lạnh buồn chăn chiếu như không nóc nhà Mẹ tôi tần tảo bôn ba Nuôi con rau muống, lu cà, vại tương Cấy cày từ lúc mờ sương Tảo tần khuya khoắt lên giường chưa yên Nhiều khi mong gặp phép tiên Cho tôi thấy nụ cười hiền của cha Bướm vàng vừa đậu cành hoa Linh thiêng hãy hóa thành cha năm nào Hương trầm ướp gió đồi cao Xin làn hương nhẹ bay vào mộ cha Muối tiêu tóc gió chiều tà Rưng rưng đứng trước mộ cha khóc thầm. Gần đây, anh chọn 63 bài in thành tập với tựa đề "Gửi gió trời Nam". Lê Xuân nhận xét: "Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa  cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiêng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”. Tôi tâm đắc với cảm nhận của Lê Xuân. Gửi gió trời Nam của Bùi Văn Bồng là thơ hướng tâm linh con người vươn tới Chân Thiện Mỹ (HK)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;BÙI VĂN BỒNG MỘT HỒN THƠ LỘNG GIÓ PHƯƠNG NAM&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lê Xuân&lt;/b&gt; &lt;i&gt;&lt;br /&gt;Đọc tập thơ “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng - NXB Hội Nhà văn&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;                                                                               &lt;br /&gt;…&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Phương Nam kênh rạch trôi bình lặng&lt;br /&gt;Con người hào phóng dễ tin yêu…&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ của vùng đất phương Nam đã thôi thúc nhà thơ, nhà báo - đại tá Bùi Văn Bồng cho ra mắt bạn đọc những bài thơ đầy rung cảm với thi pháp mang nét riêng khá độc đáo. Tất cả đều nhằm phản ánh cuộc sống sinh động, phong phú qua sự cảm nhận, liên tưởng, suy tư, là tiếng lòng tha thiết với tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống và quê hương đất nước. Anh làm thơ là để giãi bày tâm sự. Sau 4 tập truyên và thơ in riêng và hàng chục tác phẩm in chung trong các Tuyển tập thơ như: Thơ Việt Nam thế kỷ 20; Duyên thơ; Thơ tình Đà Lạt; Chúng tôi đánh giặc và làm thơ; Hợp tuyển thơ về Hồ Chí Minh; Nước non một dải; Tuyển tập thơ về Nguyễn Trãi, Nghìn năm thương nhớ…; lần này, anh cho ra mắt tập thơ “&lt;i&gt;Gửi gió trời Nam&lt;/i&gt;” khá dày với 63 bài, một tập thơ chuyên đề viết về miền đất Cửu Long Giang hữu tình. Anh là người của xứ Bắc, nhưng đã cho ra đời tập thơ khá dày và chon lọc chuyên đề về vùng Đồng bằng sông Cửu Long.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đề tài, chủ đề của thơ Bùi Văn Bồng khá đa dạng và được thể hiện qua phong cách nghệ thuật trữ tình-lãng mạn kết hợp hài hoà với nội tâm sâu lắng, liên tưởng trong không gian ba chiều và có chất triết luận. Anh là lớp nhà thơ sáng tác từ cuối thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trưởng thành sau năm 1975. Vì thế, thơ anh luôn hướng tới những vấn đề lớn của cộng đồng và thời đại, dòng thơ nặng tình quê hương đất nước trong thời bình. Bởi thế, anh luôn luôn tâm niệm thơ là tiếng nói của tâm hồn, là điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu (Tố Hữu). Và từ cái điệu tâm hồn hòa đồng ấy, thơ Bùi Văn Bồng khắc họa sâu đậm những cảm nhận giàu chất liệu hiện thực cuộc sống của một vùng mênh mang sông nước Cửu Long, đúng như tên gọi của tập thơ: Gửi gió trời Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với “&lt;i&gt;Gửi gió trời Nam&lt;/i&gt;” tác giả đứng ở nhiều góc độ để quan sát, nhìn nhận, cảm xúc về con người và cuộc sống. Từ đó tình cảm thăng hoa bật lên những vần thơ khi trầm ngâm sâu lắng, khi reo vui rộn rã. Anh là người đã gắn bó với vùng đât phương Nam đã hơn 30 năm, đi đến nhiều xóm ấp nơi miền quê thanh bình, nơi biên giới Tây Nam hùng vĩ, chiêm nghiệm nhiều, nên chỉ với 63 bài thơ mà hàm chứa biết bao cảnh làng quê, sông nước xứ miệt vườn, những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi ở miền đồng bằng châu thổ Tây Nam của Tổ quốc, nơi được coi như quê hương thứ hai của anh. Những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được anh ghi lại như một ký hoạ bằng thơ đầy sắc màu của sự sống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là cảnh sắc vùng biên cương Bảy Núi, biển Ba Động nên thơ, kia là rừng tràm Trà Sư hoang dã, núi Cấm trầm mặc, Thạch Động uy nghiêm, mũi Cà Mau sóng vỗ, bưng biền Đồng Tháp mênh mang… Những rung động khẽ khàng trong cõi lòng sâu thẳm bỗng bật  thành thơ. Dòng sông Hậu hiền hòa in hình cô gái Nam Bộ chèo xuồng ba lá, áo bà ba bay trước gió làm thổn thức hồn thơ của anh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Dòng sông thì rộng mênh mông&lt;br /&gt;Áo em lại thắt eo hông làm gì&lt;br /&gt;Khen ai khéo chiết đường ly&lt;br /&gt;Để cho tà áo thầm thì lời quê.&lt;br /&gt;(Áo bà ba)&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã có không ít tứ thơ, bài hát ngợi ca nét đẹp duyên dáng và độc đáo của chiếc áo bà ba Nam bộ, nhưng bài thơ này của Bùi Văn Bồng đã để lại ấn tượng lắng sâu trong lòng người đọc. Bài thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam với chất dân ca đâm đà, tình tứ, chỉ với 20 câu thơ đã toát lên vẻ đẹp bình dị nét quê lề đất của miền Tây Nam bộ. Đặc biệt, câu lục bát: Dòng sông thì rộng mênh mông / Áo em lại thắt eo hông làm gì - được trang web lụcbat.com chọn lọc vào tập thơ “Nghìn câu lục bát để đời” của 1.000 tác giả, viết bằng thư pháp, món quà tinh thần dâng Lễ kỷ niệm  Nghìn năm Thăng Long –Hà Nội. Câu thơ trên cũng là một trong 100 câu lục bát được chọn để tung lên trời trong đêm Nguyên tiêu tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám nhân Ngày thơ Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một chút “Hương cau” của làng quê phả vào “Tiếng đờn đêm trăng” làm lung linh một “Huyền diệu trăng”. Có lúc anh “Lặng thầm” trước “tóc vờn bay trong gió” của cô gái xứ dừa Bến Tre:&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;Hồn anh chỉ còn em và sông nước&lt;br /&gt;Với dừa xanh – những chiếc lược cài mây&lt;br /&gt;Em đừng nói về con sóng ngược&lt;br /&gt;Để hương dừa thơm mãi trong tay.&lt;br /&gt;(Mái tóc hương dừa).&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;Viết về quê hương, anh không bị sa đà vào những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đã khá quen thuộc. Anh có cách cảm nhận về nét riêng thuần khiết mà thơ mộng của miền Tây Nam bộ như:“Đêm vùng lũ”, “Cánh đồng mùa lũ”, “Mùa bông điên điển”, “Khói đốt đồng”, “Bông súng”, “Những dấu chân xanh”, “Tây Đô xanh” hay những mùa nước nổi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Cuối mùa trào dâng nước lũ&lt;br /&gt;Tha La, Trà Sư trắng xóa đập tràn&lt;br /&gt;Mưa trắng đất, trắng trời vần vũ&lt;br /&gt;Hòn Đất, Kiên Lương ngập chứa chan.&lt;br /&gt;(Tứ giác trắng)&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình bè bạn trong thơ anh luôn đằm sâu. Dấu chân anh đã đi khắp đồng bằng châu thổ, được thưởng thức nhiều món ẩm thực đồng quê mới lạ ở xứ “vườn sinh kinh ngập” này, lòng anh càng nhớ về quê nội xứ Thanh, một nỗi “nhớ Bắc”, nhớ mẹ cha, chú bác da diết khi Tết đến xuân về:  Bánh chưng xanh, bánh xu xê / Lá dong gói bánh thơm về cõi xa / Nén nhang thắp viếng ông bà / Lời quê đậm mãi chén trà đón xuân… Nhiều khi anh trở về với những kỷ niệm quê nhà một thời trai trẻ, nhớ đến những kỷ niệm của một thuở mới yêu:&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;Vườn nhà còn ngát hương cau&lt;br /&gt;Giờ em đang ở nơi đâu cuối trời?&lt;br /&gt;Mảnh mai chiếc lá vàng rơi&lt;br /&gt;Cánh chim lạc gió về nơi mưa nhiều&lt;br /&gt;(Hương cau)&lt;br /&gt;Vượt sóng ra đảo xa Phú Quốc, anh ghi nhận được những nét đẹp của người lính biên phòng nơi hòn đảo tiền tiêu phía Tây Nam của Tổ quốc:&lt;br /&gt;                               &lt;br /&gt;Những người lính biên phòng Phú Quốc&lt;br /&gt;Trăm quê riêng về đảo nhỏ tiền tiêu&lt;br /&gt;Thư ngược sóng tới phương trời thương nhớ&lt;br /&gt;Hồng lên hương nắng ấm trong chiều.&lt;br /&gt;(Biên phòng Phú Quốc)&lt;br /&gt;    &lt;/i&gt;&lt;br /&gt;Là người đã gắn bó gần 40 năm trong quân ngũ, hình ảnh người lính trong thơ anh thật đẹp, gần gũi và thân thương:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Người lính đồng bằng lên biên giới&lt;br /&gt;Quân phục nhuộm xanh một khoảng trời&lt;br /&gt;Thẳm sâu đáy mắt người trông đợi&lt;br /&gt;Gặp gió bưng biền m&lt;/i&gt;ằn mặn môi.&lt;br /&gt;(Gửi gió trời Nam)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái tình của anh gửi tới bạn bè ở mọi miền đất nước, đặc biệt là đối với miệt vườn vùng đất Chín Rồng sâu nặng qua loạt bài: Chuyện tình Hai Lúa, Du lịch Phù Sa, Mùa cá dứa Cà Mau, Mùa hoa điên điển, Nhà Bác ở Cà Mau, Người Cà Mau đi dự lễ Đền Hùng, Núi Cấm, Qua phà sông Hậu, Quýt hồng Lai Vung, Sỏi trên Hòn Đất, U Minh rạng sáng, Trên thềm cổ Óc Eo, Xanh mát Ba Tri, Xuân miệt vườn, Xuồng ba lá… Phần lớn số bài của tập thơ anh dành nghĩa tình cho đất và người vùng miệt vườn sông nước Cửu Long -  vùng đất gian lao mà anh dũng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Anh có những dòng thơ chân tình nhất, chia sẻ nỗi đau với những người nghèo khổ như: Người nông dân trong ngày lũ, người tàn tật, bất hạnh và những ngang trái của cuộc đời. Anh nghẹn ngào, thương tâm đến thắt lòng trước cảnh cực khổ của những người nông dân sống chung với lũ:&lt;br /&gt;                               &lt;br /&gt;&lt;i&gt;Mỗi năm một mùa nước nổi&lt;br /&gt;Chạy lũ như dân du thuyền&lt;br /&gt;Lênh đênh dẫu biết nguồn cội&lt;br /&gt;Lũ dâng ngập nửa mái hiên…&lt;br /&gt;(Làng mới vượt lũ).&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Song, trước những cảnh tượng ấy, ta không hề thấy trong thơ anh có tiếng kêu não nuột, bi lụy, tuyệt vọng nào trước gian khó cuộc đời. Anh hướng nhân vật trữ tình tới muôn sự lạc quan:&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Ngựa ô xưa khớp kiệu vàng&lt;br /&gt;Anh rong xe máy về làng đón em&lt;br /&gt;Tơ vàng ươm nắng ngõ quen&lt;br /&gt;Phù sa sau lũ rực lên ánh vàng.&lt;br /&gt;(Vàng trên đất lũ)&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con người Nam bộ vốn chân tình, bộc trực mà hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, tự tin, yêu đời từ ngày đi mở cõi. Với mùa lũ, mùa nước nổi họ vẫn coi như một quy luật, một lẽ đương nhiên của trời đất, như chuyện thường ngày, và luôn luôn chủ động “sống chung với lũ”. Đó là cái chất hiếm, đáng quý mà không phải cư dân vùng nào cũng có được.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;Một đề tài anh rất tâm đắc là tình yêu- đề tài vĩnh hằng, biết bao nhà thơ trên thế giới này đã viết. Thơ tình Bùi Văn Bồng thể hiện tình yêu thật trẻ trung, say đắm và hết sức hồn nhiên, vô tư. Nhìn cô gái Nam Bộ mặc áo bà ba, chèo xuồng ba lá trên dòng Hậu Giang, anh như bị hút hồn:&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;Chẳng ai chuốc rượu đưa men&lt;br /&gt;Mà sao ra bến lại quên lối về.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đôi khi anh cũng như bao người đang yêu khác không lý giải được tình yêu, và cứ tự vấn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Tình yêu là gì nhỉ&lt;br /&gt;Bắt em chơi trốn tìm&lt;br /&gt;Hạnh phúc nào bình dị&lt;br /&gt;Mà rung hoài con tim?&lt;br /&gt;(Lặng thầm).&lt;br /&gt;     &lt;/i&gt;&lt;br /&gt;Anh say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu đôi lứa gắn với tình quê đằm thắm lắng sâu. Đúng là anh đã có nhiều thành công với những bài thơ mang đậm tình quê, những bài thơ bày tỏ tấc lòng trước nỗi đau của những mảnh đời bất hạnh. Nó có chiều sâu trí tuệ và giàu tính nhân văn. Ngôn từ và hình ảnh như chảy ra từ gan ruột, từ nội tâm sâu sắc để bật thành thơ:&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;&lt;i&gt;Em đi buổi ấy chiều im gió&lt;br /&gt;Lặng phắc cây vườn lặng bến sông&lt;br /&gt;Anh chạnh lòng trước dáng hình thon nhỏ&lt;br /&gt;Mà đường xa biết mấy nẻo gập ghềnh?&lt;br /&gt;(Chiều lặng gió)&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa  cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiêng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;,&lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt; DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-5950293028772469803?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/5950293028772469803/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=5950293028772469803' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/5950293028772469803'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/5950293028772469803'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/11/bui-van-bong-gui-gio-troi-nam.html' title='Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-7014667506499715466</id><published>2011-10-24T00:06:00.001+07:00</published><updated>2011-10-24T16:36:03.225+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi'/><title type='text'>Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-8qP2ylEH2LQ/TqQ4E9Sw1nI/AAAAAAAAJCY/JOsraNImxU4/s1600/Binh%2BMinh%2BYen%2BTu.jpg" imageanchor="1" style="margin-left:1em; margin-right:1em"&gt;&lt;img border="0" height="249" width="320" src="http://2.bp.blogspot.com/-8qP2ylEH2LQ/TqQ4E9Sw1nI/AAAAAAAAJCY/JOsraNImxU4/s320/Binh%2BMinh%2BYen%2BTu.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;. Nguyễn Trãi Đã có nhiều tôn vinh  nhưng như giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài "&lt;a href="http://www.saimonthidan.com/?c=article&amp;p=700"&gt;Nguyễn Trãi - 560 năm sau vụ án Lệ chi viên&lt;/a&gt;":"Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá..., lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc".&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người  lại chính là  Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, "Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm" "Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời "."&lt;a href="http://hoangkimlong.blogspot.com/2010/01/tam-sang-uc-trai-trong-tua-ngoc.html"&gt;Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọ&lt;/a&gt;c" đã chép bài  thơ thần "Yên Tử "của Nguyễn Trãi;.nay xin chép tiếp các bài "Ngôn chí," "Quan hải", "Oan than" của Người kèm lời cảm nhận của Vũ Bình Lục. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoan nghênh các anh chị Xóm Lá  dịch thơ và hòa vần. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của  dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người  làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là  Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ)  năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428  viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. &lt;i&gt;Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo&lt;/i&gt; (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới đây là bốn bài thơ trong &lt;b&gt;Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;NGÔN CHÍ &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Am trúc, hiên mai ngày tháng qua&lt;br /&gt;Thị phi nào đến chốn yên hà&lt;br /&gt;Cơm ăn dù có dưa muối&lt;br /&gt;Áo mặc nài chi gấm là&lt;br /&gt;Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt&lt;br /&gt;Đất cày ngõ ải luống ương hoa&lt;br /&gt;Trong khi hứng động bề đêm tuyết&lt;br /&gt;Ngâm được câu thần dững dưng ca&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tà dương bóng ngả thuở giang lâu&lt;br /&gt;Thế giới đông nên ngọc một bầu&lt;br /&gt;Tuyết sóc treo cây điểm phấn&lt;br /&gt;Cõi đông giãi nguyệt in câu.&lt;br /&gt;Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng&lt;br /&gt;Nhạn triện hư không gió thâu&lt;br /&gt;Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ&lt;br /&gt;Trời ban tối biết về đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;QUAN HẢI&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên văn chữ Hán  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;樁木重重海浪前&lt;br /&gt;沉江鐵鎖亦徒然&lt;br /&gt;覆舟始信民猶水&lt;br /&gt;恃險難憑命在天&lt;br /&gt;禍福有媒非一日&lt;br /&gt;英雄遺恨幾千年&lt;br /&gt;乾坤今古無窮意&lt;br /&gt;卻在滄浪遠樹烟&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền &lt;br /&gt;Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên&lt;br /&gt;Phúc chu thủy tín dân do thủy&lt;br /&gt;Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.&lt;br /&gt;Họa phúc hữu môi phi nhất nhật &lt;br /&gt;Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.&lt;br /&gt;Càn khôn kim cổ vô cùng ý,&lt;br /&gt;Khước tại thương lang viễn thụ yên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển &lt;br /&gt;Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.&lt;br /&gt;Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước &lt;br /&gt;Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.&lt;br /&gt;Họa phúc có manh mối không phải một ngày &lt;br /&gt;Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.&lt;br /&gt;Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng&lt;br /&gt;Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;CỬA BIỂN&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi&lt;br /&gt;Thêm ngầm dây sắt - uổng công thôi !&lt;br /&gt;Lật thuyền, thấm thía dân như nước&lt;br /&gt;Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời&lt;br /&gt;Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?&lt;br /&gt;Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?&lt;br /&gt;Xưa nay trời đất vô cùng ý&lt;br /&gt;Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;OAN THÁN&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên văn chữ Hán &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;浮俗升沉五十年&lt;br /&gt;故山泉石負情緣&lt;br /&gt;虛名實禍殊堪笑&lt;br /&gt;眾謗孤忠絕可憐&lt;br /&gt;數有難逃知有命&lt;br /&gt;大如未喪也關天&lt;br /&gt;獄中牘背空遭辱&lt;br /&gt;金闕何由達寸箋&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;&lt;br /&gt;Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.&lt;br /&gt;Hư danh thực họa thù kham tiếu ;&lt;br /&gt;Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.&lt;br /&gt;Số hữu nan đào tri thị mệnh ;&lt;br /&gt;Văn như vị táng dã quan thiên.&lt;br /&gt;Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;&lt;br /&gt;Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dịch nghĩa  THAN NỔI OAN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,&lt;br /&gt;Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.&lt;br /&gt;Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;&lt;br /&gt;Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.&lt;br /&gt;Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;&lt;br /&gt;Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.&lt;br /&gt;Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;&lt;br /&gt;Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dịch Thơ: &lt;b&gt;THAN NỔI OAN&lt;/b&gt;:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời&lt;br /&gt;Non xưa suối đá phụ duyên rồi&lt;br /&gt;Trung côi , ghét lắm, bao đau xót&lt;br /&gt;Họa thực, danh hư , khéo tức cười&lt;br /&gt;Số khó lọt vành âu bởi mệnh&lt;br /&gt;Văn chưa tàn lụi cũng do trời&lt;br /&gt;Trong lao độc bối cam mang nhục&lt;br /&gt;Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản dịch của Thạch Cam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm mươi năm thế tục bình bồng&lt;br /&gt;Khe núi lòng cam bội ước chung&lt;br /&gt;Cười nạn hư danh, trò thực họa&lt;br /&gt;Thương phường báng bổ kẻ cô trung&lt;br /&gt;Mạng đà định số, làm sao thoát&lt;br /&gt;Trời chửa mất văn, vẫn được dùng&lt;br /&gt;Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy&lt;br /&gt;Oan tình khó đạt tới hoàng cung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản dịch của Lê Cao Phan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vũ Bình Lục&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Về bài thơ NGÔN CHÍ - SỐ13 của Nguyễn Trãi)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tà dương bóng ngả thuở giang lâu&lt;br /&gt;Thế giới đông nên ngọc một bầu&lt;br /&gt;Tuyết sóc treo cây điểm phấn&lt;br /&gt;Cõi đông giãi nguyệt in câu.&lt;br /&gt;Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng&lt;br /&gt;Nhạn triện hư không gió thâu&lt;br /&gt;Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ&lt;br /&gt;Trời ban tối biết về đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai câu đầu:     Tà dương bóng ngả thuở giang lâu&lt;br /&gt;Thế giới đông nên ngọc một bầu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:&lt;br /&gt;Tuyết sóc treo cây điểm phấn&lt;br /&gt;Cõi đông giải nguyệt in câu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:&lt;br /&gt;Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng&lt;br /&gt;Nhạn triện hư không gió thâu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai câu cuối, tác giả viết:&lt;br /&gt;Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ&lt;br /&gt;Trời ban tối ước về đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-7014667506499715466?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/7014667506499715466/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=7014667506499715466' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7014667506499715466'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7014667506499715466'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/10/nhung-kiet-tac-tho-van-nguyen-trai.html' title='Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-8qP2ylEH2LQ/TqQ4E9Sw1nI/AAAAAAAAJCY/JOsraNImxU4/s72-c/Binh%2BMinh%2BYen%2BTu.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-6555502486631479522</id><published>2011-10-08T07:25:00.000+07:00</published><updated>2011-10-08T07:36:36.570+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Hacker lừa đảo tấn công YahooMail Hoàng Kim'/><title type='text'>Hacker lừa đảo tấn công YahooMail Hoàng Kim</title><content type='html'>&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/-bOa6dFxpYMw/To-WVLfvUsI/AAAAAAAAI_o/oAu580BTSLA/s1600/Kim%2BCPC1.JPG" imageanchor="1" style="margin-left:1em; margin-right:1em"&gt;&lt;img border="0" height="240" width="320" src="http://1.bp.blogspot.com/-bOa6dFxpYMw/To-WVLfvUsI/AAAAAAAAI_o/oAu580BTSLA/s320/Kim%2BCPC1.JPG" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;. Ngày 7 tháng 10 năm 2011, hacker lừa đảo đã tấn công Yahoo Mail Hoàng Kim, chủ bút của những trang DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC, FOOD CROPS, NGỌC PHƯƠNG NAM, CASSAVAVIET, CROPS FOR BIOFUEL Chúng tung tin Hoàng Kim đi Tây Ban Nha bị kẻ xấu tấn công cần sự giúp đỡ. Hacker lừa đảo tuy không lừa được ai nhưng rất nguy hại, đề nghị mọi người hãy cảnh giác. Từ  7 /10/2011 email hoangkim_vietnam@yahoo.com không còn giá trị &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thật là tôi đang đi nước ngoài không ở Tây Ban Nha mà ở Campuchia nhằm xây dựng vùng sắn nhiên liệu và hệ thống luân xen canh cây trồng tại vùng biên giới Campuchia Việt Nam để nâng cao năng suất, lợi nhuận và hiệu quả sử dụng đất. Chuyến đi đường rừng rất vất vả, nhiều đoạn bùn lầy khó đi nổi (1)  nhưng thật vui và thân thiện với nông dân. Chúng tôi gặp hai cựu sinh viên Campuchia học Đại học Nông Lâm TP. Hồ  Chí  Minh nay là hai tiến sĩ có cương vị cao của nước bạn (2). Chúng tôi cùng làm việc thảo luận trao đổi (3), Các giống sắn KM94, KM98-5, KM325 có nguồn gốc và cung ứng giống từ Việt Nam hiện đã và đang được trồng rất phổ biến ở Cămpuchia làm tăng thu nhập rõ rệt cho đời sống người dân (4,5). Giống sắn  mới KM419 đang được nhân nhanh ở Campuchia (6). Mô hình cao su trồng mới xen sắn, lạc tỏ ra rất hiệu quả (7,8). Những tổ chức tài chính tín dụng quốc tế đang hướng tầm nhìn lạc quan vào những cây trồng và  mô  hình thời sự này&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(xem hình ảnh và thông tin chi tiết &lt;a href="https://hoangkimvietnam.wordpress.com/2011/10/07/hacker-l%E1%BB%ABa-d%E1%BA%A3o-t%E1%BA%A5n-cong-yahoomail-hoang-kim/"&gt;tại đây)&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-6555502486631479522?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/6555502486631479522/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=6555502486631479522' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/6555502486631479522'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/6555502486631479522'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/10/hacker-lua-ao-tan-cong-yahoomail-hoang.html' title='Hacker lừa đảo tấn công YahooMail Hoàng Kim'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-bOa6dFxpYMw/To-WVLfvUsI/AAAAAAAAI_o/oAu580BTSLA/s72-c/Kim%2BCPC1.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-7304555169369291912</id><published>2011-09-22T16:34:00.001+07:00</published><updated>2012-01-01T14:27:58.631+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ'/><title type='text'>Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ</title><content type='html'>&lt;div style="TEXT-ALIGN: center; CLEAR: both" class="separator"&gt;&lt;a style="MARGIN-LEFT: 1em; MARGIN-RIGHT: 1em" href="http://2.bp.blogspot.com/-yNrjMM5AekE/Tnr1r-MuyMI/AAAAAAAAI-M/B8eK5GHwVKk/s1600/Alexandre%2Bde%2BRhodes.jpg" imageanchor="1"&gt;&lt;img border="0" src="http://2.bp.blogspot.com/-yNrjMM5AekE/Tnr1r-MuyMI/AAAAAAAAI-M/B8eK5GHwVKk/s320/Alexandre%2Bde%2BRhodes.jpg" width="241" height="299" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;DẠY VÀ HỌC. Đề nghị có một tảng đá văn hóa đặt ở công viên Tao Đán để ghi ơn ông Alexandre de Rhodes, người phát minh ra chữ Quốc ngữ, báu vật vô giá muôn đời của dân tộc Việt Nam . Ông Alexandre de Rhodes là người gốc Do Thái, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon trong gia đình một nhà buôn tơ lụa. Ông là nhà ngôn ngữ học thông thạo nhiều thứ tiếng nên đã "lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng Việt". Ông cũng là một trong những linh mục dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo công giáo Việt Nam từ năm 1626: Đến nay, đã 66 năm sau ngày chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và vận động toàn dân học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ, 36 năm sau ngày Việt Nam thống nhất . Đây có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong đặt tảng đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ, ông Alexandre de Rhodes &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tiến sĩ Alain Guillemin, Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp, bản dịch của Ngô Tự Lập đăng tại Viet- Studies 2011, Alexandre de Rhodes đến Hội An khoảng tháng 3 năm 1626. Sau đó đã cùng giáo sĩ dòng Tên Pedro Marques đến Thanh Hóa để giúp đỡ giáo sĩ dòng Tên người Ý Giuliano Baldinotti vốn gặp khó khăn trong việc học tiếng địa phương. Việc giảng đạo này chẳng bao lâu bị gián đoạn vì tin đồn rằng họ làm gián điệp. Alexandre de Rhodes bị chúa Trịnh Tráng quản thúc tại Hà Nội vào tháng Giêng 1630, sau đó bị trục xuất vào tháng 5 năm 1630. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes không thể quay lại Nam Kỳ, vì có thể bị nghi là gián điệp của Đàng Ngoài, nên đã trở lại Macao, nơi ông đã dạy thần học gần 10 năm trước. Trong khoảng thời gian 1640 -1645, ông đã dẫn đầu bốn chuyến đi đến Nam Kỳ, hầu hết các chuyến đi này đều trong sự bí mật vì sự thù ghét của chính quyền địa phương. Ông đã bị trục xuất khỏi Nam Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1645, sau đó đến Macao dạy tiếng Việt cho những người kế nhiệm là Carlo della Roca và Metello Sacano trước khi về lại nước Ý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khái quát bối cảnh Việt Nam thời đó: Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim , ở Đằng Ngoài, năm đinh mão 1627, chúa Trịnh Tráng nhân khi nhà Minh đang chống nhau với nhà Thanh, họ Mạc ở Cao Bằng thì về hàng, nên đã kiếm cớ xuất quân đánh chúa Nguyễn ở phương Nam lần thứ nhất. Đến năm 1630 chúa Trịnh Tráng xuất quân đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên lần thứ hai sau khi chúa Nguyễn theo kế Đào Duy Từ, trả lại sắc phong cho vua Lê, chiếm nam sông Giang, đắp lũy Trường Dục để chống quân Trịnh . Ở Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã bình định xong Chiêm Thành, đang bảo hộ Chân Lạp. Vùng đất Nam bộ lúc đó nằm trong sự tranh chấp Xiêm Nguyễn. Nước Xiêm La (Thái Lan ngày nay) vua Phra Naroi dòng dõi nhà Ayouthia đang chiếm cứ phần lớn đất Chân Lạp, đã dùng một người Hi Lạp làm tướng. Người này xin vua Thái giao thiệp với nước Pháp, do đó năm 1620 sứ thần của Xiêm La đã sang bái yết vua Pháp Louis XIV ở điện Versailes. Các giáo sĩ người Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng đang tranh giành ảnh hưởng theo ý đồ chính trị của mỗi nước thực dân tìm kiếm thuộc địa. Nhiều thế lực thực dân phương Tây và phong kiến phương Đông chăm chú nhiều đến vùng đất phương Nam ( HK chủ dẫn).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Roma, Alexandre de Rhodes báo cáo tinh hình cho Vatican, đề xuất hỗ trợ thành lập hội truyền giáo và vận động bổ nhiệm giám mục địa phương cho Đằng Ngoài và Đằng Trong. Ông rời Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 đến Thụy Sĩ và Pháp để tìm người và kinh phí cần thiết cho sự truyền giáo ở Việt Nam, Tại đây ông đã gặp giáo sĩ dòng Tên Jean Bagot, vị cha cố có quan hệ rất rộng trong giới cầm quyềnn và là người đã từng làm lễ xưng tội cho vua Louis XIV, Ông tuyển mộ trong số các môn đệ của Cha Bagot một số tình nguyện viên đi Bắc Kỳ và Nam Kỳ, đặc biệt trong đó có François Pallu, người sẽ là một trong ba khâm mạng Tòa thánh được Giáo Hoàng bổ nhiệm năm 1658 cho các sứ mệnh ở châu Á, đây cũng là hành động khởi đầu cho việc thành lập Hội truyền giáo hải ngoại Paris (MEP). Ông cũng xin được kinh phí cho Hội Ái hữu (SS), Do sự bất hòa giữa Giáo Hoàng, vua Bồ Đào Nha và các tổ chức truyền đạo nên ông bị thất sủng và được gửi đến Ba Tư vào tháng 11 năm 1654 và qua đời tại đây vào tháng 11 năm 1660.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Alexandre de Rhodes thông thạo nhiều thứ tiếng . Ông biết 12-13 thứ tiếng: ngoài tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ Provencal Ông thông thạo tiếng Latin, Hy Lạp, Italia, Do Thái, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Canarin, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư và tiếng Việt. Ông rất khiêm tốn và ham học hỏi. Ông nói "Thú thật là khi tôi đến Nam Kỳ và nghe tiếng nói của người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, tôi cảm thấy như nghe tiếng chim hót líu lo và tôi mất hết hy vọng có ngày học được thứ tiếng ấy.". "Tôi ghi lòng tạc dạ việc này: Tôi học hàng ngày chăm chỉ hệt như trước đây học thần học ở Roma,...sau bốn tháng, tôi đã có thể nghe hiểu những lời xưng tội, sau sáu tháng, có thể giảng đạo bằng tiếng Nam Kỳ,...". Chính vì thế ông đã " lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa..." của ngôn ngữ người Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai cuốn sách của ông xuất bản ở Roma năm 1651 ( Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum” và “Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum) là hai tác phẩm nền tảng, không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc ký âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hình trạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó. Một cuốn sách khác của ông (cuốn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”) có phần tóm tắt ngữ pháp 31 trang ở cuối, đã "đưa ra một tổng quan vắn tắt ...để bàn đến vấn đề từ loại trong tiếng Việt." bao gồm: Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1); Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2); Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3); Đại từ (Chương 4); Các đại từ khác (chương 5); Động từ (Chương 6); Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7); Một số thành tố của cú pháp (Chương 8). Đây là đóng góp đặc sắc của ông.không thể thay thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo sĩ Lèopold Cadière, người rất am hiểu vấn đề đã viết về ông: "Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam, phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông... Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục, tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác... Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảm bảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ông hiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp An Nam" (Cadière, 1915, tr. 238-39 được trích dẫn bởi Alain Guillemin ) Alexandre de Rhodes bám rất sát thực tiễn ngôn ngữ của người Việt trong các tầng lớp xã hội khác nhau và đã phát triển hệ thống chữ Việt dùng chữ cái trên cơ sở kế thừa nhiều công trình trước đó, trong đó có cả di sản tiếng Nôm. Trên thực tế sự sáng tạo chữ Quốc ngữ là tinh hoa trí tuệ của rất nhiều người mà công đầu là Alexandre de Rhodes.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ đã nêu ra "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa": "Môt là, nhân dân đang ĐÓI. Vấn đề thứ hai, nạn DỐT. Vấn đề thứ ba TỔNG TUYỂN CỬ. Vấn đề thứ tư giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH. Vấn đề thứ năm: bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, CẤM HÚT THUỐC PHIỆN. Cấn đề thứ sáu tuyên bố TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết." &lt;i&gt;Trong nhiệm vụ cấp bách thứ hai, Bác chỉ rõ: "Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. &lt;b&gt;Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ&lt;/b&gt;. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch đế chống nạn mù chữ &lt;/i&gt;"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng Việt và chữ quốc ngữ lại lợi khí quốc gia giúp cho một dân tộc nhỏ yếu vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, đào tạo nên hàng triệu người dân thường gánh vác việc nước. Điều này đã thể hiện rõ trong &lt;a href="http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/56/58/58/158380/Default.aspx"&gt;Võ Nguyên Giáp một cuộc đờ&lt;/a&gt;i khi ông trả lời Alanh-Rut xi ô :"Học thuyết quân sự cổ điển, khoa học quân sự truyền thống dạy rằng muốn giành thắng lợi, phải biết tập trung cùng một lúc ưu thế quân số và ưu thế kỹ thuật. Ông có thể thấy điều đó ở Na-pô-lê-ông. Thế nhưng chúng tôi lại ở vào tình thế phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Chúng tôi phải chấp nhận, nếu không Tổ quốc chúng tôi sẽ bị thôn tính. Vậy đương đầu như thế nào? Đó là chiến tranh toàn dân. Chiến tranh toàn dân là bí quyết của sự chiến thắng của chúng tôi..."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thế giới có lẽ hiếm có nước nào xóa nạn mù chữ toàn dân nhanh đến như vậy, hiếm có một dân tộc nào vùng dậy mạnh mẽ như vậy nên đã làm cho một danh tướng của đối phượng đã phải thốt lên "một quân đội có thể đánh bại một quân đội. Một quân đội không thể đánh thắng một dân tộc. Gần 70 năm nhìn lại, bài học về Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ vẫn nóng hổi tính thời sự (đón đọc loạt bảy bài liên quan: &lt;em&gt;130 năm thăng trầm chữ Việt&lt;/em&gt;). Chữ Quốc ngữ đúng là lợi khí quốc gia "Sinh tử phù" mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, mất gốc. Trên ý nghĩa đó, chúng ta nên gạn đục khơi trong, trả lại sự công bằng cho người đã có công phát minh chữ quốc ngữ&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ ?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 5 năm 1941, chính quyền thực dân dựng một đài tưởng niệm tại một góc nhỏ phía Đông Bắc hồ Hoàn Kiếm, cạnh đền Bà Kiệu. Đó là một tấm bia đá cao 1,7m, rộng 1,1m, dày 0,2m, trên có khắc, bằng các thứ chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp, công đức của linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes. Tin này được tờ «Tân Tri», số 13 Tháng 6 năm 1941, thông báo như sau: "…Ông Alexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà Thành trong lễ khánh thành đài kỷ niệm ông. Buổi lễ được tổ chức trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động…Ngày nay, chữ Quốc ngữ được coi là rường cột của tiếng ta, đó là lý do vì sao chúng ta không thể không cảm ơn chân thành người đã phát minh ra nó, ông Alexandre de Rhodes."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những năm tháng chiến tranh khi đất nước chưa có độc lập và thống nhất toàn vẹn, tấm bia đá đã bị gỡ bỏ như là việc chối bỏ sự lợi dụng khai hóa văn minh để áp đặt sự thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác .Đến những năm 1980, tại khoảng không gian tưởng niệm dành cho Alexandre de Rhodes mọc lên một tượng đài cách mạng trắng tinh khôi tuyệt đẹp, tôn vinh những người yêu nước: ba pho tượng người chiến sĩ cỡ lớn, một trong số đó là phụ nữ. Trên bệ, có dòng chữ: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh." . Đó đã là điều khẳng định lý tưởng:"Không có gí quý hơn độc lập, tự do" Tổ Quốc Việt Nam hồi sinh bởi hàng triệu con dân Việt đã "xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1993, Giáo sư Nguyễn Lân đã nhắc đến đài tưởng niệm giáo sĩ người Pháp. Theo ông, đáng lẽ không nên gỡ bỏ đài kỷ niệm ấy. “&lt;i&gt;Hành động này cho thấy một nhận thức thiển cận, sự thiếu hiểu biết về lịch sử và, dù sao đi chăng nữa, cũng không xứng đáng với truyền thống của dân tộc ta. Alexandre de Rhodes, chẳng phải là ông đã làm việc cho người Việt Nam hay sao? Chữ Quốc ngữ, thứ chữ dễ học hơn nhiều so với chữ tượng hình, đã giúp phần lớn dân chúng tiếp cận tri thức và thông tin... Và nhà truyền giáo cũng là một nhà nhân văn chủ nghĩa, gần gũi với dân chúng&lt;/i&gt;.". Nay có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong đặt hòn đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ: Alexandre de Rhodes&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="TEXT-ALIGN: center; CLEAR: both" class="separator"&gt;&lt;a style="MARGIN-LEFT: 1em; MARGIN-RIGHT: 1em" href="http://1.bp.blogspot.com/-TD1WAv3zpoQ/Tnr-NayjfEI/AAAAAAAAI-U/ojInuXC0Vd0/s1600/Hon%2Bda%2BBill%2BClinton%2Bo%2BQue%2BLam.jpg" imageanchor="1"&gt;&lt;img border="0" src="http://1.bp.blogspot.com/-TD1WAv3zpoQ/Tnr-NayjfEI/AAAAAAAAI-U/ojInuXC0Vd0/s320/Hon%2Bda%2BBill%2BClinton%2Bo%2BQue%2BLam.jpg" width="240" height="320" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;Tôi đề nghị dựng lại bia của ông Alexandre de Rhodes ở công viên Tao Đàn, Hà Nội (theo ý kiến của GS. Nguyễn Lân) và đặt tảng đá tưởng niệm tại công viên Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh (tương tự như tảng đá Bill Clinton tại Quế Lâm - hình trên) và nếu có thể tại vườn đá Huế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tài liệu tham khảo chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1) Alain Guillemin 2011. &lt;a href="http://viet-studies.info/AlainGuillemin_DeRhodes.htm"&gt;ALEXANDRE DE RHODES CÓ PHÁT MINH RA CHỮ QUỐC NGỮ?&lt;/a&gt; TS. Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Bản dịch của Ngô Tự Lập . Viet-Studies.info&lt;br /&gt;2. Hồ Chí Minh 1945. Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia Hà Nội năm 2002 trang 1-3&lt;br /&gt;3. Trần Trọng Kim 1921 Việt Nam sử lược. Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin 1999 trang 318-320. &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;em&gt;Đọc thêm:&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Loạt bài liên quan trên báo Tuổi Trẻ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;130 NĂM THĂNG TRẦM CHỮ VIỆT&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/469886/130-nam-thang-tram-chu-Viet.html"&gt;Hai thế kỹ và một quyết định &lt;/a&gt;(16 12 2011)&lt;br /&gt;2. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470085/130-nam-thang-tram-chu-Viet-- Ky-2-Ai-hoc-chu-Viet-dau-tien.html"&gt;Ai học chữ Việt đầu tiên?&lt;/a&gt; (20.12.2011)&lt;br /&gt;3. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470226/130-nam-thang-tram-chu-Viet---Ky-3-Cuong-bach-va-phan-khang.html"&gt;Cưỡng bách và phản kháng &lt;/a&gt;(21.12.2011&lt;br /&gt;4. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470390/130-nam-thang-tram-chu-Viet---Ky-4-Buoc-ra-khoi-giao-hoi.html"&gt;Bước ra khỏi giáo hội &lt;/a&gt;(22.12.2011)&lt;br /&gt;5. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470555/130-nam-thang-tram-chu-Viet---Ky-5Bao-chi-tien-phong.html"&gt;Báo chí tiên phong &lt;/a&gt;(23.12.2011)&lt;br /&gt;6. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470716/130-nam-thang-tram-chu-Viet-- Ky-6-Ngon-lua-Dong-Kinh-nghia-thuc.html"&gt;Ngọn lửa Đông Kinh nghĩa thục &lt;/a&gt;(24.12.2011)&lt;br /&gt;7. &lt;a href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/470839/130-nam-thang-tram-chu-Viet-- Ky-cuoi-Quoc-ngu-cua-mot-nuoc-doc-lap.html"&gt;Quốc ngữ của một nước độc lập &lt;/a&gt;(25.12.2011)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trở về trang chính&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogtiengviet.net/"&gt;Dạy và học BlogtiengViet&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com/"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://foodcrops.vn/"&gt;FOOD CROPS&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com/"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com/"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt; &lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-7304555169369291912?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/7304555169369291912/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=7304555169369291912' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7304555169369291912'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7304555169369291912'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/09/ghi-on-nguoi-phat-minh-chu-quoc-ngu.html' title='Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-yNrjMM5AekE/Tnr1r-MuyMI/AAAAAAAAI-M/B8eK5GHwVKk/s72-c/Alexandre%2Bde%2BRhodes.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-1181521990328095946</id><published>2011-09-09T22:37:00.043+07:00</published><updated>2011-09-10T00:15:47.728+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Ảnh mới của Gia đình Nông nghiệp'/><title type='text'>Ảnh mới của Gia đình Nông nghiệp</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-yqcxBYXuA40/Tmo2PhiklpI/AAAAAAAAI2w/pB78B61A1GQ/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B37.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-yqcxBYXuA40/Tmo2PhiklpI/AAAAAAAAI2w/pB78B61A1GQ/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B37.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650388322819020434" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;GIA ĐÌNH NÔNG NGHIỆP. Việc tổ chức họp mặt cựu sinh viên khóa hai kỹ niệm ba mươi năm sau ngày ra Trường để kết nối thầy bạn, tri ân thầy cô, nâng cánh ước nơ đã được đông đảo các bạn về dự. Chị Kim Dung gợi ý các máy ghi hình khác cùng gom ảnh về để có nhiều ảnh hơn lưu lại được những khoảng khác đáng nhớ. Xin giới thiệu một chùm ảnh mới &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-gByEQViaHgk/Tmo2jIFZPkI/AAAAAAAAI24/dsOpYcgcfuc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B38.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-gByEQViaHgk/Tmo2jIFZPkI/AAAAAAAAI24/dsOpYcgcfuc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B38.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650388659583139394" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-zMCCa8SZj2o/Tmo21Zk4VyI/AAAAAAAAI3A/_hKCJuSJa9U/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B39.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 241px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-zMCCa8SZj2o/Tmo21Zk4VyI/AAAAAAAAI3A/_hKCJuSJa9U/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B39.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650388973516248866" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-vJhTP_XT5cw/Tmo3LbqphMI/AAAAAAAAI3I/v6fSC3sm374/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B40.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-vJhTP_XT5cw/Tmo3LbqphMI/AAAAAAAAI3I/v6fSC3sm374/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B40.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650389352034436290" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-a3Y6br5z-Zg/Tmo3c1immBI/AAAAAAAAI3Q/Cj8v2jn08os/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B41.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-a3Y6br5z-Zg/Tmo3c1immBI/AAAAAAAAI3Q/Cj8v2jn08os/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B41.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650389651037788178" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/--PDxGh5z7n4/Tmo4BOSXRlI/AAAAAAAAI3Y/f7n50VwLQbg/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B42.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 220px;" src="http://4.bp.blogspot.com/--PDxGh5z7n4/Tmo4BOSXRlI/AAAAAAAAI3Y/f7n50VwLQbg/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B42.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650390276155852370" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-26hsvF71664/Tmo4gue3XcI/AAAAAAAAI3g/wQD7Ro-ob_8/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B43.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-26hsvF71664/Tmo4gue3XcI/AAAAAAAAI3g/wQD7Ro-ob_8/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B43.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650390817374166466" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-HXB-DqNbYAc/Tmo5DE0gyRI/AAAAAAAAI3o/OnScWDKHtZI/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B44.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-HXB-DqNbYAc/Tmo5DE0gyRI/AAAAAAAAI3o/OnScWDKHtZI/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B44.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650391407486093586" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-KVl0rCc9dhk/Tmo5eBvqALI/AAAAAAAAI3w/Z35J36O5Cu8/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B45.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 243px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-KVl0rCc9dhk/Tmo5eBvqALI/AAAAAAAAI3w/Z35J36O5Cu8/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B45.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650391870516887730" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-uXVbjwxJF24/Tmo523EY0II/AAAAAAAAI34/ccUtbl6-Ucw/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B46.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-uXVbjwxJF24/Tmo523EY0II/AAAAAAAAI34/ccUtbl6-Ucw/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B46.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650392297147781250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-3eX6360lXA0/Tmo6PHwE2yI/AAAAAAAAI4A/SYLH2-Ab02c/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B47.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-3eX6360lXA0/Tmo6PHwE2yI/AAAAAAAAI4A/SYLH2-Ab02c/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B47.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650392713942850338" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-8B7BpwZ1S9Y/Tmo6s0x8f2I/AAAAAAAAI4I/YjnZ_lC4lYc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B48.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-8B7BpwZ1S9Y/Tmo6s0x8f2I/AAAAAAAAI4I/YjnZ_lC4lYc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B48.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650393224246493026" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-gj8-z2oyZ_E/Tmo7g-J9puI/AAAAAAAAI4Y/AhnJHftJlYY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B49.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 212px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-gj8-z2oyZ_E/Tmo7g-J9puI/AAAAAAAAI4Y/AhnJHftJlYY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B49.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650394120116348642" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-hJwnoEpNdqs/Tmo8OVaY6eI/AAAAAAAAI4g/hs6E79wZtKA/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B50.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 222px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-hJwnoEpNdqs/Tmo8OVaY6eI/AAAAAAAAI4g/hs6E79wZtKA/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B50.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650394899453372898" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-FOMgd_ivhLk/Tmo8jq1jv4I/AAAAAAAAI4o/ltnxXbVG0Js/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B51.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-FOMgd_ivhLk/Tmo8jq1jv4I/AAAAAAAAI4o/ltnxXbVG0Js/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B51.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650395265981726594" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-7CGyRGRo040/Tmo828NXoqI/AAAAAAAAI4w/kcUWhsh79cY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B52.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-7CGyRGRo040/Tmo828NXoqI/AAAAAAAAI4w/kcUWhsh79cY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B52.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650395597062513314" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-Sppt8PCJNbY/Tmo9TkTlgbI/AAAAAAAAI44/1lQRp7ltt-o/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B53.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-Sppt8PCJNbY/Tmo9TkTlgbI/AAAAAAAAI44/1lQRp7ltt-o/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B53.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650396088862343602" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-Sppt8PCJNbY/Tmo9TkTlgbI/AAAAAAAAI44/1lQRp7ltt-o/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B53.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-Sppt8PCJNbY/Tmo9TkTlgbI/AAAAAAAAI44/1lQRp7ltt-o/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B53.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650396088862343602" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-jYw6MxMtkkw/Tmo-rT0nf5I/AAAAAAAAI5Q/UOqsZmNnwIc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B54.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-jYw6MxMtkkw/Tmo-rT0nf5I/AAAAAAAAI5Q/UOqsZmNnwIc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B54.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650397596265971602" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-bD_QkwH29pY/Tmo-RVsJ8RI/AAAAAAAAI5I/BR5CZNTVY9Q/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B55.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 235px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-bD_QkwH29pY/Tmo-RVsJ8RI/AAAAAAAAI5I/BR5CZNTVY9Q/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B55.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650397150090752274" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-2m4YuLj1pqg/Tmo_gKvXCJI/AAAAAAAAI5g/3RsRFGJGQGk/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B56.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-2m4YuLj1pqg/Tmo_gKvXCJI/AAAAAAAAI5g/3RsRFGJGQGk/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B56.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650398504361068690" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-Pxprp6_Pyw0/TmpAM65-n3I/AAAAAAAAI5w/XsY92cxamdo/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B57.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-Pxprp6_Pyw0/TmpAM65-n3I/AAAAAAAAI5w/XsY92cxamdo/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B57.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650399273204752242" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-m0xMZC49hd0/TmpAo7SAvvI/AAAAAAAAI54/uP0kcc9Zaz4/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B58.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-m0xMZC49hd0/TmpAo7SAvvI/AAAAAAAAI54/uP0kcc9Zaz4/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B58.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650399754341891826" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-H1xoQg4DUi0/TmpA7_Pt_bI/AAAAAAAAI6A/MuGPnPqs_EA/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B59.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-H1xoQg4DUi0/TmpA7_Pt_bI/AAAAAAAAI6A/MuGPnPqs_EA/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B59.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650400081823530418" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-uYnDsLub3p0/Tmo_y512_7I/AAAAAAAAI5o/uGp2OEuao0g/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B60.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-uYnDsLub3p0/Tmo_y512_7I/AAAAAAAAI5o/uGp2OEuao0g/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B60.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650398826242441138" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-7PNrbZSsy-8/TmpBQMF78dI/AAAAAAAAI6I/HzZwomIB9TI/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B61.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 237px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-7PNrbZSsy-8/TmpBQMF78dI/AAAAAAAAI6I/HzZwomIB9TI/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B61.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650400428869546450" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-Ik82BAAO6Xs/TmpBj2ax5EI/AAAAAAAAI6Q/r9QKUoeP1yU/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B62.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-Ik82BAAO6Xs/TmpBj2ax5EI/AAAAAAAAI6Q/r9QKUoeP1yU/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B62.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650400766648771650" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-8w1pVJcNHec/TmpCaXgQMGI/AAAAAAAAI6g/oWiJ5DmBu5U/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B63.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-8w1pVJcNHec/TmpCaXgQMGI/AAAAAAAAI6g/oWiJ5DmBu5U/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B63.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650401703243034722" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-lPVD0JHbHU8/TmpB9Awp6II/AAAAAAAAI6Y/5ZuQHhRfUug/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B64.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-lPVD0JHbHU8/TmpB9Awp6II/AAAAAAAAI6Y/5ZuQHhRfUug/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B64.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650401198921607298" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-BQlC5TbCiT0/TmpC0q16LbI/AAAAAAAAI6o/tuZq6g9j5s4/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B65.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-BQlC5TbCiT0/TmpC0q16LbI/AAAAAAAAI6o/tuZq6g9j5s4/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B65.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650402155110739378" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-1JdrlFqKyVY/TmpDWqzhhhI/AAAAAAAAI6w/cvGdKqDAdvE/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B66.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-1JdrlFqKyVY/TmpDWqzhhhI/AAAAAAAAI6w/cvGdKqDAdvE/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B66.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650402739216287250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-dPYPlZ48QMA/TmpDn5HzX6I/AAAAAAAAI64/zj3MymhcVso/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B67.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-dPYPlZ48QMA/TmpDn5HzX6I/AAAAAAAAI64/zj3MymhcVso/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B67.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650403035117215650" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-gTUNbioopBA/TmpEGX9X5zI/AAAAAAAAI7I/UpaO-Up6f_4/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B68.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 229px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-gTUNbioopBA/TmpEGX9X5zI/AAAAAAAAI7I/UpaO-Up6f_4/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B68.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650403558791046962" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-caCI0ntcxgY/TmpEX7vphgI/AAAAAAAAI7Q/2uzDB4no-Sk/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B69.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 259px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-caCI0ntcxgY/TmpEX7vphgI/AAAAAAAAI7Q/2uzDB4no-Sk/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B69.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650403860454934018" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-aBEjkZKCUUc/TmpEwtHjkvI/AAAAAAAAI7Y/OLUWqC7H4rY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B70.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 225px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-aBEjkZKCUUc/TmpEwtHjkvI/AAAAAAAAI7Y/OLUWqC7H4rY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B70.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650404286025405170" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-yEeXug1ARCI/TmpFAlH_meI/AAAAAAAAI7g/WILi54b9KJU/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B71.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 248px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-yEeXug1ARCI/TmpFAlH_meI/AAAAAAAAI7g/WILi54b9KJU/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B71.JPG" border="0" http://www.blogger.comhttp://www.blogger.com/img/blank.gifhttp://www.blogger.com/img/blank.gif/img/blank.gifalt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650404558757665250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;http://dayvahoc.blogspot.com&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-G2WynbjHKuc/TmpFW4SBDDI/AAAAAAAAI7o/0oJAUTW7LvI/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B72.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 234px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-G2WynbjHKuc/TmpFW4SBDDI/AAAAAAAAI7o/0oJAUTW7LvI/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B72.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5650404941857098802" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim"&gt;Dạy và học ĐHNLHCM&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://giadinhnongnghiep.wordpress.com"&gt;Gia đình nông nghiệp&lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NA&lt;/a&gt;M, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC,&lt;/a&gt; &lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-1181521990328095946?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/1181521990328095946/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=1181521990328095946' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/1181521990328095946'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/1181521990328095946'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/09/anh-moi-cua-gia-inh-nong-nghiep.html' title='Ảnh mới của Gia đình Nông nghiệp'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-yqcxBYXuA40/Tmo2PhiklpI/AAAAAAAAI2w/pB78B61A1GQ/s72-c/K2%2BG%25C4%2590NN%2B37.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-3786534358777520183</id><published>2011-09-05T13:07:00.041+07:00</published><updated>2011-09-05T15:26:00.641+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam'/><title type='text'>Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam</title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-C3RjRvfzd98/TmRr8HROrpI/AAAAAAAAIxk/5Wf-OmUhXso/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B01.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-C3RjRvfzd98/TmRr8HROrpI/AAAAAAAAIxk/5Wf-OmUhXso/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B01.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648758513117081234" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Kính chào quý Thầy Cô Trường Đại Học Nông Lâm và các vị khách quý !&lt;br /&gt;- Kính chào các bạn cựu sinh viên khóa 2 các khoa Trồng trọt, Chăn nuôi Thú y, Kinh tế, Cơ khí, Thủy sản, Lâm nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp 4 tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; kết quả đào tạo đầu tiên của nền giáo dục nông nghiệp Việt Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. &lt;br /&gt;- Kính chào đại gia đình Nông Lâm, nơi ươm mầm xanh của nghề nông!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Ba mươi năm sau ngày ra Trường, chúng ta như những cánh chim bay khắp bốn phương trời, hôm nay đoàn tụ về đây để cùng nhau nhớ về một thời tuổi trẻ, xúc động hướng về mái trường thân yêu, bày tỏ lời tri ân Thầy Cô, trao đổi tâm tình, lưu lại kỹ niệm ngày vui, tặng quà Thầy Cô và bạn hữu, liên hoan văn nghệ và dùng cơm thân mật. Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Trân trọng kính mời Thầy Hiệu Trưởng nói Lời Chào Mừng mở đầu họp mặt!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Anh Hoàng Mạo và chị Thanh Tuyền đã dẫn chương trình cho HỌP MẶT KỸ NIỆM BA MƯƠI NĂM NGÀY RA TRƯỜNG CỦA CỰU SINH VIÊN KHÓA 2 ĐAI HỌC NÔNG NGHIỆP 4. tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chào mừng quý Thầy Cô, các vị khách quý và các bạn đã về điểm hẹn. Trên ghế danh dự có Thầy Hiệu Trưởng đầu tiên sau ngày Việt Nam hoàn toàn thống nhất cùng với các Thầy Hiệu Trưởng kế tiếp và đương nhiệm cùng đại diện những Thầy Cô trong Ban Giảng Huấn của các Khoa từ những năm 1975-1981. Cám ơn tất cả các bạn. Cám ơn gia đình nông nghiệp. Cám ơn Ban Tổ Chức và toàn thể chúng ta đã chung vui tạo nên buổi họp mặt này. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật xúc động tự hào ba mươi năm nhìn lại. Bác Hồ có nói:"Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người". Ba mươi năm sau ngày khởi nghiệp là mốc thời gian hợp lý để chúng ta nhìn lại những việc đã làm sau khi học. Chúng ta là kết quả đào tạo đầu tiên của nền giáo dục nông nghiệp Việt Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.  Giá trị cao quý của con người là tình yêu thương, sự phúc hậu và thung dung thanh thản. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mầy làm nên.” “Giàu vì bạn, sang vì vợ.”  Bill Clinton trong trang nhất của tác phẩm ‘Đời tôi’đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy bạn là lộc xuân của cuộc đời.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nông nghiệp đất phương Nam có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước. Đây là vùng cây lương thực lúa, bắp, khoai mì và tinh bột lớn nhất nước, vùng trái cây rau hoa quả, cà phê, cao su, tiêu , mía và  nông sản hàng hóa chủ lực của Việt Nam. Thủy sản, chăn nuôi thú y, kinh tế nông nghiệp, cơ khí nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh doanh dịch vụ tổng hợp trên nền an sinh xã hội bền vững và khai thác lợi thế cạnh tranh đều có những ưu thế nổi bật. Thành phố Hồ Chí Minh là điểm hội tụ rất thuận lợi. Sự họp mặt 30 năm sau ngày ra Trường của khóa 2 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một sự gợi mở để tiếp nối không chỉ là họp mặt mà là Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia đình nông nghiệp http://giadinhnongnghiep.wordpress.com là sự Nối vòng tay lớn TRƯỜNG ĐAI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH với các khóa anh chị trước ngày Việt Nam thống nhất. Mục đích của trang này nhằm kết nối thông tin THÂY CÔ VÀ CÁC BẠN LỚP, KHOA, TRƯỜNG (số  điện thọại , địa chỉ, email, …) để giao lưu học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Trang này liên kết với http://hcmuaf.edu.vn, http://dayvahoc.blogspot.com cùng với các trang web chuyên ngành nông nghiệp và các blog cá nhân (The Gift của Giáo sư Tôn Thất Trình,  Ngọc phương Nam, Dạy và học của chủ bút quản trị mạng với những trang khác). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mọi liên hệ xin gửi về Trưởng ban liên lạc: chị Nguyễn Thị Kim Dung, hiện công tác ở tòa soạn báo Tuổi trẻ (cựu lớp trưởng Trồng trọt A khóa 2), số điện thoại 0903 92 66 55, email kimdung2311@yahoo.com , địa chỉ  60A Hoàng Văn Thụ, thành phố Hồ Chí Minh. Hình ảnh hoặc băng video hoặc bài cần đăng xin vui lòng gửi về  hoangkim-vietnam@yahoo.com .  Trân trọng cám ơn tất cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-6oxnBppYTms/TmRy_ZBAy1I/AAAAAAAAIxs/j6BjtjHYF3Q/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B02.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-6oxnBppYTms/TmRy_ZBAy1I/AAAAAAAAIxs/j6BjtjHYF3Q/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B02.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648766266001902418" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-Ei1no0bT0Bc/TmRzMutwOvI/AAAAAAAAIx0/U7npIapFejk/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B03.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-Ei1no0bT0Bc/TmRzMutwOvI/AAAAAAAAIx0/U7npIapFejk/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B03.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648766495165004530" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-zuwQY6zWmtk/TmRzc2uXYzI/AAAAAAAAIx8/XJiHCmOlD48/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B04.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-zuwQY6zWmtk/TmRzc2uXYzI/AAAAAAAAIx8/XJiHCmOlD48/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B04.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648766772192961330" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-P5OgWkOr2zg/TmRzqjjKHbI/AAAAAAAAIyE/xr0Wnz8ZY4c/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B05.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-P5OgWkOr2zg/TmRzqjjKHbI/AAAAAAAAIyE/xr0Wnz8ZY4c/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B05.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648767007563849138" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-rv3yghNh9vQ/TmRz8MVzuhI/AAAAAAAAIyM/cJ-9ysCsS6A/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B06.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-rv3yghNh9vQ/TmRz8MVzuhI/AAAAAAAAIyM/cJ-9ysCsS6A/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B06.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648767310571485714" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-QVB50JJM8YE/TmR0OvyurII/AAAAAAAAIyU/lfeGtT2-BVY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B07.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-QVB50JJM8YE/TmR0OvyurII/AAAAAAAAIyU/lfeGtT2-BVY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B07.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648767629325675650" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-juBHlt7EW2I/TmR0dx2HQGI/AAAAAAAAIyc/x27sJltaiCM/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B08.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 230px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-juBHlt7EW2I/TmR0dx2HQGI/AAAAAAAAIyc/x27sJltaiCM/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B08.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648767887574777954" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-8IAsuX6zHzI/TmR5wqdOMKI/AAAAAAAAIyk/vYXVE8GIqx0/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B09.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-8IAsuX6zHzI/TmR5wqdOMKI/AAAAAAAAIyk/vYXVE8GIqx0/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B09.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648773709566980258" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-JRse7dDf6aI/TmR6AamzMaI/AAAAAAAAIys/_PZhDL6d1vU/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B10.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 247px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-JRse7dDf6aI/TmR6AamzMaI/AAAAAAAAIys/_PZhDL6d1vU/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B10.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648773980190093730" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-0yZ7kK_7pXQ/TmR6OtwKADI/AAAAAAAAIy0/Ui0xvebeiOw/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B11.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 242px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-0yZ7kK_7pXQ/TmR6OtwKADI/AAAAAAAAIy0/Ui0xvebeiOw/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B11.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648774225847779378" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-yrdwypA8RxA/TmR6gh_6GiI/AAAAAAAAIy8/tUc8tCxfQuU/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B12.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 219px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-yrdwypA8RxA/TmR6gh_6GiI/AAAAAAAAIy8/tUc8tCxfQuU/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B12.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648774531930266146" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-jH-GcSFPww8/TmR6wy3dU-I/AAAAAAAAIzE/ld0-oUxrJjE/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B13.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-jH-GcSFPww8/TmR6wy3dU-I/AAAAAAAAIzE/ld0-oUxrJjE/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B13.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648774811336135650" /&gt;&lt;/a&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-YOhjqVB240Q/TmR7AbiQmRI/AAAAAAAAIzM/sKhi-DmbzYc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B14.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-YOhjqVB240Q/TmR7AbiQmRI/AAAAAAAAIzM/sKhi-DmbzYc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B14.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648775079951112466" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-6cPybAIP7jI/TmR7SoB-exI/AAAAAAAAIzU/Ug4R4jhuKH8/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B15.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-6cPybAIP7jI/TmR7SoB-exI/AAAAAAAAIzU/Ug4R4jhuKH8/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B15.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648775392543013650" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-2ChSp9EWqmU/TmR7iE6FIKI/AAAAAAAAIzc/wLikNDCNyDw/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B16.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 233px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-2ChSp9EWqmU/TmR7iE6FIKI/AAAAAAAAIzc/wLikNDCNyDw/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B16.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648775657992560802" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-FxW43rc2Nk4/TmR71Uia8fI/AAAAAAAAIzk/eSAbqKHZguc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B17.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 238px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-FxW43rc2Nk4/TmR71Uia8fI/AAAAAAAAIzk/eSAbqKHZguc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B17.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648775988605809138" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-SqaqWV4MASs/TmR8Ihx6WFI/AAAAAAAAIzs/gGKwJSKw9LA/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B18.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-SqaqWV4MASs/TmR8Ihx6WFI/AAAAAAAAIzs/gGKwJSKw9LA/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B18.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648776318577956946" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-E1rAdi-yPnk/TmR8gU2yHQI/AAAAAAAAIz0/2R94hnWr8s0/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B19.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-E1rAdi-yPnk/TmR8gU2yHQI/AAAAAAAAIz0/2R94hnWr8s0/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B19.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648776727425588482" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-uhDhKMw0XcY/TmR8yFRFcaI/AAAAAAAAIz8/Flgl4nfUUQE/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B20.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-uhDhKMw0XcY/TmR8yFRFcaI/AAAAAAAAIz8/Flgl4nfUUQE/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B20.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648777032478585250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-7FM0lmZk9U0/TmR9Jq0xT5I/AAAAAAAAI0E/WD0UhaUVDW0/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B21.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-7FM0lmZk9U0/TmR9Jq0xT5I/AAAAAAAAI0E/WD0UhaUVDW0/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B21.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648777437697363858" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-e01spnlNuEI/TmR9d1RSJEI/AAAAAAAAI0M/GwBEDXqiOM4/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B22.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-e01spnlNuEI/TmR9d1RSJEI/AAAAAAAAI0M/GwBEDXqiOM4/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B22.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648777784098694210" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-cJri4Cm2_o4/TmR9xj-sNXI/AAAAAAAAI0U/lWZ39snCNEI/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B23.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 212px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-cJri4Cm2_o4/TmR9xj-sNXI/AAAAAAAAI0U/lWZ39snCNEI/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B23.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648778123054691698" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-4fp9z6CbLfY/TmR-Cvw-07I/AAAAAAAAI0c/NUpyyUUJ7nQ/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B24.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 225px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-4fp9z6CbLfY/TmR-Cvw-07I/AAAAAAAAI0c/NUpyyUUJ7nQ/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B24.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648778418276193202" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/--8Ref5-F8uw/TmR-Ur9UPII/AAAAAAAAI0k/F11wslOmvCw/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B25.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 235px;" src="http://1.bp.blogspot.com/--8Ref5-F8uw/TmR-Ur9UPII/AAAAAAAAI0k/F11wslOmvCw/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B25.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648778726491831426" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-PepP9DZBN_Y/TmR-zFve98I/AAAAAAAAI0s/YK2mLSYe_1Q/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B26.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-PepP9DZBN_Y/TmR-zFve98I/AAAAAAAAI0s/YK2mLSYe_1Q/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B26.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648779248809211842" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-U9Zys3qQj04/TmR_KOpLLkI/AAAAAAAAI00/KDIubl_UsdY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B27.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-U9Zys3qQj04/TmR_KOpLLkI/AAAAAAAAI00/KDIubl_UsdY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B27.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648779646335659586" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-jhfcBcHROLs/TmR_hML730I/AAAAAAAAI08/MfXh9n_adj8/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B28.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-jhfcBcHROLs/TmR_hML730I/AAAAAAAAI08/MfXh9n_adj8/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B28.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648780040813141826" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-X8c_3maT558/TmR_z1B4zyI/AAAAAAAAI1E/Btvx6y_o7gs/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B29.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 229px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-X8c_3maT558/TmR_z1B4zyI/AAAAAAAAI1E/Btvx6y_o7gs/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B29.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648780361014497058" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-COo3-pvWC0Q/TmSAFgQxO8I/AAAAAAAAI1M/vFCyVmsS3Ps/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B30.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 224px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-COo3-pvWC0Q/TmSAFgQxO8I/AAAAAAAAI1M/vFCyVmsS3Ps/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B30.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648780664677415874" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-6qmT376T_vo/TmSAXcB4smI/AAAAAAAAI1U/pY4kEuwZerY/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B31.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 216px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-6qmT376T_vo/TmSAXcB4smI/AAAAAAAAI1U/pY4kEuwZerY/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B31.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648780972778893922" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-fRS7mMWbilI/TmSApyNarzI/AAAAAAAAI1c/6sYZZsFh2Jw/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B32.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-fRS7mMWbilI/TmSApyNarzI/AAAAAAAAI1c/6sYZZsFh2Jw/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B32.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648781287970484018" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-nTSLbHEUjbQ/TmSA6nLkG6I/AAAAAAAAI1k/_OPyRNKdunE/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B33.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 250px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-nTSLbHEUjbQ/TmSA6nLkG6I/AAAAAAAAI1k/_OPyRNKdunE/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B33.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648781577067699106" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-54McuW_aYkE/TmSBeHIlKSI/AAAAAAAAI1s/w_PdVFmJcu4/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B34.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 232px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-54McuW_aYkE/TmSBeHIlKSI/AAAAAAAAI1s/w_PdVFmJcu4/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B34.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648782186940541218" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-tozBsY_7JBk/TmSBx9KE3nI/AAAAAAAAI10/ZYA5RANhKWc/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B35.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: 240px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-tozBsY_7JBk/TmSBx9KE3nI/AAAAAAAAI10/ZYA5RANhKWc/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B35.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648782527859842674" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;http://www.blogger.com/img/blank.gif&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-dzcw8sqz6P0/TmSChBA2ohI/AAAAAAAAI18/Kn7qIVF7glk/s1600/K2%2BG%25C4%2590NN%2B36.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 320px; height: http://www.blogger.com/img/blank.gif226px;http://www.blogger.com/img/blank.gif" src="http://1.bp.blogspot.com/-dzcw8sqz6P0/TmSChBA2ohI/AAAAAAAAI18/Kn7qIVF7glk/s320/K2%2BG%25C4%2590NN%2B36.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5648783336348754450" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com/hoang-kim/"&gt;Hoàng Kim&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;Do điều kiện giới hạn nên trang mạng bước đầu chỉ mới có hình ảnh chụp được từ góc hẹp máy cá nhân. Kính mời Thầy Cô và các bạn gửi thêm hình ảnh, video của các máy khác để có góc nhìn toàn diện hơn. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://cayluongthuc.blogspot.com"&gt;CÂY LƯƠNG THỰC&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-3786534358777520183?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/3786534358777520183/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=3786534358777520183' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3786534358777520183'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3786534358777520183'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/09/gia-inh-nong-nghiep-oan-tu-at-phuong.html' title='Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-C3RjRvfzd98/TmRr8HROrpI/AAAAAAAAIxk/5Wf-OmUhXso/s72-c/K2%2BG%25C4%2590NN%2B01.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-7568033267442204729</id><published>2011-08-29T07:13:00.007+07:00</published><updated>2011-08-29T10:39:34.743+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nguyễn Quang Lập trong mắt ai'/><title type='text'>Nguyễn Quang Lập trong mắt ai</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/-9RBDRoHS0Ew/TlsE6DAEC_I/AAAAAAAAIsM/ZxQ5668ilZ8/s1600/Nguyen%2BQuang%2BLap.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 265px; height: 400px;" src="http://2.bp.blogspot.com/-9RBDRoHS0Ew/TlsE6DAEC_I/AAAAAAAAIsM/ZxQ5668ilZ8/s400/Nguyen%2BQuang%2BLap.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5646111953123544050" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;DẠY VÀ HỌC. Ngô Minh vừa có bài viết về cuốn sách mới "Bạn văn" rất hot gần đây của Nguyễn Quang Lập. Tôi chưa kịp đọc nhưng hình dung một chiếu rượu vui vẻ ngót trăm bạn văn ở một tác phầm mới 456 trang. Bạn văn viết theo lối khẩu văn, Ngô Minh nhận xét. Viết về khẩu văn của Nguyễn Quang Lập, nhà văn Bảo Ninh cho rằng:” Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ dãi. Đố anh dễ dãi nào viết được như thế. Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi“. Trần Đăng Khoa khen tác phẩm "Ký ức vụn" phát hành trước đó: Ký ức vụn mà không hề vụn. Những câu chuyện khơi khơi, tưởng như nói tào lao cho vui, mà thâm trầm, sâu sắc ra trò. Chuyện thế mà không phải thế. Đây là chỗ hơn người của bọ Lập. Tài. Lập có khả năng điểm huyệt, nhất là khi viết về các bạn văn, bởi thế, anh chỉ phảy vài nét mà hiện được người, hiện được cảnh, với giọng văn rất riêng. Đọc nguyên bản trên Blog còn thú vị hơn nhiều, bởi cái khẩu khí đặc biệt của Lập. Những ngôn ngữ vỉa hè, bặm trợn, thậm chí rất tục mà đọc lại không thấy tục. Đây là biệt tài của Lập. Không phải ai cũng làm được và không dễ học được. Tốt nhất các em không nên bắt chước bọ Lập, khi mình chưa đủ vốn văn hóa và sự từng trải, bắt chước dùng của độc, chữ độc rất dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”. Nhà văn Nguyễn Quang Lập chính gốc Ba Đồn (Quảng Bình)đã dấn thân, lăn lóc ờ cửa Việt (Quảng Trị) mang Đời Cát ra phố cổ Linh Đàm Hà Nội và nay thì treo biển Quê choa lên phố mới chung cư thành phồ Hồ Chí Minh. Đọc Nguyễn Quang Lập, tôi thích trao đổi trên của Trần Đăng Khoa và lời bình "Đọc truyện" của Đoàn Minh Phương: "Trong một thế giới có đủ bình tâm, người viết nhỏ hơn người đọc, người đọc nhỏ hơn quyển truyện họ đang đọc, và quyển truyện nhỏ hơn sự đọc. Người viết và người đọc rồi chết, truyện rồi quên. Sự đọc ở lại và làm nên một phần mênh mông trong định nghĩa của việc làm người." Tôi muốn bình thêm: Chỉ có phúc hậu, nhân văn và tình thương yêu ở lại. &lt;/span&gt;   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;BẠN VĂN - VIẾT THEO LỐI KHẨU VĂN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Ngô Minh&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà xuất bản Trẻ vừa ấn hành tập chân dung văn nghệ sĩ viết theo lối văn chương độc đáo của nhà văn Nguyễn Quang Lập có tựa là Bạn văn. Cuốn sách dày 456 trang gồm 74 mục mà Nguyễn Quang Lập viết trong hai ba năm nay. Sách phác thảo gần 100 chân dung văn nghệ sĩ quen biết của nhà văn , có người đã mất, có người đang sống và viết trên khắp cả nước. Đây là những bài đã được in trên báo Tuần San Thanh niên, chuyên mục Giai thoại . Sau đó in  trên blog Quê choa của Bọ Lập trong chuyên mục Bạn văn.  Blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập là một trong ít blog nóng nhất trên thế giới mạng hiện nay. Chỉ mới 3 năm, từ 2009 đến nay, riêng trong mạng wordpress, đã có gần 12 triệu lượt người truy cập của 160 quốc gia trên thế giới. Một trong entries của BlogQuêchoa lôi cuốn công chúng mạng nhất là chân dung văn nghệ sĩ, tức bạn văn. Lối văn chương này Nguyễn Quang Lập gọi là “khẩu văn”, tức là văn nói, một phong cách sáng tạo mới của Lập, rất  phù hợp với cuộc sống nghe nhìn nhiều hơn đọc hiện nay. Đây là cuốn sách thứ hai Lập đến với bạn đọc theo lối văn này. Cuốn trước là Ký ức vụn rất được độc giả chào đón.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Bạn văn có chân dung  người nổi tiếng và người không mấy nổi tiếng , nhưng tất cả đều được vẽ bởi những nét phác thảo hóm hỉnh, sâu sắc mà đậm chất  dân gian nên rất nổi bật. Có cả những câu chửi thề, nói tục. Lập viết tục nhưng không tục, vì đó là “một thứ mắm muối dư vị rất riêng, được Bọ Lập gia giảm có liều lượng vừa đủ  làm cho câu chuyện mặn mòi , làm đậm đà cho nhân vật được nói đến “ ( Lời thưa đầu sách của Phạm Xuân Nguyên). Ví như tính cách mẹ Đốp rất quyết liệt của nữ nghệ sĩ xinh đẹp, chị MYZ trong bài Người đẹp: ”…Một đạo diễn từ Hà Nội vào làm vở, thấy chị thì thích lắm , làm bộ quan trọng , gọi chị ra riêng, nói anh muốn giao vở này cho em, có thích không , chị nói em thích lắm. Ông này nói tối nay đi ăn tối với anh nhé, chị cười  nói ăn tối xong rồi sao nữa anh, ông này cười cười, nói em còn hỏi anh câu đó. Chị nói thôi, để em tụt quần  cho anh chơi ngay bây giờ, ăn uống làm gì cho mất thời giờ. Nói xong thì tụt quần liền. Ông đạo diễn vội vàng quay mặt, bỏ đi liền. Từ đó không dám ho he gì nữa.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  Văn nghệ sĩ là những người lắm tài, nhiều tật, Nguyễn Quang Lập không hề né tránh cái “tật” đó mà viết về nó vừa ngộ nghĩnh, vừa sắc bén, cười ra nước mắt. Mỗi chân dung chỉ ba bốn trang sách khổ 13 x 20 cm, mà người nào ra người nấy, không lẫn và rất dễ đọc, vì ngắn. Trong Bạn văn  có rất nhiều cái tên cứ nhắc đến là muốn mở sách đọc ngay như Trần Dần, Xuân Diệu, Nguyễn Minh Châu, Hữu Thỉnh, Xuân Sách, Phan Tứ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Phùng Quán, Thạch Quỳ, Hoàng Ngọc Hiến , Trần Vàng Sao, Đỗ Trung Quân. Hồng Ánh, Trọng Đài, Trần Đăng Khoa v.v..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  Mỗi người một nét nhấn, rất ngắn, rất hài hước, mà đọc là nhớ như khảm vào tâm trí. Nhà văn Nguyễn Minh Châu luôn thu mình lại , khi đi hội thảo thì :”Vào cuộc người ta nói đông nói tây, anh cứ ngồi khóm róm, nơm nớp sợ người ta gọi đến tên mình, y chang cậu học trò không thuộc bài. Anh nói ông ạ, trên đời này tôi hãi nhất là người ta bắt tôi đi nói chuyện…”.  Còn nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ  xinh đẹp, hay thương  người và cả tin, khi đi sáng tác  ở Nha Trang, có ông nhà văn đeo lấy tán. Dạ không chịu. Thế là “ ông này giả đò đi thẳng ra biển, nói Dạ không yêu anh thì anh chết đây, rồi cứ thế lội ào ào. Chị hoảng quá, hai tay vẫy vẫy như khoát nước, cuống quýt hét ầm lên , nói yêu yêu vô đi vô đi, yêu yêu vô đi vô đi . Viết về tài đọc sách của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Bọ Lập viết :” nó đọc nhanh kinh hoàng…Đọc đâu nhớ đấy, nhớ rất kỹ, rất chi tiết thế mới phục. Cùng một cuốn sách,  mình nhằn mất cả tuần, nó chỉ xơi vài giờ là xong, thế mà động đến chi tiết nào mình đều phải hỏi nó”. Còn nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì  “ Đi đâu có khát nước cháy cổ anh cũng cố chạy về nhà  uống nước chứ chẳng chịu mất cho quán nước một xu, còn bảo vào quán uống chén trà thì anh cười lắc đầu , nói trà ở nhà mình cũng có, vô đó mần chi…”.v.v..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Nguyễn Quang Lập quan sát rất sắc sảo, chỉ một nốt ruồi dưới cằm của ông Tường ( nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) cũng biểu hiện khác nhau tùy theo tình cảm  của nhà văn. “Đêm đó tại Đại học Sư phạm Huế, hàng ngàn  sinh viên kín đặc hội trường lớn đón anh Sơn ( Trịnh Công Sơn). Hiếm khi nào thấy anh Tường xúc động, hồi hộp đến thế, cái nốt ruồi to dưới cằm anh giật giật liên hồi”. Mọi người ngưỡng mộ đến thế, nhưng đến khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn  lên sân khấu chỉ nói vài câu và hát đúng một bài Em là hoa hồng nhỏ, rồi xuống, làm Hoàng Phủ lại không vừa lòng, “ mắt anh Tường thoáng buồn, cái nốt ruồi đứng im phăng phắc” ( Chuyện nhỏ hai người bạn)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  Viết chân dung  hài hước, ngắn thế, nhưng mỗi người Nguyễn Quang Lập cũng lẩy ra được những dấu lặng của  cuộc đời rất xúc động . Giữa thời khăn khó cơm áo, nhà thơ Thạch Quỳ, ông đồ gàn xứ Nghệ thì :”…Hồi này xứ Nghệ có phong trào nuôi hươu sao, một con hươu cái đến mấy chục triệu. Anh khoác vai chị ( chị Nhã, vợ Thạch Quỳ) hôn đánh chụt , nói em có biết anh mơ gì không , anh mơ sáng mai ngủ dậy , bên anh không phải là em mà là một con hươu sao… Chị  không cười, nước mắt rân rấn. Anh cười khấc khấc khấc, chẳng phải cười, nghe như anh cố khạc ra  mấy cục đắng ngắt.”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  Viết về “khẩu văn” của Nguyễn Quang Lập, nhà văn Bảo Ninh cho rằng :” Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ dãi. Đố anh dễ dãi nào viết được như thế….Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi “. Bảo Ninh nói  chí lý. Nhưng tôi lại  muốn nghĩ thêm. Bọ Lập viết dễ ,viết nhanh vì đã phát kiến ra được lối văn “khẩu ngữ” gần gũi với đông đảo người đọc. Chỉ có lối văn này mới tạo ra được phong cách hàihttp://www.blogger.com/img/blank.gif hước, buồn cười mà cuốn hút người đọc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn &lt;a href="http://quechoa.info/2011/08/28/b%E1%BA%A1n-van-vi%E1%BA%BFt-theo-l%E1%BB%91i-kh%E1%BA%A9u-van/"&gt;Ngô Minh viết về Nguyễn Quang Lập&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;KÝ ỨC VỤN MÀ KHÔNG VỤN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Trần Đăng Khoa&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Nhà thơ ơi! Em là một sinh viên Trường Đại học Kinh tế, nhưng lại rất ham đọc sách văn chương từ nhỏ. Hè này, em muốn chọn một số sách để đọc. Nhưng giữa một rừng sách, biết chọn cuốn nào đây? Bạn em mách có cuốn “Ký ức vụn” của nhà văn Nguyễn Quang Lập đang rất “hot”. Nhà thơ có thể giới thiệu đôi lời về cuốn sách này được không? “Ký ức vụn” có đúng là một cuốn sách hay không?. Có nên chọn sách theo dư luận không? Lê Thu Hiền - bimtocdethuong89@yahoo.com &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Quang Lập là nhà văn nổi tiếng từ những năm Tám mươi của…thế kỷ trước với hàng loạt truyện ngắn và tiểu thuyết. Anh còn viết kịch và làm phim. Ở thể loại nào, anh cũng rất “đắt khách”. Phim “Đời cát” do anh viết kịch bản, Thanh Vân đạo diễn, từng đoạt giải cao trong Liên hoan phim quốc tế, đã đưa điện ảnh Việt Nam thoát khỏi vũng ao tù&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Ký ức vụn” là cuốn sách mới nhất của anh. Đấy là một tác phẩm hoàn toàn ngẫu hứng. Hình như trước đó, Nguyễn Quang Lập không định viết cuốn sách này. Ấy là tôi đoán thế thôi. Thoạt đầu, chắc chỉ là một trò chơi. Bọ Lập dựng một cái “quán ảo” mà người đời vẫn quen gọi là Blog để tán gẫu với bạn đọc. Anh không ngờ mọi người đến rất đông. Ngày nào “quán” cũng chật ních người tứ xứ. Họ mê chủ quán như điếu đổ. Mà mê là phải. Vì ông chủ rất vui tính, lại có tài kể chuyện. Mỗi ngày một chuyện, mà toàn những chuyện xảy ra từ cái thời tám hoánh. Đã thế, lại có vẻ như là rất vặt vãnh. Nhớ đâu kể đấy. Chính ông chủ cũng đã gọi chúng là những “ký ức vụn”. Đây không phải trò õng ẹo, giả vờ khiêm tốn mà khối anh kịch sĩ đã làm. Làm rất vụng, mà lại cứ tưởng người đời họ tin. Bọ Lập rất chân thành. Bọ nói thực đấy. Đúng là chuyện vụn thật. Nhưng mà lạ. Những sự việc vặt vãnh, những câu chuyện phất phơ chẳng đâu vào đâu, qua giọng kể của Lập lại hấp dẫn, ấn tượng. Có chuyện thành nỗi ám ảnh. Ký ức vụn mà không hề vụn. Những câu chuyện khơi khơi, tưởng như nói tào lao cho vui, mà thâm trầm, sâu sắc ra trò. Chuyện thế mà không phải thế. Đây là chỗ hơn người của bọ Lập. Bạn đọc tung hô rầm trời. Thế là thành một cuốn sách. Mà lại rất độc đáo. Vì nó chẳng giống bất kỳ một cuốn sách nào trước đó. Khi hình thành cuốn sách rồi, bọ Lập mới bắt đầu sắp xếp, bày biện, như thể ta trưng bày một mâm cỗ. Cuốn sách có mấy mảng chính: “Những người bạn khó quên”, “Vui buồn một thuở”, “Người từng gặp”, “Thương nhớ mười ba” và “Bạn văn”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những năm gần đây, trên thị trường sách đang dần hình thành một thể loại văn chương. Đó là văn chương Blog. Nếu xét trên bình diện này, “Ký ức vụn” là cuốn sách đặc sắc nhất. Vì văn Blog nên rất ngắn gọn. Có truyện dài nhất cũng chỉ vài ba trang. Ngắn có khi mấy trăm chữ. Vậy mà vẫn thành truyện. Có cái như một truyện ngắn. Dẫn dắt có duyên và kết thúc bất ngờ. Không lường trước được. Tài. Lập có khả năng điểm huyệt, nhất là khi viết về các bạn văn, bởi thế, anh chỉ phảy vài nét mà hiện được người, hiện được cảnh, với giọng văn rất riêng. Đọc nguyên bản trên Blog còn thú vị hơn nhiều, bởi cái khẩu khí đặc biệt của Lập. Những ngôn ngữ vỉa hè, bặm trợn, thậm chí rất tục mà đọc lại không thấy tục. Đây là biệt tài của Lập. Không phải ai cũng làm được và không dễ học được. Tốt nhất các em không nên bắt chước bọ Lập, khi mình chưa đủ vốn văn hóa và sự từng trải, bắt chước dùng của độc, chữ độc rất dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều chuyện bọ Lập kể trong “Ký ức vun” là chuyện thật. Những “nhân vật” cũng có thật. Có người là bạn bè thân quen một thuở của Lập. Có người nổi tiếng mà nói tên thì ai cũng biết. Có những người bình dị ta vẫn gặp hàng ngày. Rồi cả những vị khai quốc công thần. Tất cả đều bình đẳng dưới ngòi bút của Lập. Hóm hỉnh. Hài hước. Nhiều khi đọc không nhịn được cười. Nhưng đằng sau tiếng cười, ta có thể ứa nước mắt. Từ thằng bé sứt môi,  ông cụ Hoi, anh cu Hó, con bé ăn ruồi, đến Đại tướng  lừng danh Võ Nguyên Giáp. Tất cả đều rất đẹp. Đằng sau những tình tiết tưởng như thật thà, bâng quơ, là những thân phận, những kiếp người trong cõi đời dâu bể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ký ức vụn là cuốn sách hay. Lại dễ đọc. Và đã đọc rồi thì rất khó quên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Nguồn: Văn học và Tuổi trẻ)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;CHÀO BỌ LẬP HÀ NỘI&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Nguyễn Ngọc Tiến&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người ta bảo nghề văn bạc lắm, mớ chữ nghĩa mình đổ mồ hôi sôi nước mắt cố công đục đẽo tóm lại cũng rơi vào quên lãng, tiền bạc chẳng thu được bao nhiêu từ mớ chữ nghĩa kia. Nhưng mình lại nghĩ khác, nghề văn chẳng bạc chút nào. Dọc đường đời người ta chỉ tìm ba thứ, đó là danh, tiền và tình. Danh tự đến với nhà văn, không cần phải tìm kiếm. Có thể nhà văn không kiếm được tiền nhưng tình là thứ nhà văn luôn luôn có, miễn sao họ là người cầm bút trung thực. Từ tiền dẫn đến tình, tình đó phần nhiều là tình bạc. Từ tình dẫn đến tiền, tiền đó là tiền tri âm, chỉ có tôn cao mình lên không bao giờ làm hoen ố phẩm hạnh của mình. Thế thì sao lại bảo nghề văn là nghề bạc?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm rồi chở cả nhà Bọ Lập ra sân bay vô Sài Gòn chuyển vùng. Lúc bàu đoàn thê tử lốc nhốc kéo đồ đạc đi vào thấy Bọ vẫn đứng ở sảnh nhìn ra. Quần sooc, áo bà ba cộc, đầu trọc, tay chống gậy, rõ nhất là cặp mắt có ánh nhìn rất lạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như là lưu luyến, như là xa xót, như là tiếc nuối, lại như là trút đi một cái thở phào thoát được một việc không thể không làm. Bỗng dùng dằng chẳng đành, bước khỏi xe quay lại. Hình như Bọ cũng đợi thì phải, thấy vung cả tay gậy lẫn tay không gậy. Xiết chặt. Chỉ dám ôm nhanh Bọ một cái, chúc một câu rồi đi luôn. Quay nhìn thấy Bọ vào ga thập thà thập thễnh kiểu đi mà đám trẻ con khu nhà Linh Đàm hay đùa cợt: “Bác đi thế này bao giờ mới đến được Văn Điển hả bác?” chợt cay cay gan ruột. Nước mắt trào ra. Muốn viết một cái gì đó về Nguyễn Quang Lập Hà Nội. Chỉ là Lập Hà Nội thôi nhé.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Lập thành người Hà Nội lúc chưa đến bốn mươi gần hai chục năm trước. Tôi dạo đó mới viết được một vài tập truyện nhìn ông bọ quê Quảng Bình này như nhìn người hành tinh khác. Khủng lắm. Này nhé, đẹp giai đã đành, đi đâu cũng kè kè viện sĩ kiêm vệ sĩ Phạm Xuân Nguyên và vài em vừa có danh vừa trẻ đẹp kề vai áp má. Tức muốn nổ mắt. Thêm nữa là cái hành trang có đến cuối đời tôi nằm mơ cũng không có nổi. Văn xuôi tiểu thuyết, truyện ngắn vài bốn cuốn nhưng tinh thứ ra tấm ra món chỉ riêng tiểu thuyết “Những mảnh đời đen trắng” đã gây nhức dư luận. Đấy là chưa kể vô số vở kịch sân khấu đèn đỏ rực mỗi đêm. Chức tước bét nhất cũng đã từng là phó tổng tờ Cửa Việt. Chao ôi là oai. Vị thế như vậy Lập trở thành một trong nhóm người sáng lập ra tờ Văn Nghệ Trẻ và nhanh chóng bán nhà ở Quảng Trị ra tậu một ngôi nhà ở phố Lò Sũ gần sát Bờ Hồ trung tâm để dắt díu vợ con gia nhập đội ngũ công dân Thủ Đô. Cú mua nhà này là quả đắng đầu tiên Lập xơi được ở Hà Nội. Là ông bạn của một ông bạn nhà thơ ẵm luôn đến một phần ba số tiền mang từ quê ra bằng chiêu môi giới giúp nhưng bí mật cài hoa hồng. Đắng nhưng Lập vẫn cười he he. Phố cổ nhé, phố cổ nhé. Tất nhiên là phố cổ. Lò Sũ cơ mà. Thôi cứ coi như đấy là cái giá dù không rẻ để trở thành người Hà Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Tôi vốn mạnh mẽ trước đám đông nhưng ngồi với người Hà Nội mới này bao giờ cũng bị mất điện. Chả cứ tôi khối ông viết văn trước Lập, danh to hơn Lập, phố cổ hơn Lập nhưng cũng im re vì lối ăn nói sóng gió kiểu miền Trung và tư thế thủ lĩnh của người thành đạt lúc còn quá trẻ nên thừa tự tin. Ngôi nhà phố cổ ( thực thì chỉ có chừng hai chục mét vuông kể cả gác xép trong ngõ vừa hẹp vừa tối) trở thành tụ điểm ăn nhậu của đám nhà văn đánh hơi thấy cùng ngưu cùng mã tìm đến. Tôi trở thành biên kịch hôm nay cũng là nhờ đánh đu ở ngôi nhà phố cổ ấy. Lúc nhậu say Lập hay chỉ dẫn cách viết kịch bản thế này, dựng lít thế kia loạn xì ngậu. Hứng lên Lập rủ thành lập nhóm viết chung quy tụ được nhiều nhà văn nổi tiếng cỡ Nguyễn Quang Thiều… Kịch bản Chuyện làng Nhô của tôi cũng được Lập gợi ý viết từ chính nơi này. Nghĩ lại giờ giật mình, dạo đó ai cũng nghèo sao nhậu dữ đến vậy. Như thể đích cuộc đời chỉ là ăn nhậu. Nhà Lập lúc nào cũng khách khứa ồn ã. Khách thì toàn văn nhân nhưng ăn nói văng mạng, tục tĩu chuyện trên giời dưới bể, nông sâu thầm kín cứ rượu vào lời ra chả kiêng dè giữ kẽ khiến cho chuyện gì thiên hạ cũng tỏ. Vô khối tai bay vạ gió đã xảy đến từ những cuộc nhậu thế này. Khỏi kể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Đang phất với danh phố cổ thì đánh đùng một cái Lập bán nhà. Bán rất nhanh như người ta bán cái xe máy vơ váo được bao nhiêu dồn vào mua căn hộ trăm mét ở Linh Đàm. Cú mua nhà này kéo theo hệ lụy nợ nần đằng đẵng. Tính Lập thế quyết cái gì là làm ngay bất chấp mọi nhẽ. Đang làm báo Văn nghệ thích sang nhà xuất bản Kim Đồng, chỉ sau một tăng nhậu với giám đốc Nguyễn Thắng Vu là quyết luôn. Còn nhiều thứ khác nữa như chính ngay cái chuyện khai tử công dân Hà thành để thành người Sè Goong chính hiệu bây giờ cũng vậy. Nhoằng một cái nhanh như điện là quyết chẳng cần bàn với bất cứ ai. Trừ vợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Khi phim Đời Cát nổi danh thì Lập dính cú ngã xe máy định mệnh khi đi cùng đạo diễn Thanh Vân. Đây có lẽ là cái giá chát nhất của Lập khi trở thành công dân Hà Nội. Chẳng đâm vào ai, chỉ vì phanh gấp tránh một người đi bộ khiến xe đổ. Vân không sao nhưng Lập thì bị quật xuống đường khá mạnh. Đưa cấp cứu ở Việt Đức trong khi vị đạo diễn chạy ngược chạy xuôi lo thủ tục nhập viện thì Lập giãy dụa thế nào lại bị giáng tiếp phát ngã đập đầu từ băng ca xuống nền gạch. Tôi ngờ rằng cú ngã này mới là thủ phạm chính gây di họa liệt nửa người bây giờ cho tác giả Đời cát. Danh tiếng của Lập kéo nhiều người vào bệnh viện thăm anh. Thôi thì từ giám đốc bệnh viện hắt lên đến Bộ trưởng, phó Thủ tướng, từ đảng viên thường đến Trung ương ủy viên, thậm chí là thành viên Bộ chính trị, nhiều không kể xiết. Vô số tao nhân mặc khách, nam thanh nữ tú toàn người có danh có phận nườm nượp vô thăm. Đến mức đám canh giữ hầu hạ bệnh nhân được Lập phong là bạn gốc chúng tôi phát chán. Cứ phiên tôi trực ai là đàn bà, con gái vào thăm tôi đều vờ vẫn giả bộ công việc chăm sóc để cố tình lật tấm drap đắp phần dưới để phô ra bộ tam sự của Lập. Chả mấy khi cho phái đẹp công khai chiêm ngưỡng của quý danh sĩ Hà Nội. Khekhe…Có chuyện thế này, một cô là diễn viên nổi tiếng chắc là nhìn thấy hấp dẫn quá mới đỏ mặt hỏi nhỏ tôi, anh Tiến à, hôn mê sao cái kia của anh Lập lại…khí thế hùng dũng thế. Tôi trợn mắt nói ngọng là vì nó được ồng en. Là sao? Là lồng gen dẫn tiểu chứ sao. Cả cái ống nhựa ngoằng ngoẵng nhét làm lõi cu làm gì mà chả to chả cứng, chả hùng dũng khí thế. Người khỏe được vậy cũng đã vô địch thiên hạ. Cười ré. Tôi đồ chừng cô này chắc là mê Lập lắm mới bạo gan hỏi thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Sau tai nạn Lập chung chiêng mất một dạo. Buồn. Lập kể có lần đã cố sức lết được đến sân thượng nhà Linh Đàm tính gieo mình tự tử cho xong kiếp. Tôi tin điều đó. Chẳng biết người khác thế nào chứ tôi luôn nghĩ đến cái chết kiểu này và đã định sẵn cho mình một thời điểm hợp lý. Lập chuẩn bị nhảy thì nghĩ đến ba đứa con lại thôi. Ứa nước mắt lết xuống nghiến răng nhủ thầm phải sống, cố phải sống để nuôi dạy con cái thành người. Đoạn này thì tôi vốn là một người đầy ý chí vượt khó cũng phải khâm phục mà tôn Lập làm thày. Lập tập gõ máy tính một tay, viết như điên như dại. Dựng cả công ty viết kịch bản để rèn nghề, dạy nghề và mục đích chính là kiếm tiền. Kiếm tiền chữa bệnh, kiếm tiền trả nợ nhà. Trả xong, một ngày đẹp giời bộp một cái lại bán nhà mua tiếp cái khác rộng hơn dù vẫn phải vay nợ. Và bây giờ lại bán để mua nhà phương khác. Kinh khủng. Mình lành lặn cũng chỉ dám 3 lần đập nhà xây trên nền cũ, đằng này…Nể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Mấy năm gần đây tự nhiên Lập nảy ra cái thú chơi blog. Quê Choa lừng danh đưa Lập thành hàng hót nhất nhì thế giới blog mạng xứ Việt. Công nhận viết hay. Khốn nạn cái thân thằng tôi cũng a dua học đòi bờ lốc bờ leo ăn theo. Hôm rồi Lập chào mừng con số mười triệu lượt khách thì tôi cũng ngần ấy thời gian câu được có bảy chục ngàn. Nhờ blog mà Lập có tên mới. Giờ thì ai cũng gọi Lập là Bọ hoặc Bọ Lập hoặc Quê Choa. Thay tên mình được thiên hạ thừa nhận là điều không phải ai cũng làm được. Tài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Bọ Lập tài hoa, hóm hỉnh đại tài về món trào lộng. Viết về Bọ tui cũng định theo lối hài hài hước hước để phác vài nét về người bạn mà tôi yêu mến kính trọng nhưng không hiểu sao nó cứ trầm trầm ngả theo hướng bi. Mệt!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Một lần Bọ bảo, Tiến mày tiểu đường hỏng mẹ nó chim rồi còn cứ hay bốc tướng là sao. Tôi hất hàm hỏi lại vậy Bọ chân cẳng thế kia cái đó thế nào? Vênh mặt hất đầu đầy hãnh diện và cả tự tin: Tốt. Tốt thế nào? Là vẫn chơi tốt nhưng phải nằm ngửa để vợ nó mần. Cố nén cười, nằm thế mất mẹ nó hứng. Biết thế, thử rồi, nhưng người lăn cu chiêng xuống đệm, không được. Cười. Nhưng tự nhiên thấy xệch cả miệng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Năm trước, đột ngột Bọ tuyên bố xanh rờn sẽ bỏ Hà Nội vào Sài Gòn sống. Tôi đã biết tính nên không hề bất ngờ. Bán nhà ngoài này rồi mua nhà trong đó, vẫn chung cư. Có nợ không? Có, nhưng ít thôi. Chẳng biết là mừng hay buồn cho Bọ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Vậy là kết thúc một đời công dân Thủ Đô. Làm người Hà Nội gần hai chục năm Bọ chưa làm được nhiều việc như mong muốn. Vài kịch bản điện ảnh, sân khấu, viết và tổ chức mấy trăm tập kịch bản truyền hình, một cuốn sách khẩu văn sao ra từ blog….quá ít ỏi so với sự nghiệp lừng lẫy thuở chưa về Hà Nội. Làm người Hà Nội gần hai chục năm Bọ bê được cái nhà từ Quảng Trị ra Hà Nội và bây giờ chuyển nó vào Sài Gòn. Làm người Hà Nội gần hai chục năm từ một gã đẹp trai mạnh mẽ cua gái như chớp (lạy giời mụ Hồng vợ Bọ đừng đọc đoạn này) giờ thành người tập tễnh chống gậy,ngủ ngửa. Đừng oán trách Hà Nội. Hà Nội chí ít không bạc khi đãi đằng Nguyễn Quang Lập cái tên Bọ lừng danh.http://www.blogger.com/img/blank.gif&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và có những thằng bạn giặc yêu thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chào Bọ Lập Hà Nội. Wel come to Sài Gòn./.http://www.blogger.com/img/blankhttp://www.blogger.com/img/blank.gif.gif&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2/7/2011&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;P.N.T&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn: Blog Phạm Ngọc Tiến&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đọc thêm:  &lt;a href="http://quechoa.info/category/vi%E1%BA%BFt-v%E1%BB%81-toi/"&gt;Viết về tôi&lt;br /&gt;Blog Quê choa&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC &lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-7568033267442204729?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/7568033267442204729/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=7568033267442204729' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7568033267442204729'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7568033267442204729'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/08/nguyen-quang-lap-trong-mat-ai.html' title='Nguyễn Quang Lập trong mắt ai'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/-9RBDRoHS0Ew/TlsE6DAEC_I/AAAAAAAAIsM/ZxQ5668ilZ8/s72-c/Nguyen%2BQuang%2BLap.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-3354200645466677584</id><published>2011-08-14T12:00:00.005+07:00</published><updated>2011-08-14T17:06:28.818+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='GS. Chu Hảo những bài viết ấn tượng'/><title type='text'>GS. Chu Hảo những bài viết ấn tượng</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-Hft1SohyzLA/TkeYzAm62kI/AAAAAAAAIrU/wJE_ITBH1M4/s1600/GS%2BChu%2BHao.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 334px; height: 271px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-Hft1SohyzLA/TkeYzAm62kI/AAAAAAAAIrU/wJE_ITBH1M4/s400/GS%2BChu%2BHao.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5640645060408826434" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;DẠY VÀ HỌC. GS. Chu Hão mới đây vừa có bài viết "Mong Tổng Bí thư thể hiện dấu ấn cá nhân". Trước đó, ông đã nói và làm nhiều điều tâm huyết, sâu sắc, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của một công dân trí thức đối với đất nước. Tôi lưu lại chuyên mục GS.Chu Hảo những bài viết ấn tượng để đọc và suy ngẫm. (GS Chu Hảo nói lên những mong muốn với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ảnh Trần Hải)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;GS CHU HẢO: "MONG TỔNG BÍ THƯ THỂ HIỆN DẤU ẤN CÁ NHÂN"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bee.net.vn.13/08/2011 GS Chu Hảo mong muốn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện dấu ấn cá nhân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, chiến lược tổng thể và bền vững trong quan hệ đối với Trung Quốc...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là một trong 10 nhà khoa học phát biểu trong buổi gặp gỡ, trao đổi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam sáng 13/8, GS Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri thức nói, "nếu hiểu rộng ra, dấu ấn cá nhân của Tổng Bí thư, thực chất là người lãnh đạo cao nhất của Đất nước, chính là những đột biến quan trọng nhất trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chúng tôi cho rằng Tổng Bí thư không những cần mà là rất cần phải để lại không phải một mà nhiều dấu ấn cá nhân thật đẹp đẽ trong lòng dân".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://bee.net.vn/channel/1983/201108/GS-Chu-HaoMong-Tong-Bi-thu-the-hien-dau-an-ca-nhan-1808332/"&gt;Bee.net.vn trích đăng phát biểu của GS Chu Hảo&lt;/a&gt; về những dấu ấn cá nhân của người lãnh đạo cao nhất của Đảng mà ông mong chờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;" &lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Dấu ấn thứ nhất&lt;/span&gt; mà chúng tôi thiết tha mong muốn ông sẽ để lại là tư tưởng chiến lược được thể hiện trong việc sửa đổi Hiến pháp Năm 1992 đang chuẩn bị tiến hành. Nếu ông chỉ đạo để lần sửa đổi này không phải chỉ là sửa những điều không thật quan trọng và cấp thiết lắm như bỏ HĐND cấp Huyện, hay người dân được trực tiếp bầu Chủ tịch Xã... mà hai điều khác mang tinh đột phá là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1) Nhất thể hoá chức danh Chủ tịch Nước với chức danh TBT của Đảng cầm quyền;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2) Trả lại quyền phúc quyết những vấn đề hệ trọng nhất của Đất nước cho nhân dân thông qua trưng cầu dân ý trực tiếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những điều ấy là phù hợp với thông lệ quốc tế, là mang đậm tư tưởng Hồ chí Minh về Nhà nước pháp quyền, và quan trọng hơn cả là đáp ứng nguyện vọng cháy bỏng của toàn Đảng, toàn Dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Dấu  ấn thứ hai&lt;/span&gt; mà chúng tôi thiết tha mong muốn là sự chỉ đạo quyết liệt việc thưc hiện công cuộc Đổi mới căn bản và toàn diện (thực chất là Cải cách như Tổng Bí thư đã nhấn mạnh ở Hội nghị Đoàn chủ thich MTTQVN sau ĐH XI) nền giáo dục nước nhà. Chúng tôi xin chịu trách nhiện trước Đảng, Nhà nước và toàn xã hội điều khẳng định rằng:  bên cạnh những thành tich như thường được Ngành giáo dục báo cáo bằng các con số ấn tượng, Hệ thống giáo dục quốc dân của chúng ta vẫn đang tiếp tục xuống cấp một cách vô cùng nguy hại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cùng với phát triển Giáo dục và Đào tạo, phát triển Khoa học và Công nghệ cũng được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu. Thế nhưng không có một nền KH&amp;CN nào có thể phát triển trên cơ sở một nền Giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục Đại học, yếu kém như của nước ta hiện nay. Nếu tình trạng này không được nhìn nhận một cách khách quan, trung thực để khắc phục, thì, trước mắt cũng như lâu dài, nước ta sẽ thua kém căn bản và toàn diện so với các nước trung bình khác trong khu vực và trên toàn thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Dấu ấn thứ ba&lt;/span&gt; mà chúng tôi tha thiết mong Tổng bí thư để lại là một Chiến lược tổng thể và bền vững trong quan hệ đối với Trung Quốc, để thế hệ chúng ta và các thế hệ mai sau có thể vừa bảo vệ vững chắc được chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên toàn bộ lãnh thổ và hải phận được thừa nhận theo các công ước quốc tế của nước ta, vừa phát triển được đất nước trong hoà bình hữu nghị lâu dài với các nước láng giềng và toàn thế giới.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Dấu ấn thứ tư&lt;/span&gt; mà chúng tôi thiết tha mong đợi ở Tổng Bí thư liên quan trực tiếp đến nội dung cụ thể của buổi làm việc hôm nay: trong nhiệm kỳ này ông sẽ đưa các chủ trương chính sách của Đảng đối với tầng lớp lao động trí óc (mà ta quen gọi là đội ngũ trí thức) vào thực tiễn cuộc sống, mà cho đến nay phần nhiều vẫn chỉ nằm lại trong các văn kiện mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi cũng tin tưởng rằng, với tư cách một người từng làm công tác nghiên cứu khoa học, ông sẽ mở đầu cho một thời kỳ mới, thời kỳ các cấp lãnh đạo của Đảng thực sự tôn trọng tư duy độc lập; chấp nhận sự đa dạng trong sinh hoạt tinh thần - tư tưởng; lắng nghe và sẵn sàng trao đổi, đối thoại với mọi cá nhân và tập thể có các ý kiến đề cập đến những vấn đề hệ trọng của Đất nước một cách nghiêm túc và xây dựng, kể cả các ý kiến trái chiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài các cơ quan tham mưu khác, chúng tôi tin rằng Liên hiệp các Hội KH &amp; KTVN, với uy tin và khả năng tập hợp các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực khoa học khác nhau của GS Đặng Vũ Minh, cũng sẽ là một địa chỉ đáng tin cậy để đồng chí tham vấn trong khi thực hiện các dấu ấn hết sức có ý nghĩa kể trên"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;GIÁO SƯ CHU HẢO LÊN TIẾNG VỀ VIỆC ĐÀN ÁP DÃ MAN NGƯỜI BIỂU TÌNH&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/giao-su-chu-hao-len-tieng.html"&gt;Blog Nguyễn Xuân Diện&lt;/a&gt;. Thứ năm, ngày 21 tháng bảy năm 2011&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện thân mến,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu Thư ngỏ của các bạn gửi Ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an T/p Hà Nội đã được phúc đáp một cách có trách nhiệm thì không cần công bố bức thư này của tôi. Trong trường hợp ngược lại, đề nghị Lâm Khang cho tôi được chia sẻ với bạn đọc những điều tâm huyết dưới đây. Xin chân thành cám ơn!   CHU HẢO&lt;br /&gt;_________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thưa quý vị và các bạn,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi viết những dòng này gửi quý vị và các bạn trong sự phẫn uất nghẹn ngào khi xem đoạn băng hình ghi cận cảnh người của lực lượng an ninh Thủ đô lạnh lùng và tàn nhẫn đạp vào mặt người tham gia biẻu tình ôn hoà, ngày 17 tháng 7 vừa qua, phản đối các hành động bá quyền ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc trên Biển Đông. Nó còn tệ hại hơn hình ảnh nhân viên an ninh t/p Hô Chí Minh quắp người thanh niên mang ra khỏi đoàn biểu tình hồi đầu tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin quý vị và các bạn cùng lên tiếng cực lực phản đối và lên án hành động hết sức nguy hiểm này!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nó hết sức nguy hiểm ở chỗ, đây không chỉ là hành động vi phạm pháp luật và vô đạo đức; mà còn là một hành vi phản động về mặt chính trị: nó công khai đàn áp những người yêu nước, công khai biểu thị thái độ thù địch đối với những người kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước chống lại âm mưu bá quyền độc chiếm Biển Đông của các thế lực phản động Trung Quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nó hết sức nguy hiểm là bởi vì, nếu chúng ta không kiên quyết ngăn chặn thì lực lượng an ninh vẫn tự khẳng định là "vì dân, của dân" sẽ trở thành lực lượng đàn áp nhân dân một cách thô bạo. Sự đàn áp này khêu ngòi và kích động các hành động bạo lực, có nguy cơ gây mất ổn định chính trị-xã hội vào đúng lúc, hơn bao giờ hêt, chúng ta cần sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội để bảo vệ và phát triển đât nước trong tình hình nóng bỏng hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nó hết sức nguy hiểm còn bởi vì, qua hình ảnh này, toàn thế giới đang nhìn ta nghi ngại: liệu có nên làm bạn với một chính quyền có lực lượng an ninh đối xứ tệ hại như vậy với nhân dân mình?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không! Chúng ta không thể im lặng! Xin quý vị và các bạn hãy cùng lên tiếng! Chúng ta kiên quyết đòi nhà cầm quyền, trước hết là lực lượng an ninh ở Hà Nội,  phải chiụ trách nhiệm trước nhân dân về hành động sai trái này!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hà Nội, ngày 21 tháng 7 năm 2011&lt;br /&gt;CHU HẢO &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;MÙA XUÂN ĐẾN VỚI NHỮNG TẤM LÒNG &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;HOCMOINGAY. Thầy Nguyễn Văn Luật và bạn CapheNet chuyển cho tôi bài viết về GS Chu Hảo và GS Tôn Thất Trình. Tôi thật cảm phục trước tâm nguyện của những người Thầy lớn tuổi vẫn đau đáu chăm lo cho GIÁO DỤC, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ. GS. Tôn Thất Trình thường lưu ý những thông tin mới khoa học công nghệ. GS. Chu Hảo nói : "Trong ba loại người tài giỏi mà xã hội ta cần hiện nay là: 1) Những người lãnh đạo ở các cấp Đảng và chính quyền. Thiếu những nhà lãnh đạo tài ba thì mọi hoạt động khác của xã hội sẽ kém hiệu quả. Ước mong sao ở tất cả các cấp này phải là những người có tầm, có tâm và hết sức chuyên nghiệp. 2) Các nhà doanh nghiệp tầm cỡ. 3) Các nhà khoa học giỏi. Tôi đã cố tình xếp các nhà doanh nghiệp lên trước các bạn đồng nghiệp khoa học và công nghệ ... Đơn giản là bởi vì ngày nay "sức kéo" của thị trường vẫn mạnh hơn "sức đẩy" của khoa học - công nghệ. Ước mong sao cho đất nước ta sớm có một tầng lớp doanh nhân tài ba và giàu lòng yêu nước như các nhà tư sản dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945."&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;BẮNG CẤP KHÔNG PHẢI LÀ THƯỚC ĐO NGƯỜI TRÍ THỨC&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Chu Hảo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TuanVietnam.Net: Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức Chu Hảo học phổ thông ở Trung Quốc, học đại học và làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô cũ. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học ở Pháp. Con đường quan chức của ông cũng dài không kém con đường học tập nghiên cứu: từng đảm nhiệm các vị trí Viện trưởng Viện Công nghệ Vi điện tử (Viện nghiên cứu Công nghệ Quốc gia), Chánh văn phòng Chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ, rồi Trưởng ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đến lúc đã có thể nghỉ ngơi, ông lại tiếp tục chọn cho mình con đường mới nhiều thử thách: thành lập NXB Tri Thức với tôn chỉ là góp phần phổ biến những kiến thức tinh hoa của thế giới tại nước nhà. Người từng dành nhiều công sức để đưa Internet vào Việt Nam này lại một lần nữa mong mỏi nguồn tri thức mới mà mình góp phần mang về sẽ đúc nên những viên gạch đầu tiên cho nền kinh tế tri thức của đất nước. Tháng 9/2009 cũng là kỷ niệm bốn năm ngày thành lập NXB và nhân dịp họp mặt cộng tác viên tại TP. Hồ Chí Minh, ông đã dành cho chúng tôi một cuộc trò chuyện cởi mở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Được biết thời gian gần đây và sắp tới, NXB Tri Thức có nhiều hoạt động văn hóa như tổ chức kỷ niệm và in kỷ yếu về các danh nhân thế giới; phối hợp tổ chức những hoạt động tọa đàm; thảo luận các chủ đề về thói quen đọc sách, giáo dục, kinh tế; nói chuyện với sinh viên các trường đại học... Xem ra hoạt động của NXB Tri Thức không chỉ là tổ chức dịch và xuất bản sách?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong số những việc bạn vừa kể, có nhiều việc lẽ ra thuộc trách nhiệm tổ chức của Nhà nước, nhưng do không thấy ai làm nên chúng tôi xin tự nguyện làm thôi. Năm 2009 đã được Liên Hiệp Quốc tuyên bố là "Năm Vũ trụ học", kỷ niệm 400 năm nhà bác học Galileo Galilei người Ý phát minh ra kính viễn vọng, cũng là kỷ niệm 200 năm sinh nhà khoa học Charles Darwin người Anh. Các nước trên thế giới có nhiều hoạt động để tưởng nhớ hai danh nhân đã có đóng góp rất lớn cho loài người này, còn tại Việt Nam cho đến nay các cơ quan hữu quan hầu như chưa hề nhắc tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi cũng đã từng làm như vậy đối với 100 năm Đông Kinh nghĩa thục (2007), 100 năm Khai sáng Thuyết Lượng tử (2008); và đang chuẩn bị làm cuốn Lev Tolstoi nhà Văn hóa và Tư tưởng để cùng thế giới kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông (2010). Cho đến nay, các cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những hoạt động văn hóa như thế. Tổ chức kỷ niệm, in kỷ yếu về các danh nhân là việc làm thiết thực để truyền bá tri thức và nuôi dưỡng tình yêu đối với nghiên cứu khoa học và tôn vinh các giá trị văn hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với chúng tôi, ngay cả dịch sách cũng không đơn thuần là công việc kỹ thuật mà đó là hoạt động văn hóa. Dịch thuật góp phần rất lớn trong việc làm nên tính đa dạng văn hóa của xã hội tri thức. Đặc biệt, việc dịch những sách có hàm lượng tri thức cao sẽ tạo ra những thuật ngữ mới, mang về nhiều khái niệm mới. Nhờ đó, ngôn ngữ và vốn văn hóa nước nhà được làm giàu thêm đáng kể. Dịch giả ngoài việc nắm vững ngoại ngữ phải tinh thông ngôn ngữ Việt, phải có kiến thức văn hóa sâu rộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Nhưng cũng vì mang về những khái niệm quá mới đó mà thời gian gần đây, một số sách của NXB Tri Thức bị xem là "có vấn đề"?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bất cứ nhà xuất bản nào xuất bản những sách giới thiệu tri thức cổ kim nước ngoài đều dễ bị xem là "có vấn đề" chứ không riêng NXB Tri Thức. Sách của NXB Tri Thức (kể cả sách liên kết) phần lớn là dịch từ tác phẩm nước ngoài nên có những chỗ quan điểm của các tác giả không phù hợp với quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tôi tin là trong quá trình phát huy dân chủ theo đường lối của Đảng, cùng với quá trình đổi mới thì phạm vi của "vùng nhạy cảm" đã và sẽ ngày càng được thu hẹp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đây, cũng nhờ những nguồn tham khảo kiến thức và lắng nghe, mà Đảng đã đi đầu trong việc thay đổi tư duy, quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hay cho đảng viên làm kinh tế tư nhân... Ngoài ra, muốn hội nhập quốc tế thì phải biết thế giới quanh ta nghĩ gì và phải chấp nhận sự đa dạng văn hóa. Hơn nữa, những sách chúng tôi chọn đều là những kiến thức tinh hoa nhân loại, không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn cần thiết cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước trong tương lai. Chừng nào xã hội còn tồn tại, những sách này sẽ vẫn còn hữu ích.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;&lt;br /&gt;- Ông thường dẫn lời của Karl Marx rằng trí thức là người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến về những vấn đề trong xã hội. Vậy theo ông, thế nào gọi là đủ tri thức và làm thế nào có đủ tri thức để có chính kiến về những vấn đề trong xã hội?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tùy từng giai đoạn lịch sử, xã hội càng phát triển, càng phức tạp thì đòi hỏi trình độ của trí thức càng phải cao hơn. Trước 1945, một thầy giáo tiểu học trường làng đã có thể được coi là trí thức vì đã đủ trình độ để hiểu biết và có thể thảo luận về những vấn đề xã hội thời đó. Bây giờ một người tốt nghiệp đại học, thậm chí thạc sĩ, tiến sĩ cũng chỉ là người lao động trí óc nếu không có nhận thức đúng đắn về thời cuộc. Bằng cấp không phải là thước đo người trí thức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một nền giáo dục tốt, một người học hết chương trình giáo dục phổ thông tiên tiến (chứ không phải như của ta hiện nay!) cũng có thể trở thành trí thức nếu có sự quan tâm và luôn tự đặt ra những câu hỏi về các vấn đề xã hội. Rồi đi tìm câu trả lời qua sách vở kết hợp với chiêm nghiệm thực tế để có thể phản biện và phân tích một cách khoa học và trung thực những bất cập trên tinh thần xây dựng và thiện chí, có sức thuyết phục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cao hơn nữa là đề xuất được phương án khắc phục vấn đề. Chẳng hạn, đến năm 1945 một số trí thức nước ta như GS Nguyễn Văn Chiển (mới từ trần tháng trước) vừa học xong bậc đại học, GS Hoàng Tụy mới hết tú tài, còn nhà văn Nguyên Ngọc thì chưa hết tú tài... Sau đấy, họ hoàn toàn tự học, tự trau dồi tri thức và nhân cách của mình, với cái nền vững chắc có được từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, họ trở thành những trí thức có rất nhiều đóng góp giá trị cho đất nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Vậy theo ông, đâu là tiêu chuẩn đánh giá trí thức?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiêu chuẩn đánh giá người trí thức không phải là trình độ chuyên môn mà là tầm nhìn của người đó có vượt lên hẳn tầm nhìn chung của quần chúng hay không. Dựa trên tiêu chí đó, theo tôi nước ta chỉ có một số cá nhân trí thức chứ chưa có tầng lớp trí thức với lý tưởng, quan niệm riêng và có sự tranh luận, thảo luận một cách công khai, thẳng thắn và dân chủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những năm gần đây, một nhóm trí thức Nga đã có những nghiên cứu, thảo luận rộng rãi và nghiêm túc về thực trạng giới trí thức nước này trong gần một thế kỷ qua (xin xem quyển Về trí thức Nga NXB Tri Thức 2009). Họ đã đi đến kết luận rằng tầng lớp trí thức Xô viết thực chất chỉ là những người lao động trí óc chứ chưa phải là tầng lớp trí thức theo đúng nghĩa là có tầm nhìn và hiểu biết xã hội vượt trội. Chúng ta học hỏi Liên Xô cũ rất nhiều về các mô hình giáo dục - đào tạo và tôi cảm thấy tầng lớp "có học" của nước ta có nhiều điểm, nhiều vấn đề rất giống họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, để biết tầng lớp có học của Việt Nam có trình độ nhận thức, có tầm nhìn và hiểu biết xã hội ở mức nào thì phải cần những nghiên cứu cụ thể. Liên Xô đã làm việc này, Trung Quốc cũng bắt đầu làm còn ở Việt Nam thì vẫn chưa.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;&lt;br /&gt;- Làm thế nào để hình thành tầng lớp trí thức theo tiêu chí vừa nói, thưa ông?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một xã hội bình thường, tầng lớp trí thức được hình thành theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Trong xã hội, ngoài số đông học để làm giàu, học để làm quan, vẫn thường có một tỷ lệ người nhất định có sự ham học hỏi và coi việc học để nâng cao nhận thức là niềm vui tự thân. Ngoài cơ chế và tính dân chủ để trí thức có môi trường thảo luận như đã nói ở trên, điều quan trọng là cần có nền giáo dục lành mạnh để một người học hết phổ thông là đã có thể tự đọc sách, tự nghiên cứu để trau dồi kiến thức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nền giáo dục ở các nước tiên tiến dạy cho học sinh thói quen đọc sách và thảo luận về sách. Ở cấp phổ thông, học sinh đã biết phần nào những kiến thức nhập môn để lên đại học sẽ nghiên cứu sâu. Còn ở nước ta, nhiều học sinh giỏi khi thi đậu đại học rồi mà vẫn chưa hề nghe đến các sách nhập môn của chính ngành mình sẽ học ở đại học.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;&lt;br /&gt;- Theo ông thì phẩm chất và trình độ của tầng lớp trí thức có vai trò thế nào trong việc tạo nên số phận của một đất nước?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chắc chắn là có vai trò rất lớn. Có thể làm một ví dụ so sánh: cách đây hơn một trăm năm, trước sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây, nước Nhật thời Minh Trị đã thực hiện canh tân, nỗ lực tiếp nhận những kiến thức tinh hoa của thế giới tạo nên một tầng lớp trí thức có tiếng nói và có tầm nhìn bao quát được thời cuộc, đưa nước Nhật trở thành quốc gia hùng mạnh ở châu Á.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau năm 1945, Nhật Bản có thể vươn lên một cách thần kỳ từ đống tro tàn là nhờ xã hội vẫn giữ được tầng lớp trí thức có tầm nhìn xa và tâm huyết, đưa ra những chiến lược phục hồi để hơn 30 năm sau đất nước họ trở thành cường quốc. Tại Trung Quốc thế kỷ XIX, vì đóng cửa với thế giới nên việc truyền bá tri thức diễn ra sau Nhật 50 năm và không tạo được tầng lớp trí thức đủ mạnh để tồn tại qua những biến động thời cuộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó cũng là lý do xã hội Trung Quốc giai đoạn tiếp theo xảy ra nhiều bi kịch như cách mạng văn hóa và kinh tế kém phát triển hơn Nhật Bản nhiều. Tầng lớp trí thức là bộ phận nhận thức, là bộ não của cơ thể xã hội. Não trạng ù lỳ thì mắc sai lầm dẫn đến bi kịch là chuyện dễ xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã có nhiều bài học cho thấy để đưa đất nước ra khỏi khó khăn, tầng lớp trí thức phải có tầm nhìn xa và tính quyết đoán cao. Ông Asher, Chủ tịch Degem - Tập đoàn điện tử hàng đầu của Israel đã kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện thực tế: Gần 60 năm trước, khi Nhà nước Israel mới được thành lập, những người Do Thái lưu lạc khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng đất nước riêng của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Israel, sau khi tham khảo ý kiến của những người bạn trí thức đã xin được gặp ngay Thủ tướng để trình bày đề án xây dựng 10 trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel, với lý do: Nhà nước Do Thái lúc bấy giờ (năm l950) chỉ có người đi buôn chứ không có người làm kỹ thuật và nhà nước ấy sẽ lại tiêu vong nếu không có khoa học - kỹ thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thủ tướng Israel lúc đó là một người có tầm nhìn xa và dám quyết. Ngay trên bàn ăn sáng hôm ấy với Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đã quyết định xây dựng năm trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel (vì chỉ đủ kinh phí xây dựng năm trường). Ngày nay, Israel đã có nền khoa học kỹ thuật rất phát triển, thu nhập bình quân hơn 33 ngàn USD/đầu người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Từng đảm trách cương vị Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông băn khoăn điều gì nhất trong nền khoa học nước nhà?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là nghiên cứu khoa học tại nước ta hiện nay chưa được chú ý đúng mức. Hẳn chúng ta còn nhớ việc ra quyết định sai lầm trong cơn bão Chanchu năm 2008, và cũng có thể là như vậy đối với cơn bão mới vừa đây đã dẫn đến tác hại nghiêm trọng như thế nào. Đây chắc chắn là hậu quả của sự thiếu được đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản về khoa học khí quyển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chẳng những khoa học khí quyển, mà còn nhiều bộ môn khoa học cơ bản khác của nước ta cũng không được chú trọng đúng mức. Về việc này, các nhà khoa học, có uy tín ở trong và ngoài nước đã nhiều lần cảnh báo, nhưng cũng ít được lắng nghe... Tôi e rằng đất nước sẽ còn phải trả giá đắt trong nhiều năm nữa!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thực tế, chỉ những nghiên cứu ứng dụng vụn vặt, nhưng có hiệu quả tính được ra bằng tiền là đang được khuyến khích, còn những nghiên cứu cơ bản thì từ lâu đã dần dần bị bỏ rơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái độ nhấn mạnh kỹ thuật (công nghệ), coi nhẹ khoa học (đặc biệt là các nghiên cứu cơ bản) là tình trạng phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển. Tâm lý sốt ruột muốn nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, cùng với nguồn lực eo hẹp và sự thúc bách của cơ chế thị trường đã làm cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ở những nước này dễ có khuynh hướng ưu tiên cho những đầu tư sớm có hiệu quả theo kiểu "mì ăn liền".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu tư cho công nghệ dễ thấy hiệu quả hơn là đầu tư cho khoa học nhưng nếu không có một trình độ khoa học vững vàng thì không thể phát triển công nghệ một cách có hiệu quả bền vững. Nước ta còn nghèo thì phải cân nhắc thật kỹ tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu khoa học và cho phát triển công nghệ để vừa dần dần xây dựng tiềm lực khoa học mạnh mẽ, vừa tiến hành đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả. Gần đây tôi vui mừng nhận thấy Bộ Khoa học và Công nghệ đã quan tâm hơn nhiều đến khu vực nghiên cứu khoa học cơ bản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một điều đáng buồn khác là Việt Nam với gần 90 triệu dân mà chưa có một tạp chí phổ biến khoa học nào kiểu như La recherche (Pháp), New scientist (Mỹ) v.v... Các cơ quan nghiên cứu và các đại học của Nhà nước không quan tâm và không cấp kinh phí đã đành, khi chúng tôi đề nghị được liên doanh với Tập đoàn IDG của Mỹ để xuất bản một tạp chí như vậy thì lại không được vì luật không cho phép liên doanh với nước ngoài để xuất bản báo chí. Trong khi tại Trung Quốc, có đến 30 đầu báo khoa học liên doanh với IDG đã ra đời.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;&lt;br /&gt;- Vậy muốn thay đổi thực trạng này chúng ta nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ giáo dục và đào tạo! Ngày nay, không nền kinh tế nào có thể phát triển bền vững nếu không dựa vào khoa học và công nghệ của chính mình. Khi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đúng như lời tiên đoán của Karl Marx từ giữa thế kỷ XIX thì bản thân các nhà khoa học - công nghệ, trong một số lĩnh vực, cũng đồng thời là nhà sản xuất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tiềm năng khoa học và công nghệ bao giờ cũng là chỗ dựa vững chắc của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn lại lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện và suy vong của các nền văn minh thường gắn liền với khả năng nắm bắt hoặc bỏ lỡ cơ hội đối với các kỹ thuật mới. Ở thời đại ngày nay, điều ấy càng đúng. Khi thông tin và tri thức là tài nguyên quan trọng nhất thì tài nguyên con người với tiềm năng trí tuệ cao là quý giá nhất. Đó là ai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước hết, đó là các nhà khoa học - công nghệ giỏi. Muốn có các nhà khoa học - công nghệ giỏi thì ưu tiên hàng đầu là phải tập trung mọi nỗ lực để xây dựng một nền giáo dục quốc dân lành mạnh và hiệu quả. Không có một nền khoa học và công nghệ nào có thể phát triển được trên cơ sở một nền giáo dục như của nước ta hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Là người chủ trì tổ chức Hội thảo hè 2008, một hội thảo để giới trí thức trong và ngoài nước có cơ hội gặp gỡ, thảo luận về những vấn đề của đất nước, theo ông, trí thức Việt Nam trong và ngoài nước có tầm nhìn và trình độ như thế nào? Có đủ sức giúp đất nước giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Số lượng trí thức trong và ngoài nước trên tổng số dân nước ta còn ít so với các nước khác, nhưng tầm nhìn và trình độ của nhiều người trong số ít ỏi đó có lẽ cũng không thua kém. Vấn đề là cơ chế dường như chưa đủ để cho người trí thức phát huy hết năng lực của họ. Tôi tin chúng ta đủ khả năng giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay nếu biết tổ chức, quản lý và quan trọng hơn là cần tạo điều kiện bình đẳng cho mọi tiềm năng được giải phóng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;- Một câu hỏi cuối, ông nghĩ gì về doanh nhân Việt Nam?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi ngưỡng mộ sự năng động và ý chí làm giàu một cách chân chính của đại đa số trong số họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ba loại người tài giỏi mà xã hội ta cần hiện nay là: 1) Những người lãnh đạo ở các cấp Đảng và chính quyền. Thiếu những nhà lãnh đạo tài ba thì mọi hoạt động khác của xã hội sẽ kém hiệu quả. Ước mong sao ở tất cả các cấp này phải là những người có tầm, có tâm và hết sức chuyên nghiệp. 2) Các nhà doanh nghiệp tầm cỡ. 3) Các nhà khoa học giỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi đã cố tình xếp các nhà doanh nghiệp lên trước các bạn đồng nghiệp khoa học và công nghệ của mình mà không lo không được sự đồng tình của họ. Đơn giản là bởi vì ngày nay "sức kéo" của thị trường vẫn mạnh hơn "sức đẩy" của khoa học - công nghệ. Ước mong sao cho đất nước ta sớm có một tầng lớp doanh nhân tài ba và giàu lòng yêu nước như các nhà tư sản dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;&lt;br /&gt;- Xin cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện thú vị này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuanvietnam.net theo Cẩm Tú (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;&lt;br /&gt;DẠY VÀ HỌC &lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-3354200645466677584?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/3354200645466677584/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=3354200645466677584' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3354200645466677584'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/3354200645466677584'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/08/gs-chu-hao-nhung-bai-viet-tuong.html' title='GS. Chu Hảo những bài viết ấn tượng'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-Hft1SohyzLA/TkeYzAm62kI/AAAAAAAAIrU/wJE_ITBH1M4/s72-c/GS%2BChu%2BHao.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-7113986342637986322</id><published>2011-07-07T11:12:00.004+07:00</published><updated>2011-07-07T13:32:45.653+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Kỳ tích từ cây lúa'/><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='củ khoai ở Hòn Ðất'/><title type='text'>Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/-CNirJ2ADsh4/ThVD1k83a5I/AAAAAAAAIh0/t61f3EcxqTI/s1600/Lua%2Bkhoai%2BHon%2BDat.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 300px;" src="http://1.bp.blogspot.com/-CNirJ2ADsh4/ThVD1k83a5I/AAAAAAAAIh0/t61f3EcxqTI/s400/Lua%2Bkhoai%2BHon%2BDat.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5626477897200397202" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;DẠY VÀ HỌC. Báo Nhân Dân Online ngày 7.7.2011 đăng bài của Việt Tiến &lt;a http://www.blogger.com/img/blank.gifhref="http://nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/doi-song/i-s-ng-tin-chung/k-tich-t-cay-lua-c-khoai-hon-t-1.302884?localLinksEna"&gt;Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất&lt;/a&gt; giới thiệu về những điển hình sản xuất lúa khoai giỏi tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang. Đây là vùng đất nghèo, nhiễm phén mặn trong rốn lũ của vùng tứ giác Long Xuyên, nơi xứ Hòn với tác phẩm văn học Hòn Đất của Anh Đức nổi tiếng. Nhờ hệ thống kênh ông Kiệt thời nay nối với kênh Vĩnh Tế của thời trước đã quy tụ dân nghèo về cùng chung sức, chung lòng né lũ, thau chua,rữa phèn, khai hoang, lấn biển. (Kênh xáng là nguồn nước tưới cho những cánh đồng ở Hòn Ðất , Ảnh Việt Tiến). Tại đây những nông dân ưu tú như anh Đỗ Quý Hạo tại ấp Hiệp Lợi,xã Mỹ Hiệp Sơn đã trồng khoai lang đạt năng suất và lợi nhuận cao, cung cấp cho thị trường hàng năm hơn 2.500 tấn khoai lang các loại (ảnh trên); anh Nguyễn Văn Tính ở ấp Tân Hưng xã Mỹ Lâm đã lai tạo thành công những giống lúa HĐ1, HĐ6, HĐ8, HĐ9 ... cung cấp cho thị trường hàng năm gần một nghìn tấn lúa giống. Và những người khác nữa... Huyền thoại về những con người cần cù, cặm cụi trên đồng ruộng để làm đất sinh sôi, nâng cao đời sống người dân đang làm nên kỳ tích. Ngày 12.7 tới sẽ có diễn đàn cây lúa tại An Giang, tôi náo nức ước mong được về dạy và học cùng với họ(HK)      &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;KÝ TÍCH TỪ CÂY LÚA, CỦ KHOAI Ở HÒN ĐẤT &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/-8YfpVIfjRaE/ThVDNGPQ8ZI/AAAAAAAAIhs/yRZJ_lh4C90/s1600/Kenh%2Bxang%2BHon%2BDat.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 235px;" src="http://4.bp.blogspot.com/-8YfpVIfjRaE/ThVDNGPQ8ZI/AAAAAAAAIhs/yRZJ_lh4C90/s400/Kenh%2Bxang%2BHon%2BDat.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5626477201761300882" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Kênh xáng là nguồn nước tưới cho những cánh đồng ở Hòn Ðất , Ảnh Việt Tiến)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Xứ Hòn là tên gọi khác của huyện Hòn Ðất (Kiên Giang), một huyện nằm trọn trong vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên. Ở đây có ba hòn núi nổi lên giữa đồng bằng là Hòn Ðất, Hòn Sóc và Hòn Me. Ðất nghèo giờ đã làm nên những kỳ tích chính từ hạt lúa, củ khoai, góp phần làm vang danh xứ sở.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Ðất nghèo làm nên kỳ tích&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hòn Ðất là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Kiên Giang, gồm 14 xã, hai thị trấn. Ðịa hình có đồi núi, biển, đồng bằng. Ðây là vùng ngập lũ của Tứ giác Long Xuyên, nên đất đai chỉ mới được thuần hóa thời gian gần đây. Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Hòn Ðất Phan Văn Tám cho biết: Do đất nhiễm phèn, mặn rất nặng, cho nên mãi đến những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, Hòn Ðất mới đưa vào trồng lúa được một phần nhỏ diện tích, nhưng cũng chỉ canh tác được một vụ. Một diện tích đất rộng lớn trồng cây tràm, đào... hoặc bỏ hoang. Ðến khi có chủ trương khai phá vùng Tứ giác Long Xuyên, Hòn Ðất lại là huyện nghèo của tỉnh, khi những hộ nghèo từ khắp các nơi tập trung về nhận đất khai hoang, phục hóa. 'Người đến nhận đất rất đông, nhưng sau đó thưa thớt dần. Làm ăn thất bát, nhiều hộ 'bỏ của chạy lấy người', tìm nơi khác lập nghiệp, đồng đất lại hoang vắng' - đồng chí Phan Văn Tám nhớ lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên những con lộ nhựa, tôi vào sâu bên trong các xã phía bắc lộ, giáp với tỉnh An Giang (phía nam lộ giáp Biển Tây), một bên là kênh xáng, bên là nhà dân. Sau nhà là cánh đồng mênh mông, lúa hè thu đang thì con gái. Con lộ còn là con đê, vừa giao thông vừa ngăn dòng nước lũ từ kênh xáng không tràn lên cánh đồng. Khoảng một km, có một cái cống hoặc cầu. Hằng năm, vào mùa lũ nước từ thượng nguồn đổ về. Trước kia gây ngập lụt, nhưng nay nước mang phù sa về bồi đắp cho cánh đồng và mang tôm cá cho người dân. Ðồng chí Phan Văn Tám khẳng định: Nông nghiệp Hòn Ðất nói riêng và vùng Tứ giác Long Xuyên nói chung có được thành quả hôm nay là nhờ chủ trương 'sống chung với lũ' của Ðảng và Nhà nước. Sau khi các công trình thoát lũ ra Biển Tây gấp rút được hoàn thành, nhất là những công trình thủy lợi sau khi đưa vào sử dụng đã phát huy được hiệu quả rõ rệt. Những con kênh dọc, ngang tháo chua, rửa phèn, đưa phù sa về với đất. Những con đập, cái cống ngăn nước mặn xâm nhập, giữ nước ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng. Những con đê đắp cao hơn đỉnh lũ cao nhất, bảo đảm hầu hết diện tích đất sản xuất được hai vụ lúa ăn chắc. Diện tích đất trồng lúa hai vụ tăng hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn ha mỗi năm. Những khu rừng sản xuất kém hiệu quả kinh tế được chuyển sang trồng lúa. Một diện tích lớn đất các doanh nghiệp được giao khoán không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích được thu hồi giao cấp lại cho dân nghèo. Hòn Ðất hiện đã có gần 73 nghìn ha đất trồng lúa. Nếu tính chung đất nông nghiệp, Hòn Ðất có hơn 98 nghìn ha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Nguyễn Văn Huề ở xã Nam Thái Sơn đang sở hữu gần một nghìn công ruộng cho rằng, nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên cất cánh còn nhờ việc Nhà nước đẩy mạnh giao khoán ruộng, cấp quyền sử dụng đất cho dân. Thế chấp vay tiền ngân hàng và từ các chính sách hỗ trợ, nông dân đầu tư mạnh mua cơ giới, áp dụng giống mới, cho nên năng suất, chất lượng lúa không ngừng tăng lên. Vụ đông xuân năng suất bình quân đã hơn 7,2 tấn, vụ hè thu cũng gần 5 tấn/ha. Nhiều hộ nông dân ở Hòn Ðất có thu nhập vài trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng mỗi năm. Từ một huyện thiếu lương thực, Hòn Ðất đã vươn lên trở thành một huyện sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh, với diện tích, sản lượng đứng đầu. Trong đó, sản lượng gần chạm mốc 900 nghìn tấn/năm, chiếm một phần tư sản lượng lúa toàn tỉnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Ðưa cây lúa, củ khoai vươn xa&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể vùng Tứ giác Long Xuyên có thành quả lớn trong nông nghiệp, đóng góp không nhỏ thuộc về những người nông dân không chịu đầu hàng hoàn cảnh, cải tạo đồng đất khó, cống hiến những thành quả lao động của mình để tạo nên những kỳ tích. Vượt qua chín cầu cống, tôi mới đến được trang trại khoai lang Ba Hạo, giữa một cánh đồng xanh mênh mông thuộc ấp Hiệp Lợi, xã Mỹ Hiệp Sơn. Chủ trang trại là ông Ðỗ Quý Hạo (Ba Hạo) quê ở Thái Bình, vào Kiên Giang lập nghiệp từ năm 1980. Với bản lĩnh của một người lính, tính cần cù chịu khó của một nông dân, ông đã tạo dựng một cơ ngơi đồ sộ từ hai bàn tay trắng. Ông Ba Hạo cho biết: Trang trại khoai lang của ông có quy mô hơn 50 ha, được đắp đê bao khép kín, bảo đảm an toàn sản xuất suốt cả năm. Hầu hết các công đoạn đánh luống, bỏ phân, chăm sóc, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch... đều bằng máy móc do chính ông cải tiến làm ra. Hiện sản xuất khoai lang ở đây đang từng bước thực hiện lộ trình Global GAP. Mỗi năm trang trại cung cấp cho thị trường trong nước và nhiều nước trên thế giới hơn 2.500 tấn khoai lang các loại. Giữa vùng đất phèn, ngập lũ của Tứ giác Long Xuyên, ông Ba Hạo lập một thư viện với hàng nghìn sách nông nghiệp, phòng thí nghiệm mi-ni, phòng in-tơ-nét miễn phí, quản lý quy trình sản xuất bằng máy vi tính, lập trang tin điện tử quảng bá sản phẩm làm ra... Những sáng kiến của ông đã được nông dân trong vùng áp dụng ngay trên đồng ruộng, được các nhà khoa học đánh giá cao. Năm rồi, nông dân Ðỗ Quý Hạo vinh dự được tham dự Ðại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII và được bầu vào Ðoàn Chủ tịch của Ðại hội, được giao lưu với các nhà khoa học danh tiếng.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm có nông dân Nguyễn Văn Tính được nhiều người đặt cho biệt danh 'kỹ sư nông dân' vì đã lai tạo thành công nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của nông dân. Ông Tính bộc bạch: 'Trước đây, tôi trồng lúa bằng các loại giống như: 98, 99, 1960, AS996... năng suất ổn định nhưng nhiều nhược điểm. Vì vậy, tôi quyết chí tìm tòi để lai tạo giống lúa mới'. Sau thời gian nghiên cứu, ông Tính đã cho ra đời giống lúa mới HÐ1 (Hòn Ðất 1). Sau khi trồng thử nghiệm, giống HÐ1 được đánh giá có nhiều đặc tính ưu việt được nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đưa vào sản xuất trên diện tích lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ưa chuộng, thu mua và xuất sang nhiều nước trên thế giới. Ngoài HÐ1, ông Tính còn lai tạo thành công một số giống lúa mới như HÐ6, HÐ8, HÐ9. Nông dân Nguyễn Văn Tính được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cấp giấy chứng nhận Ðiển hình sáng tạo Việt Nam về công trình lai tạo giống. Mỗi năm, trại lúa giống của ông Tính cung cấp ra thị trường gần một nghìn tấn giống. &lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Phát triển nông nghiệp toàn diện&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy có bước phát triển vượt bậc, nhưng nông nghiệp của Hòn Ðất chưa phát triển đồng bộ giữa các vùng. Một diện tích đất không nhỏ ở phía nam lộ bị mặn xâm nhập, cây trồng bị thiệt hại. Nguyên nhân do nhiều đoạn rừng phòng hộ bị vỡ, một vài cống đập vận hành chưa linh hoạt, cho nên xảy ra mâu thuẫn giữa người trồng lúa và người nuôi thủy sản. Trong khi đó, việc rà soát của chính quyền và các cơ quan chuyên môn chậm nên việc điều chỉnh quy hoạch không kịp thời. Việc liên kết trong sản xuất cũng chậm triển khai nên người dân gặp khó khăn về vốn ở đầu vụ và đầu ra cho sản phẩm vào cuối vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo đồng chí Phan Văn Tám, thời gian tới Hòn Ðất vẫn ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, nhưng sẽ theo hướng toàn diện. Ðối với cây lúa, phấn đấu tăng trên cả ba mặt: diện tích, năng suất và chất lượng. Ðể diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt hơn 147 nghìn ha, trong đó vụ hè thu đạt hơn 72,5 nghìn ha, tổng sản lượng lương thực cả năm đạt hơn 900 nghìn tấn, Hòn Ðất sẽ triển khai nhanh công tác điều chỉnh quy hoạch, căn cứ vào đó để chuyển đổi sản xuất. Nhân rộng một số mô hình sản xuất có hiệu quả; chuyển đổi thêm 3,5 nghìn ha đất rừng sản xuất kém hiệu quả sang trồng http://www.blogger.com/img/blank.giflúhttp://www.blogger.com/img/blank.gifa. Ngoài ra, Hòn Ðất đang liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, các doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp để xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao với diện tích 20 nghìn ha để phục vụ nhu cầu xuất khẩu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau hơn 25 năm đổi mới, giờ nhắc đến xứ Hòn người ta không chỉ nhớ đến tấm gương anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của chị Sứ, nhân vật chính trong tác phẩm Hòn Ðất mà nhà văn Anh Ðức lấy nguyên mẫu từ nữ anh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng để xây dựng, mà còn nhớ đến một vùng nông thôn mới tươi đẹp, đất đai trù phú nằm bên bờ Biển Tây. Ở đó có những 'kỹ sư nông dân' đã đưa hạt lúa, củ khoai quê hương tìm được thế đứng cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả những thị trường lớn trên thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Bài và ảnh: VIỆT TIẾN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;NGỌC PHƯƠNG NAM&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://dayvahoc.blogspot.com"&gt;DẠY VÀ HỌC&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-7113986342637986322?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/7113986342637986322/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=7113986342637986322' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7113986342637986322'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7113986342637986322'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/07/ky-tich-tu-cay-lua-cu-khoai-o-hon-at.html' title='Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/-CNirJ2ADsh4/ThVD1k83a5I/AAAAAAAAIh0/t61f3EcxqTI/s72-c/Lua%2Bkhoai%2BHon%2BDat.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-5239411709339406412</id><published>2011-07-04T23:21:00.003+07:00</published><updated>2011-07-04T23:26:31.336+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bình Dương New City'/><title type='text'>Thành phố mới Bình Dương</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Bình Dương New City &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;iframe width="425" height="349" src="http://www.youtube.com/embed/-RkjNY9Thqc" frameborder="0" allowfullscreen&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-5239411709339406412?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/5239411709339406412/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=5239411709339406412' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/5239411709339406412'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/5239411709339406412'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/07/thanh-pho-moi-binh-duong.html' title='Thành phố mới Bình Dương'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://img.youtube.com/vi/-RkjNY9Thqc/default.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-8683877031844205987</id><published>2011-06-12T09:06:00.004+07:00</published><updated>2011-06-12T09:12:20.533+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Kênh ông Kiệt giữa lòng dân'/><title type='text'>Kênh ông Kiệt giữa lòng dân</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn1-pqmX5I/AAAAAAAADp0/6oCf5DonYjY/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+1.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 223px; height: 178px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn1-pqmX5I/AAAAAAAADp0/6oCf5DonYjY/s400/Kenh+ong+Kiet+1.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375598086928621458" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt;Gửi KH&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thơ cho em giữa tháng năm này &lt;br /&gt;Là lời người dân nói vể &lt;a href="http://hocmoingay.blogspot.com"&gt;kênh ông Kiệt&lt;/a&gt; &lt;br /&gt;Là con kênh xanh mang dòng nước mát&lt;br /&gt;Làm ngọt ruộng đồng Tứ giác Long Xuyên&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con kênh T5 thoát lũ xả phèn&lt;br /&gt;Dẫn nước ngọt về vùng quê nghèo khó &lt;br /&gt;Tri Tôn, Tịnh Biên trong mùa mưa lũ&lt;br /&gt;Giữa hoang hóa, sình lầy,thấm hiểu lòng dân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Công Trứ xưa khẩn hoang đất dinh điền&lt;br /&gt;Thoại Ngọc Hầu mở mang kênh Vĩnh Tế&lt;br /&gt;Kênh ông Kiệt giữa lòng dân bền bỉ&lt;br /&gt;Ân nghĩa cuộc đời lưu dấu nghìn năm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em ơi khi nuôi dạy con &lt;br /&gt;Hãy dạy những điều vì dân, vì nước&lt;br /&gt;Người ta sinh ra cho đến khi nhắm mắt&lt;br /&gt;Đọng lại trong nhau vẫn chỉ những CON NGƯỜI.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Hoàng Kim&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Loạt bài KÊNH ÔNG KIỆT trên các báo:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Kênh ông Kiệt tắm mát đồng bằng (&lt;a href="http://hocmoingay.blogspot.com"&gt;HỌC MỖI NGÀY &lt;/a&gt; điểm Báo An Giang, Đại học An Giang)&lt;br /&gt;Từ kênh Vĩnh Tế đến kênh Võ Văn Kiệt (Quốc Việt, Báo Tuổi Trẻ)&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=329714&amp;ChannelID=89"&gt;Kỳ 5: Đào kênh T5 &lt;/a&gt; &lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=329616&amp;ChannelID=89"&gt;Kỳ 4: Dấu chân lấm bùn của ông Sáu Dân&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=329418&amp;ChannelID=89"&gt;Kỳ 3: Thương hồ Vĩnh Tế&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=329226&amp;ChannelID=89"&gt;Kỳ 2: Trấn giữ biên giới&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=329046&amp;ChannelID=89"&gt;Kỳ 1: Hào lũy đất phương Nam &lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.baodatviet.vn/Home/congdongviet/Kenh-Ong-Kiet/20086/7612.datviet"&gt;Kênh ông Kiệt&lt;/a&gt; (Võ Ngọc- Bảo Châu, Báo Đất Việt)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;KÊNH ÔNG KIÊT TRONG LÒNG TÔI&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;(&lt;strong&gt;ảnh tư liệu của Hoàng Kim&lt;/strong&gt;)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn2JJvPQmI/AAAAAAAADp8/WDY-IdS3eZc/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+2.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 258px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn2JJvPQmI/AAAAAAAADp8/WDY-IdS3eZc/s400/Kenh+ong+Kiet+2.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375598267336704610" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tri Tôn Tịnh Biên là những huyện khó khăn cuả tỉnh An Giang, có nhiều người nghèo &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn3A_LHl3I/AAAAAAAADqE/KEsRdgH_Dl0/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+3.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 167px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn3A_LHl3I/AAAAAAAADqE/KEsRdgH_Dl0/s400/Kenh+ong+Kiet+3.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375599226573526898" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với "Kênh ông Kiệt" đã mang nguồn nước ngọt về ruộng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn3qW5mqSI/AAAAAAAADqM/n1JUn5K-41o/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+4.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 164px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn3qW5mqSI/AAAAAAAADqM/n1JUn5K-41o/s400/Kenh+ong+Kiet+4.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375599937317153058" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giống lúa KĐM 135 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới đã mang lại niềm vui cho người nghèo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn4TsB2ErI/AAAAAAAADqU/DkC0hnWsBGE/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+5.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 170px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn4TsB2ErI/AAAAAAAADqU/DkC0hnWsBGE/s400/Kenh+ong+Kiet+5.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375600647363498674" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các giống cây màu rau đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa đã giúp nâng cao đời sống người dân&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn48uiKFPI/AAAAAAAADqc/DGnwMxw3_G4/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+6.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 292px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn48uiKFPI/AAAAAAAADqc/DGnwMxw3_G4/s400/Kenh+ong+Kiet+6.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375601352410535154" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn5wVFAH1I/AAAAAAAADqk/rMjmN54Biqc/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+7.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 293px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn5wVFAH1I/AAAAAAAADqk/rMjmN54Biqc/s400/Kenh+ong+Kiet+7.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375602238930558802" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Nguyễn Minh Nhị (nguyên Chủ tịch tỉnh) cùng anh Ngô Vi Nghĩa với giống mì ngắn ngày trên ruộng tăng vụ &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn7XTKGQEI/AAAAAAAADqs/pfNghPa3TSQ/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+8.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 385px; height: 285px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn7XTKGQEI/AAAAAAAADqs/pfNghPa3TSQ/s400/Kenh+ong+Kiet+8.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375604007941587010" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Kênh ông Kiệt" và vùng đất An Giang cũng là nôi nuôi dưỡng phát triển của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc (ảnh Thầy Lê Minh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Phó Chủ tịch tỉnh An Giang với giống mì KM98-1) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn-Cc0MHYI/AAAAAAAADq0/3X0IYL5txhs/s1600-h/Kenh+ong+Kiet+9.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 310px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn-Cc0MHYI/AAAAAAAADq0/3X0IYL5txhs/s400/Kenh+ong+Kiet+9.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375606948291681666" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kênh ông Kiệt trong lòng tôi! (ảnh tác giả đang chọn giống mới ở vùng đất Tri Tôn, Tịnh Biên)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-8683877031844205987?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/8683877031844205987/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=8683877031844205987' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/8683877031844205987'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/8683877031844205987'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/06/kenh-ong-kiet-giua-long-dan.html' title='Kênh ông Kiệt giữa lòng dân'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_ewWdo68I2wA/Spn1-pqmX5I/AAAAAAAADp0/6oCf5DonYjY/s72-c/Kenh+ong+Kiet+1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-471341601365376010</id><published>2011-06-08T09:55:00.018+07:00</published><updated>2011-06-08T17:59:55.086+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nhà Nguyễn và Ngọc phương Nam'/><title type='text'>Nhà Nguyễn và Ngọc phương Nam</title><content type='html'>DẠY VÀ HỌC. Việc tìm hiểu Nam Bộ (Ngọc phương Nam - hòn ngọc Viễn Đông) vùng đất thiêng của dân tộc Việt về lịch sử, văn hóa của quá trình Nam tiến “mở rộng tương lai và hi vọng của dân tộc" rất cần những chỉ dấu và nguồn tài liệu. Bài Nhà Nguyễn với Ngọc phương Nam tổng hợp ba bài: Nhà Nguyễn do Cheers đăng trên Wikipedia tiếng Việt; Lạm bàn về Biên Hòa Đồng Nai của giáo sư Tôn Thất Trình đăng trên blog The Gift; "Ngôi nhà bà Nhu ở sương mù" của Ngọc Sớm Mai đăng trên báo Thanh Niên. Những mộc bản quý giá của nhà Nguyễn hiện được lưu trữ tại biệt điện Hồng Ngọc, Đà Lạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;NHÀ NGUYỄN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Bách khoa toàn thư mở Wikipedia&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Nguy%E1%BB%85n&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn (chữ Hán: 阮朝 (Nguyễn triều)) là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm. Triều đại Nhà Nguyễn được ghi nhớ với các giai đoạn chính:&lt;br /&gt;• Giai đoạn độc lập (1802 - 1858)&lt;br /&gt;• Giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng và đô hộ (1858 - 1945)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thành lập&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thời kì các chúa Nguyễn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người khởi đầu cho sự nghiệp của nhà Nguyễn là Nguyễn Kim (1468 - 1545). Khi nhà Hậu Lê bị nhà Mạc cướp ngôi vào năm 1527, Nguyễn Kim chạy vào Thanh Hóa để chống lại nhà Mạc. Sau đó Nguyễn Kim còn kiếm được một người con của vua Lê Chiêu Tông lập lên ngôi để nối tiếp nhà Lê, là vua Lê Trang Tông. Nhờ công này, Nguyễn Kim được vua phong chức Quốc công, trông coi tất cả quân đội. Nguyễn Kim sau bị người nhà Mạc dùng thuốc độc giết. Nguyễn Kim có hai người con trai là: Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng đều được phong chức Quận công, nhưng binh quyền lọt vào tay người anh rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm nắm quyền chỉ huy quân đội, trông coi tất cả mọi việc trong triều đình. Để giảm bớt quyền lực của họ Nguyễn, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Lo sợ cho chính mình, Nguyễn Hoàng xin vào trấn đất Thuận Hóa, về sau được Trịnh Kiểm giao quyền cai quản luôn cả Quảng Nam, tức là miền nam của Việt Nam lúc đó (phần đất thuộc các tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Nam bây giờ), vào năm 1558 để tránh xa Chúa Trịnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó Nguyễn Hoàng lập nên căn cứ của mình tại phương nam, mở rộng ranh giới bằng cách xâm lấn đất đai của Chiêm Thành, Lào, Chân Lạp, gây sức ép với các vua của Đế quốc Khmer để họ nhường đất của xứ Phù Nam cũ (tức là miền Nam Việt Nam bây giờ). Tuy nhiên, các chúa Nguyễn lúc đó về hình thức vẫn thần phục vua Lê và cũng chỉ xưng "Chúa" (Chúa Nguyễn). Nguyễn Hoàng (sau được tôn là Chúa Tiên) là người mở đầu cho việc xây dựng cơ nghiệp họ Nguyễn ở phương Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên, hay Chúa Sãi, lên ngôi chúa năm 1613, là người đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc. Từ đó con cháu trong giòng họ này đều mang họ này. Sáu đời sau, Nguyễn Phúc Khoát, lên ngôi vào năm 1738, là người đầu tiên xưng "vương" vì Chúa Trịnh tại phương bắc cũng đã xưng vương – vua Lê chỉ còn hư vị. Nguyễn Phúc Khoát xưng mình là Vũ Vương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Vũ Vương chết, theo di chúc người nối ngôi phải là Nguyễn Phúc Luân nhưng một vị quan trong triều là Trương Phúc Loan lập Nguyễn Phúc Thuần, mới 12 tuổi, lên ngôi để dễ bề thao túng. Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi năm 1765, tức là Định Vương. Trương Phúc Loan là người độc ác, tàn bạo nên dân chúng nổi lên khởi nghĩa, trong số đó là anh em nhà Tây Sơn. Nhà Tây Sơn được lòng dân nên thế lực rất mạnh khiến chúa Nguyễn phải toàn tâm đối phó, nhân dịp này chúa Trịnh đem quân vào lấy cớ là giúp chúa Nguyễn trị Trương Phúc Loan nhưng sau khi bắt được Trương Phúc Loan rồi họ tiếp tục đánh và chiếm được Phú Xuân năm 1775. Vì đó chúa Nguyễn phải vào Quảng Nam. Đến năm 1777, Tây Sơn đánh bại quân chúa Nguyễn, bắt giết cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương cùng rất nhiều người và thuộc tướng của họ Nguyễn Phúc. Chỉ có một người con duy nhất của Nguyễn Phúc Luân là Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thành lập nhà Nguyễn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định và đến năm 1780, ông xưng vương. Tây Sơn sau đó nhiều lần tấn công Nguyễn Ánh khiến ông trốn chạy rồi quay về nhiều lần. Đến năm 1790, Nguyễn Ánh chiếm được hẳn Gia Định.&lt;br /&gt;Trong 24 năm liên tiếp sau đó, Nguyễn Ánh ra sức củng cố lại vùng Gia Định; tranh thủ những sự ủng hộ, nhất là về các vũ khí, của các nhà truyền giáo người Pháp mà tiêu biểu sự giúp đỡ của giám mục Pigneau de Béhaine để củng cố quân đội và tạo cho mình một thế đứng vững vàng. Cũng đồng thời lúc đó vua Quang Trung của Tây Sơn đột ngột qua đời, nhà Tây Sơn rơi vào cảnh "cốt nhục tương tàn", triều đình nhanh chóng suy yếu và mất lòng dân. Nguyễn Ánh ra sức tấn công và đến năm 1802 đánh bại hoàn toàn Tây Sơn. Sau đó, ông lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, nhà Nguyễn thành lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Thời kì độc lập&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ thời Gia Long bắt đầu có quốc hiệu Việt Nam. Ban đầu, Gia Long cho đổi quốc hiệu Đại Việt sang Nam Việt nhưng về sau, vì vua Gia Khánh nhà Thanh sợ lầm với nước Nam Việt của nhà Triệu mà lãnh thổ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên đổi tên thành Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đối nội&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ sớm,Nguyễn Ánh đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo phò tá mình. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông lại tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay. Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia[1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước, các bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công.[2] Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,... cùng với một số Ti và Cục khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Trần Trọng Kim, người ta "thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước Tây Âu ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau..." [3] Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này[4].&lt;br /&gt;Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại đia phương. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.&lt;br /&gt;Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà[5].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp. Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm[6].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy bộ máy không thật sự cồng kềnh, nhưng tệ tham nhũng vẫn là một trong những vấn đề lớn. Trong bộ luật triều Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng còn có nhiều giá trị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng: "Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay. Chính sách Đình Nghị: Đã đi họp là phải phát biểu. Ý kiến trong Đình Nghị phải được ghi chép. Nếu không phát biểu trong kỳ họp trước, kỳ sau sẽ không được đi họp nữa. Hay chủ trương Hầu trị: Người của địa phương không được đứng đầu trong địa phương. Phải đi nơi khác làm quan, khi đến địa phương khác, không được lấy vợ, mua đất ở đó. Giám khảo chấm thi không được tham gia khi có người nhà đi thi, hoặc phải trình báo…Đây là những chính sách mà ngày nay chúng ta cần học tập."[7]&lt;br /&gt;Triều Nguyễn từng bị Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đánh giá là "Chế độ quân chủ chuyên chế cực kỳ phản động" và cho rằng nhà Nguyễn đã "tăng cường bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát"[8]. Nhưng nhiều nhà sử học về sau cho rằng bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, rằng từ thời vua Gia Long (1802-1820) đến Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn đã "thực hiện công cuộc cải cách hành chính theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đáp ứng yêu cầu của đất nước". Sự thay đổi về quan điểm này được cho là do hiện nay các nhà sử học đã có được "nguồn sử liệu toàn diện, phong phú và phương pháp tiếp cận khách quan, khoa học, cộng với độ lùi thời gian cần thiết"[9].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt; Phân chia hành chính&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên[1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn[1]. Hệ thống chính quyền được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống này nhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước[1].&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng[10]. Nhìn chung, cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra[1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan[1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu.[11]&lt;br /&gt;Đối với những hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vua Gia Long từ năm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế của nhà Nguyễn cũng có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này.[12] Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối.[13] Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Quân đội&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiến với Tây Sơn là quân đội tương đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phương Tây. Sau khi quản làm chủ toàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dựng quân đội hoàn thiện hơn, chính quy hơn.&lt;br /&gt;Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long cho thực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nơi mà định, lấy 3, 5 hay 7 suất đinh tuyển 1 người lính[14].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• Về tổ chức: Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nơi xung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị an. Quân chính quy có 14 vạn người[15], ngoài ra còn có quân trù bị &lt;br /&gt;Quân đội được tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thuỷ binh và pháo binh, trong đó bộ binh và thuỷ binh được chú trọng xây dựng để tác chiến độc lập. Trình độ chính quy thống nhất cao.&lt;br /&gt;• Về trang thiết bị: ngoài vũ khí cổ truyền, quân chính quy được trang bị hoả khí mua của phương Tây như đại bác, súng trường, thuyền máy, thuốc nổ... &lt;br /&gt;Các loại súng thần công, đại bác được đúc với kích thước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cũng được quy định cho từng cấp với số lượng quân nhất định.&lt;br /&gt;Sự quan tâm tới khoa học quân sự phương Tây của Gia Long được xem là do tình thế bắt buộc thì với Minh Mạng lại hoàn toàn tự nguyện. Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng người cầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người)[16].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước. Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Trang bị bộ binh rất lạc hậu: 50 người mới có 5 súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Vũ khí được bảo dưỡng cũng kém. Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao[16].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quan điểm khoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời Tự Đức khiến quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều. Do đó, khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam (1858), khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa[16].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thuế khóa và lao dịch&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc sinh hoạt quốc gia đòi hỏi phải có đủ tài chính để duy trì bộ máy triều đình nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18-60 tuổi[17]. Các đinh bộ không bao giờ kê khai hết tất cả số đàn ông trong làng vì ngoài dân đinh còn có một số người là dân ngoại tịch, dân lậu, những người bần cùng, vô sản, không thể đánh thuế cũng như những người mới tới làng định cư[18].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do tổ chức xã hội Việt Nam căn bản dựa trên xã, thôn nên triều đình không đòi hỏi người dân phải trả thuế trực tiếp mà giao cho làng lo việc thuế má và sưu dịch, không cần biết làng sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dân làng ra sao. Mỗi làng hưởng quyền tự trị rất lớn, tự họ cai trị theo những tục lệ riêng ghi trong hương ước của làng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hội đồng Kỳ mục trông coi tất cả công sản (tài sản công) và thuế khóa, đê điều, trị an. họ cũng phải lo phân phối công điền (ruộng công) giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp và chỉ định thanh niên đi lính.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Thuế nhân đinh và thuế ruộng&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn xoá bỏ tất cả chế độ thuế khoá cũ của Tây Sơn để đặt lại thuế khoá mới nặng hơn thời trước. Vua Gia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng qua thời nội chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hộ tịch phân ra 9 hạng, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn bộ hay được miễn giảm một nửa hoặc miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch. Thuế đinh nhà Nguyễn đặc biệt đánh nặng lên dân Thanh Nghệ và Bắc Hà. Dân công nghệ thì nộp thuế sản vật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế. Thuế điền thì dân Thanh Nghệ và Bắc Hà cũng bị nặng hơn ở các miền khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo thống kê của bộ Hộ thì số nhân khẩu năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người. Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất[19].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Lao dịch&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình. Lao dịch thường là để làm các mục đích: xây sửa hệ thống đê điều, kênh rạch, sông ngòi; xây đắp các thành lũy; xây dựng các cung điện cho hoàng gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thực tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vương triều Nguyễn xây dựng các cung điện, lăng tẩm, dinh thự,... Ví dụ năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài. Vua Minh Mạng cũng tiếp tục công việc xây dựng kinh đô. Vua Thiệu Trị thì không tập trung xây dựng kinh đô nữa, nhưng, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kì năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngựa của nhà vua[20].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nhận xét của giáo sĩ Pháp Guérard: "...sự bất công và lộng hành làm người ta rên xiết hơn cả thời Tây Sơn: thuế khóa và lao dịch đã tăng lên gấp ba"[20]. Trong dân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca miêu tả sự nặng nề của chế độ lao dịch, ví dụ bài "Tố khuất khúc" của dân Sơn Nam Hạ có câu:&lt;br /&gt;...&lt;em&gt; Binh tài hai việc đã xong:&lt;br /&gt;Lại còn lực dịch thổ công bao giờ&lt;br /&gt;... Một năm ba bận công trình&lt;br /&gt;Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao...[&lt;/em&gt;20]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Luật pháp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc đầu, nhà Nguyễn chưa có một bộ luật rõ ràng, chi tiết. Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất[21].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1811, theo lệnh của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn một bộ luật mới và đến năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn, được in phát ra khắp mọi nơi. Theo lời tựa, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chương "Hình luật" chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chương khác như "Hộ luật" chỉ có 66 điều còn "Công luật" chỉ có 10 điều. Trong bộ luật có một số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền "yêu ngôn, yêu thư"[21]. Tuy nhiên, bộ luật cũng đề cao việc chống tham nhũng và đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất nhiên, đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cũng được chỉnh sửa và cải tiến nhiều, nhất là dưới thời Minh Mạng[21].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đối ngoại&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Với Trung Quốc&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi lấy được Bắc Hà, vua Gia Long đă cử một sứ đoàn do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong. Sứ đoàn này chưa hồi hương thì cuối năm đó vua Gia Long tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh nhà Thanh đổi quốc hiệu là Nam Việt. Sau những tranh luận về tên gọi vì nhà Thanh ngại nhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở lưỡng Quảng và cùng đồng ý đảo ngược lại thành Việt Nam, vua Thanh cho Tổng đốc Quảng Tây sang làm lễ tấn phong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 8 năm 1809, sứ đoàn Việt Nam sang mừng thọ vua Gia Khánh 50 tuổi. Liên tục từ 1813, 1817 và 1819 việc giao thiệp giữa Gia Long và nhà Thanh được êm đẹp[22]. Về sau, nhà Thanh đã nhiều lần cử người giúp triều Nguyễn trong vụ đàn áp Khởi nghĩa Lê Duy Phụng ở Bắc Kỳ những năm 1861-1865[cần dẫn nguồn].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Với Xiêm La&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù có xung đột từ thời kỳ trước đó đến khi Gia Long nắm quyền, việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được sự hòa hảo. Từ năm 1802 trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm. Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm. Dân vùng Cam Lộ, dân ở các vùng Cao nguyên hai tỉnh Thanh Nghệ, người Thượng (tức người Rhadé) ở các nước Thủy Xá và Hỏa Xá cũng có cống phẩm đến để tỏ lòng tuân theo chính quyền của triều Nguyễn[23].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1827, Quân Xiêm La đánh Vạn Tượng khiến quốc vương xứ này là A Nộ chống không nổi phải sang cầu cứu triều đình Việt Nam. Vua Minh Mạng cho Thống chế Phan Văn Thúy mang viện quân sang giúp nhưng bị quân Xiêm đánh bại. Năm 1828 Phan Văn Thúy và Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào tiếp tục đem 3.000 quân và 24 con voi đưa A Nộ về Trấn Ninh, rồi tiến vào Vạn Tượng (Vientiane) nhưng đạo quân của nhà Nguyễn và A Nộ lại bị thua phải xin viện binh Nghệ An. Vua Minh Mạng chán việc này hạ lệnh bãi bỏ và chỉ còn phòng vệ vùng biên giới. Sau A Nộ chạy về Trấn Ninh bị bắt nộp cho Xiêm La[24].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân Xiêm được đà đánh dấn vào các miền phụ cận Quảng Trị. Thống chế Phạm Văn Điển và Tham tán Quân vụ Lê Đăng Doanh cùng với các đạo quân nhà Nguyễn ở Lào phải đi ngăn quân Xiêm, đằng khác gửi thư cho họ để trách cứ. Xiêm La trả lời khiêm nhượng rồi rút quân về. Tuy vậy họ vẫn bí mật giúp người Chân Lạp nổi lên chống lại chính quyền Đại Nam hoặc lấn lướt Vạn Tượng và các xứ quy phụ triều đình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm 1833, nước Xiêm mang quân vào nội địa Nam Hà và Chân Lạp theo lời kêu gọi của Lê Văn Khôi. Theo sử gia Phạm Văn Sơn thì "Xiêm La từ khi mất quyền bảo hộ ở Chân Lạp vẫn hằn học với Việt Nam, lúc không sinh sự được với ta thì lại quay ra quấy rối Ai Lao và Chân Lạp, hoặc khi thấy có biến cố xảy ra trên đất Việt Nam liền nắm ngay cơ hội để xâm lấn"[24].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Với Ai Lao&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của Việt Nam[25].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Với Chân Lạp&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên tuy mất Thủy Chân Lạp cho người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục. Thời Minh Mạng, sau khi phá được quân Xiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp[25].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm Giáp Ngọ (1834), vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân mất, không có con trai nối dõi, quyền bính chuyển sang cho Trà Long và Lê Kiên - hai người Chân Lạp làm quan cho người Việt. Năm sau, Trương Minh Giảng lập công chúa Angmey, con của Nặc Ông Chân, còn gọi là Ngọc Vân công chúa, làm quận chúa. Ông đổi nước Chân Lạp thành Trấn Tây thành, chia làm 32 phủ và 2 huyện, và đặt các chức quan coi sóc mọi việc quân sự và dân sự[25].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do quan lại Đại Nam tại Chân Lạp làm nhiều điều ức hiếp, nhũng nhiễu dân Chân Lạp; do nhà Nguyễn bắt Ngọc Vân công chúa về Gia Định, đày Trà Long và Lê Kiên ra miền Bắc Việt Nam, nhân dân Chân Lạp oán giận và nổi dậy chống quân Việt Nam ở khắp nơi. Người em của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn khởi nghĩa với sự giúp đỡ của Xiêm La. Quân nhà Nguyễn đánh dẹp không nổi, đến khi vua Minh Mạng qua đời thì Trương Minh Giảng phải bỏ Trấn Tây thành rút về An Giang[25].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ký ức của người Khmer về các cuộc nổi dậy của họ thời đầu thế kỷ 19 và về sự tàn bạo của quan quân nhà Nguyễn khi đánh dẹp đã được lưu truyền trong ca dao và truyện kể của người Khmer. Họ dùng từ "Youn" (trong tiếng Khmer có nghĩa là "man rợ") để chỉ người Việt. Các bà mẹ thường dùng chuyện "Youn bắt" để dọa con. Kênh Vĩnh Tế - con kênh đào dài 25 dặm được xây dựng bởi dân phu Việt và một phần người Khmer ở Thoại Sơn - đã để lại những câu chuyện về cách đối xử tàn ác của người Việt đối với người Khmer mà sau này Khmer Đỏ đã sử dụng trong các chiến dịch tuyên truyền khơi dậy lòng hận thù của người Campuchia đối với người Việt[26].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Với phương Tây&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1803, Anh Quốc sai sứ là Robert sang xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam. Vua Gia Long không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa hàng. Sau người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với nước Pháp, vua Gia Long có thiện cảm hơn do khi ông còn gian truân có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ. Khi chiến tranh kết thúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, Gia Long cho mỗi người 50 lính hầu và khi chầu thì không cần lạy Hoàng đế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao. Thuyền trưởng là Achille De Kergariou nói rằng vua Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa[27].Cảnh hành hình giáo sĩ Pierre Borie năm 1838 dưới thời Minh Mạng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, sự bành trướng của Châu Âu ở Đông Nam Á khiến Gia Long e ngại, nhất là sau khi nước Anh chiếm được Singapore. Nhà vua thấy rằng cần phải giao hảo với người Tây phương nhưng không thể biệt đãi một quốc gia đặc biệt nào. Năm 1819, John White, một thương gia Hoa Kỳ tới Gia Định và được hứa hẹn sẽ dành cho mọi sự dễ dàng khi buôn bán ở Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quân xâm lược[28]. Ngoài ra ông cũng không thích cả Công giáo của Châu Âu. Trong thời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp quyết liệt và các giáo sĩ nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của Đế quốc La Mã - một hoàng đế từng tàn sát hàng loạt giáo dân Công giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những người Pháp đã từng giúp vua Gia Long, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nên khi Chaigneau trở lại Việt Nam không được trọng dụng nữa. Minh Mạng cho Chaigneau hay rằng không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, người Việt Nam vẫn đối xử tốt đẹp với người Pháp là đủ, ông chỉ thỏa thuận mua bán với người Pháp nhưng không chấp nhận xây dựng đặt quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho ông Chaigneau làm Lãnh sự Pháp ở Việt Nam không được nhà vua đếm xỉa đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng theo đường lối của hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, vua Tự Đức khước từ mọi việc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Năm 1850 có tàu của nước Mỹ vào cửa Hàn có quốc thư xin thông thương nhưng không được tiếp nhận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1855 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Hàn, cửa Thị Nại và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Sau khi Gia Định bị người Pháp chiếm, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao dịch với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học gì về ngoại giao[28].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Kinh tế&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Thương mại&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Nội thương&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển lắm[29], tổ chức thương mại của người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình. Nếu có những hội buôn lớn thì cũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâu dài. Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ.[29]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối, dù những người này chỉ là thiểu số.[29] Các mặt hàng tiêu dùng họ kinh doanh gồm có: mua thổ sản như gạo, lúa, bắp, đường, hạt tiêu... và bán và nhập cảng trà, thuốc Bắc, vải, đồ đồng, giấy....&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ. Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương và một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác. Theo sử gia Trần Trọng Kim, người Việt Nam chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất.[30]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Kẻ Chợ trong thế kỷ XIX các thương khu (phường) đã thay đổi bản chất, đã thoát ly khỏi trạng thái chợ phiên có kỳ hạn và đã có thương gia cùng thợ thuyền cư trú thường xuyên. Thanh Hoá được bắt đầu xây dựng đầu thời Gia Long và tới năm 1885 đã là 1 trung tâm thương mại. Ở kinh đô Huế, năm 1837, triều đình đã cho lập chợ Gia Hội có tất cả 399 gian, dài suốt hơn 319 trượng[31]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những trung tâm thương mại từ cuối thế kỷ XVIII cũng vẫn tiếp tục hoạt động trong thế kỷ XIX. Hội An tương tự 1 Bazar lớn của Ấn Độ với khoảng 60.000 dân mà 1/3 là Hoa kiều. Hàng năm có những thuyền buồm Trung Hoa lường đến 600 tấn tới buôn bán.[32] Ở Huế, người Tàu và người Việt buôn bán rất lớn. Thuyền buôn Trung Quốc chở đến vải vóc, đồ sứ, trà, thuốc Bắc, đồ chơi... và chở về thổ sản như cau khô, tơ sống, gỗ, sơn, sừng tê và ngà voi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài các tổ chức buôn bán đại quy mô ra, Hoa kiều trong các đô thị lớn còn kinh doanh sòng bạc, đánh đề hay đút lót cho các quan để được đúc tiền, trưng thầu thuế đò, thuế chợ hay độc quyền rượu. Có những Hoa thương có thế lực còn chiếm độc quyền cung cấp hàng cho triều đình.[33]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cải cách tiền tệ giúp cho thương mại phát triển hơn so với thế kỷ trước. Vua Gia Long và Minh Mạng đã cho đúc những nén vàng, nén bạc, nhờ đó thương mại đã có bước tiến hơn trước. Tuy nhiên, tiền ít được đầu tư và được dân chúng đem cất trữ bởi tâm lý dân chúng còn mang nặng tính nông nghiệp.[34]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ngoại thương&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho tới thời Thiệu Trị, chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với phương Tây khá cẩn trọng nhưng thương mại với họ vẫn được khuyến khích. Hoạt động thương mại của Việt Nam với các nước láng giềng không thể phát triển tự do khi các quan chức đánh thuế nặng lên thương mại, còn thủ tục thì rất phiền phức. Ngoài ra, triều đình còn cấm đoán một số mặt hàng, muốn bán phải có giấy phép riêng. Không có một tầng lớp trung lưu làm giàu bằng thương mại để thúc đẩy triều đình mở rộng giao dịch quốc tế[35].&lt;br /&gt;Về các thành thị công thương, trung tâm vẫn là Thăng Long, Bến Nghé, Đà Nẵng, Gia Định, còn Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà do nhiều nguyên nhân trở nên suy tàn và không thể phục hồi như xưa. Xuất hiện thêm vài hiệu buôn người Hoa, một số phường thủ công cũng ổn định mặt hàng nhưng không thay đổi nhiều.[36]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao dịch buôn bán. Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonesia). Năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu mua vải và đồ thủy tinh. Sau đó, mỗi năm đều có quan viên được phái đi tới các trung tâm mậu dịch của người Âu ở khắp Đông Nam Á. Từ 1831-1832 trở đi, các chuyến công cán càng lúc càng nhiều, điểm đến cũng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon - Philippines), đảo Borneo, Quảng Đông, Giang Lưu Ba,... Trong khoảng 1835-1840 đã có 21 chiếc được cử đi.[29] Hàng bán ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len dạ và vũ khí, đạn dược. Các hoạt động này gần như là độc quyền của triều đình dù tư nhân không bị cấm.[29] Dù vậy, nhiều thương nhân cũng lợi dụng các chuyến buôn bán này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châu hay Quảng Châu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore. Thương nhân người Hoa thường lén chở gạo đi và đem thuốc phiện về. Trong những năm 1820-1830,giao dịch với Singapore rất hạn chế.[29] Nguyên nhân do hàng hóa của Việt Nam phù hợp với thị trường Trung Hoa hơn. Khi người Pháp sắp chiếm hết Nam Kỳ, các bản lược kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tương đương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lại gấp đôi số tiền thuế kia, như vậy số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triều đình rất nhiều.[29]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ thời Thiệu Trị, do xung đột với phương Tây từ nguyên nhân tôn giáo, quan hệ buôn bán với các nước này bị tổn hại. Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn ở Hạ Châu nữa. Triều đình cũng tìm cách cản trở dân thường buôn bán với người Tây nên cuối cùng, thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm và Mã Lai, trong đó người Hoa chiếm tỷ lệ lớn nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thủ công nghiệp&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền,...[37] Nhà Nguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước, nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận. Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long.[37] Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngành thủ công, như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,... Ti Thuyền chịu trách nhiệm về các loài thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trên toàn quốc[37]. Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương bác hoả dược.[38]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa... tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với nghề đóng tàu, năm 1820 sĩ quan người Mỹ John White đã nhận xét:" Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công trình của họ với một kỹ thuật hết sức chính xác." Ngoài các thuyền gỗ, người thợ thủ công VN còn đóng cả các loại tàu lớn bọc đồng[39]. Ngoài ra họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví dụ các máy cưa xẻ gỗ, máy tưới ruộng,... và cả máy hơi nước.[39].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ngành khai mỏ, đến nửa đầu thế kỷ 19, triều đình đã quản lý 139 mỏ, và năm 1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ Nhà nước[39][40]. Tuy nhiên, phương thức khai mỏ thời bấy giờ vẫn kém phát triển so với thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Nông nghiệp&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Vấn đề ruộng đất&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay khi mới lên ngôi, Gia Long đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ này để bảo đảm đất cày cho mọi người nông dân[41].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp. Triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Thời Minh Mạng định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng 1 phần khẩu phân nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn. Người già, người tàn tật thì được nửa phần. Cô nhi, quả phụ được 1/3.[42]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Việc khai hoang và phục hóa&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại miền Nam, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục một số công việc từ thời các chúa Nguyễn để lại như việc khẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp. Ở Nam Kỳ, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình.[43] Hai vị quan tổ chức khẩn hoang nổi tiếng nhất là Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương; trong đó Nguyễn Công Trứ nổi lên vì là tác giả của ba chính sách khẩn hoang lớn: đồn điền, doanh điền và khai khẩn ruộng hoang[44].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đồn điền là chính sách chủ yếu dựa vào việc mộ dân nghèo, đi cùng với tội phạm, binh lính để thực hiện việc khai khẩn đất hoang. Trong thời gian khẩn hoang số dân này sẽ được quản lý theo cung cách đồn điền; sau từ 6-10ời năm để cuộc sống ổn định sẽ chuyển sang hình thức làng xã. Đồn điền xuất hiện nhiều nhất ở vùng Gia Định[44]. Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì là Nguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả 6 tỉnh[45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Doanh điền là hình thức khai hoang có sự kết hợp giữa triều đình và nhân dân, thực hiện di dân để lập ấp mới. Hình thức này bắt đầu được thực hiện từ năm 1828 dưới thời vua Minh Mạng theo đề nghị của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn Công Trứ. Theo đó, triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang[46] Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưng cũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang[47].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa. Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn. Ruộng đất ở Nam Việt thời vua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu. Tổng số đinh toàn quốc là 970.516 suất và 4.063.892 mẫu ruộng đất.[48] Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quan tâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khai khẩn hoang khác nhau và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp. Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm 1847 là 4.273.013 mẫu[49].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng phần đất còn lại được phân phối giữa các nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu là nhiều. Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh có nhiều nhất là 5, 3 người.[50]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Việc trị thủy&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua Gia Long vừa lên ngôi đã quan tâm đến vấn đề đê điều và cho người tu bổ đê cũ, đắp thêm đê mới. Năm 1809, ông lại cho đặt nha Bắc Thành đê chánh và các chức Tổng lý và Tham lý đê chánh để lo vấn đề đê điều ở các trấn xứ Bắc Kỳ. Tới năm 1828, theo đề nghị của các quan, vua Minh Mạng cho cho tăng cường thêm nhân sự cho nha môn đê chánh nhưng tới 1833 thì bỏ nha này đi để chuyên ủy việc đê điều cho các Đốc biện tại các tỉnh. Việc đắp đê, sữa chữa và khám xét được quy định tỉ mỉ. Thời Tự Đức nhiều lần đã xác định lại cách thưởng phạt về sự phòng hộ đê và phân định trách nhiệm của các phủ, huyện, tổng, lý sở tại các nơi đê vỡ[51].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1809, hệ thống đê điều ở Bắc Thành tổng cộng là 239.933 trượng tương đương 960 km[51]. Sau 21 năm dưới thời nhà Nguyễn, chiều dài các con đê ở Bắc Kỳ đã tăng lên 303.616 trượng tương đương 1.215 km. Tới cuối thế kỷ 19 thì hệ thống đê này đã dài tới 2.400 km[51]&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Mặc dù triều đình dành rất nhiều quan tâm nhiều tới việc trị thủy nhưng do thiếu sự phối hợp đồng bộ và quy hoạch chung giữa các địa phương, do tác động của môi trường, sinh thái,... các đê đắp lên cứ vỡ liên miên. Đặc biệt là ở sông Hồng, vì đất bồi nên lòng sông giữa 2 con đê cao hơn mặt đất, mỗi khi nước lớn thì đê không thể nào cản nổi. Triều đình phân vân trong 3 cách: giữ đê, phá đê và đào thêm sông. Do việc bất đồng kéo dài nên triều đình vẫn phải giữ đê mà đê vẫn tiếp tục vỡ.[52]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Việc cứu đói&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi khi mất mùa vì lụt lội hay hạn hán, giá gạo lên cao gây khó khăn về lương thực. Triều đình phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu đói, thường là chẩn cấp. Triều đình thiết lập các kho lương trữ lúa cho việc cứu tế được gọi là Bình Chuẩn Thương, người nghèo túng có thể mua gạo giá rẻ hơn bình thường và không giới hạn, từ 1, 2 phương tới cả thưng, đấu, bát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều Nguyễn còn lập ra Nghĩa Thương là những kho trữ lúa ở các tỉnh và phủ, huyện. Khi đói kém, các kho này được mở ra để phát chẩn cho dân nghèo. Thời Tự Đức tổ chức Xã Thương, khi gạo đắt thì bán ra, khi gạo rẻ thì đong lại để lưu trữ, có thể cho vay, thu lợi bao nhiêu dùng để cấp dưỡng binh đinh và giúp người nghèo. Thời Minh Mạng triều đình cũng bắt quan lại các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng nhiều sang các năm sau.[53]　Để làm nhẹ bớt sự khổ cực của người nông dân, triều Nguyễn cho áp dụng chính sách giảm hay miễn thuế cho những tỉnh bị nạn. Riêng với các tỉnh bị thiệt hại nặng, vua cho miễn luôn tất cả các khoản thuế còn thiếu ở những năm trước[54]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Văn hóa và giáo dục&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Văn hóa&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử một di sản văn hóa khổng lồ. Riêng số sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn toàn bộ số sách của 300 năm trước đó gộp lại.[55]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Giáo dục&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cũng cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi.[56]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều.[57]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan. Trần Trọng Kim cho rằng "bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu. Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách. Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân. Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Sự học của mình đã hư hỏng như thế, những hủ tục lại ăn sâu vào trí não, thành ra một thứ cố tật không sao chữa được...Đại khái, cái trình độ của bọn sĩ phu ở nước ta lúc bấy giờ là thế, cho nên vận nước suy đến nơi mà hồn người vẫn mê muội ở chỗ mơ màng mộng mị. Bọn sĩ phu là người có học, làm tai làm mắt cho mọi người mà còn kém cỏi như thế, thì bảo dân gian khôn ngoan làm sao được."[57]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời vua Minh Mạng, ông muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho quốc phú dân cường.[58]Ông nói rằng:&lt;br /&gt;"Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đă quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại".[58]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Văn học&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ, thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp[59].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thời Nguyễn sơ&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định[60]. Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thời nhà Nguyễn độc lập&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời kỳ này là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ[61]. Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ[61].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời kỳ này là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam[62]. Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền[63].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Hai thể theo được dùng phổ biết ở thời kỳ này là lục bát và lục bát gián cách, sử dụng một thứ tiếng Việt mới có một trình độ rất cao[64]. Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ[64]. Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến[64].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Khoa học, kỹ thuật&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Sử học&lt;/em&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Sử học là một trong những ngành khoa học rất phát triển. Sang đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, ngành này lại càng phát triển hơn, có thể nói đó là ngành phát triển nhất thời vương triều Nguyễn. Đặc biệt khi cơ quan phụ trách sử học là Quốc sử quán ra đời năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng với nhiệm vụ thu thập các bộ sử xưa, in lại Quốc sử thời Lê và biên soạn các bộ sử mới. Quốc sử quán phải nói là được tổ chức kỷ cương, hoạt động một cách đầy hiệu quả. Vương triều Nguyễn cũng cho lập các kho tàng lưu trữ các sáng tác từ cổ chí kim.&lt;br /&gt;Sử học nhà Nguyễn có các thành tựu sau:&lt;br /&gt;• Tìm kiếm, lưu trữ và cho in lại các tác phẩm sử học của các triều đại trước[65].&lt;br /&gt;• Biên soạn nhiều bộ sử rất lớn và các công trình sử học có giá trị lớn như: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam Thực lục - Tiền biên và chính biên[65], Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phỉ khẩu phương lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện... Các nhà sử học cũng cho ra đời nhiều công trình của cá nhân như Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực,... và nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú[66]. Trong đó, Đại Nam thực lục chính biên có tới 587 quyển.&lt;br /&gt;• Các công trình địa phương chí, và gia phả các dòng họ cũng xuất hiện rất nhiều. &lt;br /&gt;o Việc biên soạn các bộ địa phương chí gần như thành phong trào: từ các tỉnh lớn cho đến tận các huyện xã cũng có chí. Trong đó có rất nhiều bộ chí được biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý mà các bộ sử lớn không có. Tiêu biểu cho địa phương chí là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch&lt;br /&gt;o Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia phả của Vũ Thế Dinh[65].&lt;br /&gt;• Ngoài ra còn có các tác phẩm soạn theo kiểu quy cách nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử, nổi bật của thể loại này là bô Lịch triều Hiến chương loại chí của ông Phan Huy Chú[67].&lt;br /&gt;Năm 1942, Giám đốc Nha lưu trữ Đông Dương Paul Boudet cho biết rằng các tài liệu trước thế kỷ XIX (thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản bởi ngoài lý do chiến tranh, môi trường... còn bởi các triều trước không đặt các chức quan, cơ quan trông coi công tác lưu trữ, thiếu ý thức bảo tồn di sản quá khứ. Từ triều vua Minh Mạng, công tác lưu trữ mới được quan tâm. Cũng năm 1942, số lượng địa bạ ở Tàng thư lâu giữ được có tới 12.000 quyển.[68]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Địa lý và Địa lý Lịch sử&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Nguyễn cũng là thời có nhiều tác phẩm địa lý học lớn như bộ Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí do Thượng thư Lê Quang Định soạn theo lời của vua Gia Long. Sau đó cơ quan Quốc sử quán triều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều công trình khác khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí. Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao khác ngoài Quốc sử quán như Bắc Thành địa dư chí và Hoàng Việt dư điạ chí của Phan Huy Chú; Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu[67]; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Nam Hà tiệp lục của Quốc sử quán,...[66] Ngoài ra thời Minh Mạng cũng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phương của nước Đại Nam thời kỳ đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn chung, theo nhận xét của Dương Quảng Hàm thì tuy có nhiều giá trị nhưng do vẫn còn thiếu một phương pháp nghiên cứu khoa học tốt nên các tác phẩm về sử học và địa lý thời kỳ này vẫn có nhiều khuyết điểm[69]. Dù vậy, các triều đại trước cũng không khá hơn nhà Nguyễn trong việc này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Kỹ thuật công nghệ&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ các cuộc nội chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phương Tây đã được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Thời nhà Nguyễn vẫn kế thừa những thứ đã du nhập ấy, nhiều công trình được xây dựng theo kiểu kiến trúc Vauban của phương Tây như thành Bát Quái, kinh thành Huế, thành Hà Nội...Thời Gia Long đã từng cho đóng một loại thuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển[70].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu[71]. Cụ thể là, năm 1834, Nguyễn Viết Tuý dưới sự đồng ý của vua Minh Mạng đã chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả kí tế. Sau đó những năm 1837-38, theo mẫu của phương Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,... và còn có cả xe cứu hoả. Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến hơn và sửa chữa một chiếc bị hỏng. Điểu đáng tiếc là sau đó mọi việc dường như bị đình lại.[39] Thời Tự Đức, nhiều sách kỹ thuật phương Tây được dịch sang tiếng Hán như Bác Vật tân biên, Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kim châm[71]. Nhưng một điều đáng tiếc là những tiến bộ này vẫn chưa kịp tác động vào quá trình phát triển của xã hội Việt Nam[71]. Đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một quốc gia với nền sản xuất nông nghiệp chậm tiến so với thế giới phương Tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Kiến trúc&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ. Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805 và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ. [72] Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa. Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long. Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương.[73]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Các phong trào chống triều đình&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn cũng là triều đại chứng kiến các cuộc nổi dậy của nông dân cũng như các tầng lớp khác bùng nổ dữ đội, nhất là ở Bắc Hà. Các nhà sử học tính rằng số lượng các cuộc nổi dậy nửa đầu thế kỷ XIX còn nhiều hơn thế kỷ XVIII. Từ năm 1802 cho tới năm 1862, tại Bắc Hà có từ 350 cho tới 400 cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra.[74] Trong số đó có 50 cuộc diễn ra dưới thời Gia Long từ 1802-1820, 254 cuộc dưới thời Minh Mạng (1820-1840), 58 cuộc dưới thời Thiệu Trị (1840-1847) và 40 cuộc nổi dậy dưới thời Tự Đức (1847-1862). Dù vậy, trong số này cũng đã tính luôn cả các vụ nổi dậy liên quan tới vấn đề Công giáo, các phong trào phù Lê diệt Nguyễn của dân Bắc Hà, các toán cướp nổi lên hùng cứ địa phương, các toán tàn quân Thái Bình Thiên Quốc vượt biên vào cướp và cả những vụ bạo loạn như của Lê Duy Phụng do thực dân Pháp kích động để rảnh tay xâm chiếm Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cuộc nổi dậy ở Bắc Hà dưới thời vua Minh Mạng suốt Trung, Nam, Bắc, kể từ năm 1822 theo sử gia Phạm Văn Sơn đã do nhiều nguyên nhân[75]:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;A) Về phía ngoại bang, nước Tiêm La vẫn giữ thái độ hằn học về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Tiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam.&lt;br /&gt;B) Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống lại nhà Nguyễn và để khôi phục lại dòng họ Lê.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;C) Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà nhà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần. Nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, nước tất nhiên phải sinh loạn do đó ngoại quốc mới dám nhòm ngó vào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Tại Bắc Hà&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một số cuộc nổi dậy lớn là cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821-27), Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833-1834), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833-35) và của Cao Bá Quát (1854-56) ở Hà Nội, đặc biệt là phong trào bạo loạn do Lê Duy Phụng dẫn đầu (1861-1865) trên khắp lãnh thổ Bắc Kỳ. Ngoài ra vụ nổi dậy của Lê Duy Lương năm 1832 ở Ninh Bình, là con cháu nhà Lê khiến vua Minh Mạng phải yêu cầu Tổng Đốc Nghệ Tĩnh là Tạ Quang Cự cùng với Tổng Đốc Thanh Hóa là Nguyễn Văn Trọng đem quân ra Ninh Bình bắt được Lê Duy Lương giải về Kinh trị tội và tất cả con cháu Lê bị lưu đày ở Quảng Nam, Bình Định. Chính sách "Phù Lê" của nhà Nguyễn đã chấm dứt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi vua Tự Đức lên ngôi đã cử những danh thần của triều đình làm quan Kinh Lược Đại Sứ để đi kiểm tra, khám xét công việc ở các nơi trong cả nước. Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ, Phan Thanh Giản coi ba tỉnh Nam Trung Việt, Nguyễn Đăng Giai kiểm soát ba tỉnh phía Bắc miền Trung. Nhưng từ năm 1851 nhiều cuộc nổi dậy diễn ra ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Kỳ bởi lòng dân ở đây còn tưởng nhớ đến nhà Lê, phá chính quyền triều Nguyễn. Có vài vụ nổi dậy mà người lãnh đạo tự xưng mình thuộc dòng dõi nhà Lê như quân của Lê Duy Phụng, lôi cuốn được khá nhiều người tham gia. Ngoài ra triều đình còn phải lo đối phó dư đảng Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn tổ chức chống lại nhà Thanh bị bại tràn sang Việt Nam. Tàn quân Thái Bình Thiên Quốc cướp phá các vùng thượng du khiến quân đội nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp rất phiền phức.[76]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài mục đích chính trị thì một phần cũng do dân chúng phải chịu nhiều thiên tai như lụt lội liên miên. Đê Văn Giang vỡ liên tiếp 18 năm lại thuộc tỉnh Hưng Yên là nơi đông dân nhất Bắc Hà nên làm phát sinh rối loạn. Thời kỳ này còn có quân Tam Đường do ba lãnh tụ: Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường nổi lên tại Thái Nguyên được quan Kinh Lược Nguyễn Đăng Giai đến phủ dụ nên đất Bắc được yên ổn. Khi Nguyễn Đăng Giai qua đời (1854), Bắc Kỳ lại mất an ninh, trật tự như cũ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khác với các cuộc nổi dậy khác, cuộc nổi dậy của nhóm Lê Duy Cự và Cao Bá Quát không cướp của giết người như những vụ loạn khác mà do sự bất mãn với triều đình. Mục tiêu của họ là lật đổ chính quyền nhà Nguyễn. Bởi cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Cự bùng ra cuối năm ấy mà khoảng tháng 5 có châu chấu phá hoại mùa màng dữ dội nên người ta gọi vụ này là "giặc châu chấu".[77]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cuộc nổi dậy này nhiều lúc dân nghèo đã phối hợp với quân lưu manh, đạo tặc để chống đối nên tuy làm cho Triều đình khốn đốn nhưng vì không có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, không có hiệu lệnh thống nhất, trước sau đều thất bại.[78]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài các cuộc nổi dậy của nông dân ở Bắc Kỳ còn có cả những bọn hung đồ nhân cơ hội Triều đình suy yếu, nổi lên tứ tung để cướp phá và lợi dụng dân lưu vong để rủ họ theo. Ngoài ra cũng có cũng có những người bị quân Pháp mua chuộc để quấy rối triều Nguyễn cho họ dễ hành động. Chưa kể còn có quân giặc người Tàu hoành hành ở miền thượng du Bắc Kỳ. Những cuộc biến động này khiến Triều đình phải dụng binh rất lâu, hao tổn binh lực và tài lực rất nhiều.[78]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1861, với chính sách của Triều đình Huế gia giảm các chương trình phúc lợi, giải tán các cộng đồng Công giáo, gia tăng kiểm soát mua bán lương thực, tăng thuế, cộng với nạn giặc cướp Khách đánh phá mạn ngược và bọn cướp biển Tàu Ô đánh cướp các làng ven biển, khiến tình hình miền bắc càng trở nên nguy hiểm, có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Các thành phần bị ảnh hưởng nặng nề nhất, dễ nổi lên đối kháng nhất là những nông dân bị nạn lũ lụt, các tộc người thiểu số nghèo khổ và các cộng đồng Công giáo bị ngược đãi.[79] Đây là những nhân tố khiến cho cuộc nổi dậy do Lê Duy Phụng cầm đầu đặc biệt nguy hiểm, khiến triều đình Huế phải hết sức vất vả mới đánh dẹp được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Tại Nam Hà&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Nam Hà ít xảy ra các cuộc nổi dậy chống triều đình hơn. Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi là một cuộc nổi dậy xảy ra vào thời vua Minh Mạng ở các tỉnh miền Nam Việt Nam. Lãnh đạo của cuộc nổi dậy này là Lê Văn Khôi nhóm họp những phần tử về phái địa phương phân quyền của Lê Văn Duyệt và những tù nhân Bắc Kỳ bị đi đày để nổi dậy[80]. Được võ quan, binh lính và dân chúng Phiên An vốn cảm tình với Lê Văn Duyệt đi theo rất đông[80] nên quân nổi dậy từng đánh chiếm được 6 tỉnh phía Nam nhưng sau đó triều đình đã nhanh chóng thu phục các tỉnh này, dồn quân nổi dậy vào cố thủ ở thành Phiên An năm 1835 khi thành Phiên An thất thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, tại Nam Hà, chính sách không phù hợp của nhà Nguyễn với người thiểu số, đặc biệt là người Khmer và chính sách đối ngoại với vương quốc Chân Lạp cũng gây bất mãn trong cộng đồng người Khmer, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình, như các cuộc nổi dậy Lâm Sâm, Ba Xuyên, Thất Sơn, Hà Tiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thời kỳ bị Pháp xâm lăng và đô hộ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do những việc cấm đạo và tàn sát giáo dân của vua Minh Mạng mà ngay trong năm 1838 đã có sĩ quan Hải quân Fourichon đề nghị nước Pháp gửi Hải quân tới can thiệp nhưng bị Ngoại trưởng Pháp là Guizot bác bỏ.[81] Dư luận Pháp thì sôi động vì sự ngược đãi giáo dân của Minh Mạng nên ủng hộ đề nghị dùng vũ lực.[82] Khi Thiệu Trị nối ngôi có thái độ mềm mỏng hơn, cho thả một số linh mục bị bắt và tỏ ý sẽ cho tàu sang Châu Âu mua bán nhưng sự kiện đụng độ tại Đà Nẵng năm 1847 giữa tàu Pháp và Việt khiến nhà vua tức giận và ông ra lệnh xử tử ngay tại chỗ tất cả người Âu bắt được tại Việt Nam.&lt;br /&gt;Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo[83]. Triều đình không có một biện pháp nào đối phó với phương Tây, ngược lại chỉ cấm đạo và cấm mua bán quyết liệt hơn trước[84][83]. Nhân vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu phản, tìm cách liên hệ với các giáo sĩ để soán ngôi mà nhà vua cho công bố 2 đạo dụ cấm đoán Công giáo các năm 1848 và 1851, từ 1848-1860, đã có hàng vạn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày.[84]. Cũng đồng thời lúc này, trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách: liên tiếp các năm 1864, 1866, 1868, 1867, 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng mà vua không quyết dưới sự bàn ra của các đình thần[85]. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa[86].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc cá nhân, vua Tự Đức không có con nên ông truyền ngôi lại cho một người con của anh mình là vương tử Nguyễn Phúc Ưng Chân[87]. Việc nối ngôi này liên tiếp gặp nhiều rối ren: Nguyễn Phúc Ưng Chân lên làm vua hiệu là Dục Đức được ba ngày thì bị phế bỏ rồi giết chết; một người con khác của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Hồng Dật lên nối ngôi tiếp với hiệu Hiệp Hòa tiếp cũng bị ép uống thuốc độc sau năm tháng, vị vua kế là Kiến Phúc cũng đột ngột qua đời (ghi là bệnh, nhưng nghi là bị đầu độc)[88]. Việc lập phế liên tiếp này chỉ kết thúc khi vua Hàm Nghi lên ngôi năm 1884[89].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Người Pháp vào Nam Kỳ&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Năm 1857, Hoàng đế Pháp Napoléon III đã thành lập Ủy hội Nghiên cứu vấn đề Nam Kỳ (Commission de la Cochinchine) gồm nhiều nhân vật thông thạo vùng Viễn Đông và Ủy hội này đã bày tỏ ý kiến nước Pháp phải chiếm cứ ba thương cảng Sài Gòn, Đà Nẵng, Kẻ Chợ để có lợi cho Pháp trên cả 3 phương diện tinh thần, chính trị và thương mại. Hoàng đế Napoléon III đã tán thành ý kiến của Ủy hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genouilly tiến quân để đánh chiếm Đà Nẵng để buộc triều Nguyễn phải chấp nhận cho các nhà truyền đạo Pháp độc quyền giảng đạo tại Việt Nam. Người Pháp tin là mục tiêu sẽ đạt được khi Đà Nẵng thất thủ, sau đó thì tùy vị Đô đốc toàn quyền quyết định các quan hệ với nhà Nguyễn. Chính sách của Pháp lúc này chỉ dừng lại ở việc chiếm 1 căn cứ dành cho việc thương lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù cho các giáo sĩ khẳng định là người Pháp sẽ được giáo dân nổi dậy ủng hộ nhưng trên thực tế họ chỉ nhận được sự lạnh lùng. Đô đốc Rigault de Genouilly thấy triều đình không muốn thương nghị mà lại chuẩn bị kháng cự, quân Pháp lại nhiễm dịch tả cũng như sốt rét rất nhiều nên ông quyết định gởi báo cáo về Paris và thay đổi mục tiêu xuống phía Nam. Ngày 18-2-1859, Đô đốc Rigault de Genouilly chiếm được Sài Gòn.[90]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1860, xung đột với nhà Thanh khiến 2 chính phủ Anh và Pháp phải quyết định cử lực lượng viễn chinh sang Trung Hoa, kể cả nhóm quân Pháp tại Nam Kỳ, chỉ còn 1 số rất ít quân Pháp và Tây Ban Nha ở lại chống cự các cuộc tấn công của Nguyễn Tri Phương.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Chính phủ Pháp khi đó muốn rút quân khỏi Nam Kỳ nhưng Đô đốc Rigault de Genouilly để quyền chỉ huy lại cho tướng François Page và trở về Paris, cố gắng biện hộ cho sự chiếm đóng tại Gia Định. Bộ trưởng Hải quân Pháp là ông Chasseloup-Laubat cũng tán thành ý kiến của Rigault de Genouilly. Do đó mà sau khi Hòa ước Bắc Kinh với Trung Hoa được ký, đô đốc Léonard Charner (mới thay François Page) đem 1 hạm đội gồm 70 chiến hạm và 3.500 người tới Nam Việt Nam.[90]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 2 năm 1861, quân Pháp chiếm Đại đồn Kỳ Hòa, Mỹ Tho thất thủ trong tháng 4. Trong suốt năm 1861, Đô đốc Charner tiếp tục mở rộng việc chiếm đóng quanh Gia Định và Mỹ Tho cũng như bắt đầu xây dựng bộ máy hành chính để quản lý khu vực chiếm đóng.&lt;br /&gt;Khi Đại đồn thất thủ, triều đình lập tức cho ông Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Bá Nghi thấy thế không chống đỡ nổi với quân Pháp nên gởi tấu về xin giảng hòa. Trong lúc này, Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thay thế Charner vẫn tiếp tục cho quân Pháp chiếm thêm Biên Hòa và Bà Rịa tháng 12/1861, Vĩnh Long tháng 3 năm 1862. Triều đình phải cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tới giảng hòa và miễn cưỡng chịu ký hiệp ước nhường 3 tỉnh miền Đông với đảo Côn Lôn cho quân Pháp và phải bồi thường chiến phí 4.000.000 đồng bạc (tương đương 20.000.000 franc) trong 10 năm cùng việc mở cửa thông thương ở Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.[91]&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đất Gia Định là vùng khai nghiệp và cũng là nơi cung cấp lương thực của triều Nguyễn nên vua Tự Đức vẫn cố gắng điều đình chuộc lại. Ông bèn sai Phan Thanh Giản làm Chánh sứ cùng các ông Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản sang Pháp thương nghị.&lt;br /&gt;Tại Pháp lúc này, ngoại trừ những người có quan hệ với Hội Ngoại quốc truyền giáo và các công ty làm ăn ở Á Đông, không mấy ai quan tâm tới xứ Nam Kỳ, kể cả Hoàng đế Napoléon III. Tuy nhiên, do sự nỗ lực vận động của Bộ trưởng Hải quân Pháp là ông Chasseloup-Laubat mà sau đó, Thiếu tướng De la Grandière trở thành Thống soái Pháp tại Nam Kỳ và ông này cự tuyệt mọi lời đề nghị chuộc đất của nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;Khi người Pháp chiếm được đất Gia Định, sự kháng cự được tổ chức mau chóng bởi các quan lại trung thành với triều đình với các lãnh tụ như Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Đạt...đã khiến người Pháp gặp phải nhiều sự khó khăn. Cuối năm 1861, Nguyễn Trung Trực trong trận Nhật Tảo đã đốt cháy chiến hạm Espérance, các đồn nhỏ cũng bị tấn công. Trong 3 năm rưới, quân Pháp thiệt hại tới 2.000 người.&lt;br /&gt;Tuy nhiên, lúc này phía Pháp lại được triều đình Huế chấp nhận thương thuyết do kinh thành đang thiếu lương thực trầm trọng bởi thóc gạo ở Nam Kỳ bị phong tỏa và cuộc nổi dậy của Lê Duy Phụng nổ ra khắp các tỉnh Đông Bắc Kỳ. Do đó mà Hòa ước Nhâm Tuất được ký ngày 5 tháng 6/1862 tại Sài Gòn và vì nhiều lý do mà Hòa ước này đã bị phản đối quyết liệt ở cả Pháp lẫn Việt Nam[92]&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vua Tự Đức hy vọng bằng thiện chí của mình sẽ có thể đi tới sửa đổi các điều khoản của Hòa ước và chỉ 5 tháng sau đó, triều đình bắt đầu yêu cầu sửa đổi nhưng sau khi các cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ do họ ngầm tổ chức bị Pháp dập tắt cũng như quân nổi loạn của Lê Duy Phụng hoành hành dữ dội trên đất Bắc thì các yêu cầu này đành phải bỏ. Dù ông Phan Thanh Giản ra sức giao hảo thân thiện với phía Pháp nhưng Thiếu tướng De la Grandière viện cớ các tỉnh miền Tây có liên hệ với các tổ chức chống Pháp ở miền Đông nên tháng 7/1867 quân Pháp vẫn tập kết ở Mỹ Tho định tấn công 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Biết không chống nổi, Phan Thanh Giản khuyên các quan ở 3 tỉnh nên đầu hàng còn ông viết sớ về triều tạ tội, di chúc cho con cháu quyết không được nhận quan chức gì của Pháp ở Nam Kỳ rồi nhịn ăn mà từ trần ngày 5 tháng 7/1867. Không cần có Hiệp ước mới, Lục tỉnh Nam Kỳ đã biến thành thuộc địa của nước Pháp.[93]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Người Pháp vào Bắc Kỳ &lt;/em&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay khi mới kiểm soát được Nam Kỳ, Trung tá Ernest Doudart de Lagrée cùng Đại úy Francis Garnier đã tiến hành thám hiểm ngược sông Mekong lên Vân Nam thuộc lãnh thổ của nhà Thanh và họ rút ra kết luận rằng không thể dùng con sông này để vận chuyển hàng hóa sang Trung Hoa được.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Thương gia người Pháp Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) trong trang phục kiểu Trung Hoa&lt;br /&gt;Năm 1868, Đại úy Garnier gặp 1 thương nhân Pháp là Jean Dupuis tại Hán Khẩu. Dupuis được Garnier cho biết rằng theo sông Hồng ở Bắc Kỳ có thể tới được Vân Nam khá thuận lợi nên đã tổ chức 1 đoàn thuyền và tự tiện lên Hà Nội, thuê thuyền nhỏ dỡ hàng hóa để thông thương sang Vân Nam (năm 1872). Khi trở về, bởi có lệnh cấm từ trước nên Jean Dupuis bị các quan địa phương ngăn cản, Dupuis cho rằng có lệnh của các quan Trung Hoa là đủ. Nguyễn Tri Phương ra Bắc yết thị cấm không cho người Việt và Hoa kiều giao thiệp với người tây, không cho chở hàng đi Vân Nam và đòi Jean Dupuis phải rời khỏi Bắc Kỳ. Triều đình yêu cầu phía Pháp bắt Dupuis vì theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 thì Hà Nội không phải nơi thông thương nhưng Dupuis kiên quyết ở lại. Triều đình phải cử quan Khâm sai Lê Tuấn cùng Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Tăng Doãn tới Sài Gòn thương nghị. Đô đốc Marie Jules Dupré yêu cầu Francis Garnier (lúc này đã lên chức Đại tá) ra Bắc để giải quyết vụ Dupuis. Garnier khi gặp Nguyễn Tri Phương có đề nghị ký 1 bản thương ước mở sông Hồng cho việc thông thương nhưng Nguyễn Tri Phương từ chối do chưa rõ ý kiến của triều đình Huế.&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Đại tá Garnier sau đó gửi cho các quan chức Việt Nam 1 bản tối hậu thư trong đó ông yêu cầu quân nhà Nguyễn phải giải giáp và cho Jean Dupuis tự do đi lại. Khi không nhận được thư trả lời đúng hẹn, ngày 20 tháng 11 năm 1873, quân Pháp bắt đầu tấn công. Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân lính phòng thủ nhưng chẳng bao lâu thì thành Hà Nội thất thủ, ông bị thương nặng. Bị quân Pháp bắt, Nguyễn Tri Phương nhịn ăn và qua đời sau đó. Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng tử trận. Sau khi Hà Nội thất thủ, quân Pháp chia nhau đi lấy các thành Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương và Ninh Bình. Không lâu sau, Đại tá Garnier bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục kích ở Cầu Giấy và bị giết ngay tại chỗ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều đình khi nhận được tin lập tức cho 2 Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường đi thương nghị với Đô đốc Marie Jules Dupré. Đô đốc Pháp không được chính phủ ủng hộ trong vụ Bắc Kỳ nên bằng lòng trả các thành lại cho các quan địa phương và ký Hòa ước mới. Sau vụ đụng độ ở Bắc Kỳ, quyền tự quyết về Ngoại giao của Việt Nam bị buộc phải giao cho người Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các năm 1876 và 1880, để đối phó với quân Pháp, sứ bộ Việt Nam do Phạm Thận Duật đi đầu đã sang Trung Hoa cần viện sự giúp đỡ từ nhà Thanh. Triều đình cũng chiêu nạp quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, phong ông này làm Đề đốc cùng các quan chống cự quân Pháp khiến họ lo ngại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, tình trạng mất an ninh ở Bắc Kỳ bởi các lượng lượng người Hoa, nhất là quân Cờ Đen khiến chính phủ Pháp phải lựa chọn hoặc là đặt sự bảo hộ hoàn toàn ở Bắc Kỳ hoặc là phải rút lui. Lựa chọn thứ 2 có thể làm nước Pháp tổn thất danh dự nặng nề nên ngay từ năm 1879, Thượng tướng Bernard Jauréguiberry đã yêu cầu gởi thêm 6.000 người sang Bắc Kỳ áp đặt nền bảo hộ nhưng chính phủ Pháp đã từ chối. Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers trong năm 1882 đã yêu cầu Đại tá Henry Rivière ra Bắc với 233 binh sĩ để bảo vệ các thương gia Pháp trước quân cướp tống tiền người Hoa.[94] Khi tới Hà Nội ngày 3 tháng 4/1882, Henry Rivière đã có ý chiếm thành. Le Myre de Vilers đã tỏ ý phản đối việc làm của Rivière nhưng lại có trách nhiệm phải che chở Henry Rivière.[95]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm 1882, quân Thanh do các tướng Tạ Kính Bưu và Đường Cảnh Tùng vượt biên giới sang đóng ở Bắc Ninh và Sơn Tây. Triều Nguyễn khi đó đã yêu cầu nhà Thanh can thiệp trong khi Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh thương thảo với Tổng đốc Trực Lệ Lý Hồng Chương về 1 sự phân chia Bắc Kỳ dọc theo sông Hồng giữa 2 nước. Đại tá Rivière sau đó đã cho quân đi đánh chiếm nhiều nơi như Hòn Gai và Nam Định nhưng sau đó các quan viên triều Nguyễn như Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên, Hoàng Kế Viêm đe doạ kéo quân bao vây người Pháp ở Hà Nội. Trong khi xuất quân phá vây, Rivière bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc hạ sát sáng ngày 19-5-1883.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4 ngày trước cái chết của Rivière, Quốc hội Pháp thông qua 1 khoản ngân sách 5.500.000 franc cho phép gởi thêm quân lực tới xứ Bắc Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiểu rằng vấn đề Bắc Kỳ chỉ có thể giải quyết ở Huế, bộ chỉ huy Pháp muốn lợi dụngnhững biến loạn xảy ra khi vua Tự Đức băng hà ngày 17-7-1883, tướng Courbet đem hạm đội đi đánh cửa Thuận An buộc triều đình phải xin hưu chiến và chấp nhận ký kết Hiệp ước Harmand. Dù vậy, phái chủ chiến của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chỉ coi đây là 1 kế hoãn binh mà thôi.[96] Thuyết và Tường đã cổ vũ thành lập những đội nghĩa quân chống Pháp, đắp đồn xung quanh kinh thành và cho xây dựng căn cứ Tân Sở. Trong khi hàng vạn nhân công đang xây dựng căn cứ trong miền rừng núi Quảng Trị thì vua Hiệp Hoà chủ trương hoà giải bị cho là nhu nhược và bị ép phải tự tử. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập Kiến Phúc kế vị.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các chiến hạm nhà Thanh Yangwu và Fuxing bị tấn công bởi các Khinh tốc đỉnh số hiệu No. 46 và No. 45 của Pháp tại cảng Phúc Châu ngày 23 tháng 8/1884 trong chiến tranh Pháp-Thanh. Tranh vẽ của Charles Euphrasie Kuwasseg năm 1885&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong năm 1884 quân Pháp được tiếp viện dồi dào đã chiếm được nhiều tỉnh giàu có của Bắc Kỳ. Tháng 5/1884, Hiệp ước Thiên Tân được ký giữa Lý Hồng Chương và đại diện Pháp Fournier cam kết quân Thanh phải rút hết về nước và tôn trọng các hiệp ước đã ký giữa triều Nguyễn và người Pháp. Triều Nguyễn cũng phải chấp nhận sửa đổi 1 số điều kiện trong Hiệp ước Harmand và ký với Jules Patenôtre, lãnh sự Pháp tại Bắc Kinh Hiệp ước Patenôtre ngày 6-6-1884. Với Hiệp ước Patenôtre thì việc thiết lập nền bảo hộ của Pháp trên nước Việt Nam không còn bị ngăn cản nữa.[97]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Chiến tranh Pháp-Thanh&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai tuần sau khi Hiệp ước Patenôtre được ký kết, 1 đội quân Pháp chạm trán với quân Thanh tại làng Bắc Lệ, gần Lạng Sơn. Chính phủ Pháp coi đây như 1 cuộc tấn công có chủ ý và muốn nhân cơ hội này loại bỏ chướng ngại Trung Hoa. Đô đốc Anatole-Amédée-Prosper Courbet đánh phá Phúc Châu và chiếm cứ quần đảo Pescadores nhưng sau đó họ phải rút lui ở Lạng Sơn và Thủ tướng Pháp Jules Ferry bị lật đổ. Hiệp ước sau đó tái xác nhận Hiệp ước Thiên Tân và Trung Hoa không còn lý do để can thiệp tại Việt Nam nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Phong trào Cần Vương&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1885, phải chủ chiến trong triều đình dậy tấn công Pháp ở kinh đô Huế nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạỵ ra Tân Sở thuộc Quảng Trị; tại đây Tôn Thất Thuyệt mượn danh nghĩa vua Hàm Nghi phát chiếu Cần Vương kêu gọi người Việt nổi dậy đánh Pháp giúp vua. Hưởng ứng lời kêu gọi này, nhiều cuộc nổi dậy đã nổ ra trong đó tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy, khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng, khởi nghĩa ở Hưng Hóa do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo... Phong trào vẫn tiếp tục phát triển cả sau thời gian vua Hàm Nghi bị Pháp bắt giữ (năm 1888); nó chỉ thực sự chấm dứt khi lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Hương Khê là Phan Đình Phùng chết cuối năm 1895.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên nhân sự thất bại của các phong trào kháng Pháp bởi sự kháng cự của họ chỉ có tính cách địa phương. Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên 1 quy mô lớn hơn. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng. Ngoài ra, các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng.[98]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những lý do trên, sự thất bại của phong trào này còn bởi những sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp. Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại.[99] Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp. Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ. Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả.[100]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Triều Nguyễn thời Pháp thuộc&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Quân Pháp xâm lược&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Theo các Hòa ước Harmand và Hòa ước Patenôtre thì chính sách ngoại giao, quân sự và tài chánh do nước Pháp kiểm soát nhưng không có sự hợp nhất giữa 2 quốc gia Đại Nam và Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nước Pháp sau khi không mua chuộc được vua Hàm Nghi bèn cho ông đi an trí ở Algeria. Sau đó anh trai vua là Nguyễn Phúc Ưng Biện kế vị, lấy niên hiệu là Đồng Khánh[101].&lt;br /&gt;Vua Đồng Khánh bị trách là đã lên ngôi trong những điều kiện quá nhục nhã đối với quốc gia. Bị cô lập và thiếu kinh nghiệm, ông phải nhượng bộ cho người Pháp để đổi lấy sự giúp đỡ về mặt hành chính và quân sự. Năm 1887, Liên bang Đông Dương được thành lập gồm thuộc địa Nam Kỳ, 2 xứ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng Lào và Cao Miên đều đặt dưới 1 viên quan Toàn quyền Đông Dương người Pháp.&lt;br /&gt;Năm 1888, vua Đồng Khánh còn phải nhường cho nước Pháp mọi quyền hành trên 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, 3 khu vực này cũng trở thành 3 thuộc địa.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Quyền hành của nhà vua còn bị hạn chế hơn nữa khi Paul Doumer trở thành Toàn quyền Đông Dương. Từ 1897-1902, toàn quyền Paul Doumer đã áp dụng 1 chính sách cai trị độc tài, loại bỏ dần ảnh hưởng của triều Nguyễn. Quan lại cấp tỉnh phải phụ thuộc trực tiếp Thống sứ Pháp, cai trị xứ Bắc Kỳ nhân danh Hoàng đế nhưng lại không cần phải nghe lệnh của vị vua Đại Nam. Các quan cũng phải nhường cho Công sứ Pháp quyền đề cử và bổ nhiệm hương chức. Cơ quan hành chính Pháp cũng phụ trách thu thuế và giao cho ngân khố của triều đình một ngân sách cần thiết cho việc duy trì triều đình. Paul Doumer đã thay thế chế độ bảo hộ bằng chế độ trực trị và triều đình từ lúc đó chỉ còn giữ lại được những hình thức bề ngoài. Vua Thành Thái vào năm 1907 đã bị ép phải thoái vị khi không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận. Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San được đưa lên nối ngôi, tức vua Duy Tân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng như vua cha Thành Thái, Duy Tân là người có tư tưởng chống Pháp. Năm 1916, ông liên kết cùng Việt Nam Quang Phục Hội của nhóm Thái Phiên và Trần Cao Vân nổi dậy nhưng thất bại và bị đày ra đảo La Réunion cùng lúc với cha mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp để đòi hỏi nước Pháp phải cho người Việt được tham gia chính trị nhiều hơn nhưng cuộc hành trình này đã không đem lại kết quả nào.[102] Chuyến đi này đã bị Nguyễn Ái Quốc châm biếm trong tác phẩm Vi hành của ông đăng trên báo L'Humanité số ngày 19 tháng 2 năm 1923.[103]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 6 tháng 11 năm 1925, lợi dụng việc vua Khải Định vừa qua đời, Toàn quyền Alexandre Varenne đã ép vị vua mới là Bảo Đại mới 12 tuổi phải ký thỏa ước giao cho quan Khâm sứ Pháp các quyền hạn cuối cùng. Thậm chí nhà vua còn không thể lựa chọn các Thượng thư và quan chức. Nước Đại Nam trên thực tế đã trở thành 3 mảnh có đời sống và thể chế riêng biệt. Nam Kỳ sáp nhập vào Pháp, Bắc Kỳ gần như 1 thuộc địa và Trung Kỳ là nơi mà quy chế bảo hộ chỉ là lý thuyết[104]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Sự sụp đổ của nhà Nguyễn&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi trở về nước năm 1932, Bảo Đại đã mong muốn cải cách xã hội Việt Nam nhưng phong trào này đã chết yểu bởi sự đối địch giữa các quan Thượng thư của ông như Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm cũng như sự chống đối của giới bảo thủ và chính phủ bảo hộ Pháp. Nhà vua nản lòng sớm, chuyển sang tiêu khiển bằng bơi thuyền và săn bắn.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trước thực tế nhà Nguyễn không còn khả năng chống Pháp, nhiều đảng phái cách mạng được tổ chức để đánh đuổi người Pháp. Việt Nam chi bộ của hội Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Đông. Năm 1926, Tân Việt Cách Mạng Đảng hoạt động ở Hà Tỉnh và Sài Gòn. Năm 1927, Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1928, Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh lập Đệ Tứ Quốc tế. Năm 1930, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội đổi ra Đông Dương Cộng Sản Đảng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp giành chiến thắng cho phép không khí chính trị dễ thở hơn. Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chính phủ bảo hộ không cho phép đảng phái chính trị nào hoạt động. Dù vậy chính phủ Pháp đã nhượng bộ 1 phần trước các cuộc bãi công của công nhân. Năm 1937, phong trào đình công và biểu tình lại tái phát vượt quá tính chất nghề nghiệp để mang nhiều tính chính trị hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế chiến II bùng nổ, Nhật Bản mang quân vào đánh chiếm Đông Dương. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, dựng lên chính quyền do Trần Trọng Kim làm thủ tướng thay thế cho Nội các Phạm Quỳnh tại Huế. Nhưng chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại được 4 tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15/8/1945, Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám, đưa Việt Nam trở thành nước độc lập từ tay người Nhật và người Pháp. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị, chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán và Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch chính thức tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện Bảo Đại thoái vị chính thức đánh dấu sự sụp đổ của nhà Nguyễn (mặc dù sau đó, Bảo Đại còn tiếp tục làm quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam từ 1 tháng 7 năm 1949 đến 26 tháng 10 năm 1955). Sự kiện này cũng đã đánh dấu sự chấm dứt hơn 1000 năm chế độ phong kiến ở Việt Nam. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm, có 13 vua thuộc 7 thế hệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Di sản&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản cho dân tộc Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại trong năm 2003.[105]&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Quần thể di tích Cố đô Huế cũng được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Phần lớn các di tích này hiện nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ như đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát dưới triều vua Gia Long năm 1803 đến khi hoàn chỉnh triều vua Minh Mạng vào năm 1832.[106]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh thành Huế thực sự là một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà một thuyền trưởng người Pháp là Le Rey khi tới Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng”.[106]&lt;br /&gt;Giáo sư Phan Huy Lê đã nhận xét: "Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy". [107]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn cũng để lại hệ thống thư tịch khổng lồ; hệ thống giáo dục, kho lưu trữ châu bản; hàng ngàn đình, chùa miếu, nhà thờ... trải dài từ Nam chí Bắc... Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi như một thứ tàn dư của phong kiến thối nát.[108].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lệ bất khả&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong giới sử học hiện nay hình thành 2 luồng ý kiến khác nhau về lệ bất khả của nhà Nguyễn. Nguyễn Phan Quang và Trương Hữu Quýnh cho rằng: để đề cao uy quyền nhà vua và ngăn chặn nạn quyền thần lấn át hoàng đế, vua Gia Long đã đặt ra lệ Tứ bất: Trong triều không lập Tể tướng, thi đình không lấy Trạng nguyên, trong cung không lập Hoàng hậu, không phong tước vương cho người ngoài họ vua[109][1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê Nguyễn có ý kiến ngược lại về vấn đề này, tuy nhiên ông chỉ đề cập tới "tam bất" chứ không phải "tứ bất":&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Trong khi triều Nguyễn có một Quốc sử quán làm việc thật hiệu quả, đã cho ra đời những bộ sử... lớn lao, thì không thấy ai viện dẫn một chỉ dụ nào của các vua Nguyễn quy định những điều bất khả đó..."[110].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bất khả trạng nguyên&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực tế là triều Nguyễn không có một trạng nguyên nào. Trạng nguyên là người xếp hạng cao nhất trong số các tiến sĩ dự kỳ thi Đình dưới các triều đại trước. Thời Nguyễn, triều đình tổ chức thi Hội để lấy tiến sĩ và thi Đình để xếp hạng các ông nghè; các tân khoa tiến sĩ dự thi Đình được xếp theo giáp đệ, còn gọi là tam giáp:&lt;br /&gt;• Đệ nhất giáp&lt;br /&gt;• Đệ nhị giáp gọi là đệ nhị giáp tiến sĩ cập đệ hay tiến sĩ hoàng giáp&lt;br /&gt;• Đệ tam giáp là đệ tam đồng tiến sĩ hay tiến sĩ xuất thân&lt;br /&gt;Việc xếp hạng tiến sĩ như trên không phải là sáng kiến mới của nhà Nguyễn nhằm “né tránh” danh hiệu trạng nguyên hay hạ thấp địa vị của người thi đỗ cao nhất, mà việc này từng thực hiện dưới các triều đại trước:&lt;br /&gt;• Năm 1232 thời Trần Thái Tông, mở thi Thái học sinh, "lấy Trương Hanh, Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp"[111]&lt;br /&gt;• Năm 1442 thời Lê Thái Tông, “Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Như Hộc ba người đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ tiến sĩ đồng xuất thân…”[112].&lt;br /&gt;• Năm 1499 thời Lê Hiến Tông, “cho Đỗ Lý Khiêm, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Khắc Kiệm ba người đỗ tiến sĩ cập đệ, bọn Hoàng Trưng, Nguyễn Hằng 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân…”[113].&lt;br /&gt;Lê Nguyễn khẳng định cách thức xếp hạng tiến sĩ trong thi Đình theo giáp đệ đã xuất hiện trước khi có danh hiệu trạng nguyên và không có gì khác biệt giữa hai cách gọi trên. Do đó, việc triều Nguyễn áp dụng hình thức giáp đệ trong thi đình mà không chọn trạng nguyên là rất bình thường, không xuất phát từ một lệ “bất khả” nào[114].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bất khả hoàng hậu&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thực tế sử sách ghi nhận nhà Nguyễn có ít nhất 3 hoàng hậu: 2 hoàng hậu thời Gia Long là Thừa Thiên Cao hoàng hậu (mẹ hoàng tử Cảnh) và Thuận Thiên Cao hoàng hậu (mẹ Minh Mạng) và 1 hoàng hậu thời Bảo Đại là Nam Phương hoàng hậu.&lt;br /&gt;Ngoài ra, sử liệu nhà Nguyễn không hề phủ nhận sự tồn tại của ngôi vị hoàng hậu[115]:&lt;br /&gt;• Sách Minh Mệnh chính yếu ghi: “Nay châm chước đời xưa vá đời nay, đặt bị quý phi, thần phi vào bậc nhất… trên bậc nhất đặt một vị hoàng quý phí để giúp hoàng hậu điều khiển chính sự trong cung”&lt;br /&gt;• Sách Đại Nam điển lệ toát yếu dành hẳn khoản 183 để định nghi thức “tuyên sách văn lập hoàng hậu”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê Nguyễn cho rằng: việc các triều vua từ Minh Mạng tới Khải Định không phong hoàng hậu không xuất phát từ lệ nào mà vì chưa tìm được người xứng đáng hoặc chưa thấy cần làm[115].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bất khả tể tướng&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Gia Long đặt quan chế trên cơ sở tham khảo thời Hậu Lê. Sang thời Minh Mạng có việc tổ chức lại bộ máy và áp dụng tới hết thời Nguyễn, theo đó đứng đầu bộ máy quan lại là tứ trụ triều đình. Khi tham khảo sử sách các đời trước cũng rất khó tìm thấy chức danh tể tướng trong hàng quan lại đầu triều[116]:&lt;br /&gt;• Thời Tiền Lê: Đứng đầu là thái sư, thái úy, tổng quản&lt;br /&gt;• Thời Lý: Thái sư, thái phó, thái bảo, tổng quản, tướng công&lt;br /&gt;• Thời Trần: lấy ba chức thái, ba chức thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo), thái úy, tư đồ, tư mã, tư không. Chức Tể tướng thì thêm danh hiệu Tả hữu tướng quốc bình sự&lt;br /&gt;• Thời Hậu Lê, trong quan chế thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) năm 1471 và được áp dụng phổ biến trong các triều vua Hậu Lê sau, không thấy có chức danh tể tướng.&lt;br /&gt;Như vậy việc triều Nguyễn không đặt chức danh tể tướng cũng là điều bình thường như các triều đại trước, không có cơ sở để khẳng định đó là một điều quy định “bất khả tể tướng” của nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê Nguyễn cho rằng việc nhà Nguyễn không đặt chức danh tể tướng, áp dụng chế độ khoa cử đỗ tam giáp và nhiều triều vua không phong hoàng hậu không có gì là bất thường và không phải là sự áp dụng riêng biệt của triều đại này, mà nó phù hợp và tiếp thu theo thông lệ từng có ở các triều đại trước[117].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nhận định&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn là vương triều đã hoàn thành việc chấm dứt chia cắt, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài dù rằng phong trào Tây Sơn là những người đầu tiên thực hiện quá trình này (thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt)[a].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền dân tộc, chống mọi sự vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp như trấn áp quyết liệt Công giáo thời kỳ Minh Mạng và Tự Đức[b].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Vấn đề cải cách&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Theo Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường Đại học Khoa học Huế), đối với những đề xướng cải cách, thái độ của nhà Nguyễn là tiếp nhận các điều trần chứ không quay lưng. Vua Tự Đức và triều thần dường như đã đọc không bỏ sót một bản điều trần nào của các nhà cải cách gửi về Huế;... đồng thời đã tổ chức thực hiện việc cải cách ở một số lĩnh vực. Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã thất bại trong việc cải cách, những công việc tiến hành chưa nhiều và không đồng bộ, không thể tạo ra một cuộc cải cách thực sự như “Minh Trị duy tân” ở Nhật Bản, để rồi dang dở bất thành[118]. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những nguyên nhân cơ bản là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Cuộc cải cách của triều Nguyễn gặp phải hạn chế khách quan là không hề có những hậu thuẫn quan trọng về xã hội, thiếu hẳn một giai cấp đủ năng lực tiến hành cải cách.&lt;br /&gt;2. Giai cấp phong kiến Việt Nam chưa có khuynh hướng tư sản hóa nên số đông triều thần nhà Nguyễn đã bị tầm nhìn hạn hẹp và sự thủ cựu chi phối, năng lực bản thân hạn chế.&lt;br /&gt;3. Không có người biết tổ chức, quản lý, tay nghề không có, kỹ thuật yếu kém.&lt;br /&gt;4. Sau khi Nam Kỳ mất, tiềm lực quốc gia hao mòn quá lớn, nguồn tài chính cạn kiệt, mất mùa đói kém triền miên, dân chúng nổi lên khắp nơi, nên sự đầu tư cho cuộc canh tân không đủ, nhiều chương trình học nước ngoài bị bỏ dở nửa chừng. Riêng nguyên nhân này còn có tác động từ phía Pháp: không ít lần người Pháp đã ngăn không cho du học sinh Việt Nam ra nước ngoài học; hoặc việc mua tàu máy, vũ khí của nước ngoài cũng bị Pháp phá hỏng...[118].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nguyên nhân mất nước&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Có những ý kiến khác nhau về trách nhiệm của các vua nhà Nguyễn đối với việc Việt Nam mất vào tay người Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Việt Sử tân biên, Phạm Văn Sơn cho rằng Việt Nam mất vào tay thực dân Pháp là một tất yếu lịch sử, hoặc ít ra cũng do trình độ dân trí Việt Nam quá thấp kém so với người Pháp.[119][c] Ngược lại, các nhà sử học miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có xu hướng quy trách nhiệm hoàn toàn cho các vua Nguyễn đối với việc mất nước rằng Nguyễn Ánh đã "cõng rắn cắn gà nhà" và Tự Đức "bán rẻ đất nước" cho thực dân[119].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phía Pháp, sử gia Gosselin nói rằng các hoàng đế An Nam phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Dân xứ này, quan lại, binh lính xứng đáng có được những người cầm đầu có giá trị hơn thế. Chính quyền họ đã mù quáng vì không dự liệu, không chuẩn bị gì hết[119].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Nguyễn Phan Quang có ý kiến như sau: Mất nước không phải là tất yếu... Triều Nguyễn thua Pháp vì lúng túng về đường lối chính trị dẫn đến lúng túng về quân sự, tuy quân lực không yếu mà tự phải thua. Sự lúng túng còn thể hiện trong nỗi lo sợ trước luồng tư tưởng mới đang tràn vào. Lo sợ, nhưng không có giải pháp hữu hiệu, đành thu mình đóng kín. Càng lúng túng hơn khi nhà Nguyễn đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn nội bộ rất nghiêm trọng, mà những mâu thuẫn này lại bị sự chi phối rất mạnh của các áp lực từ bên ngoài. Riêng đối với đạo Gia-tô thì triều Nguyễn đã từ lúng túng đi đến bế tắc, không đủ sức chuyển đổi tư duy để có biện pháp thích hợp[119].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến cho rằng: Nhà Nguyễn chú trọng tới việc giữ chủ quyền đất nước, trong đó có việc cấm đạo. "Những chính sách cực đoan của nhà Nguyễn với Thiên chúa giáo không hề xuất phát từ đầu óc kỳ thị tôn giáo thuần túy, mà chính xuất phát từ nhận thức giữa Thiên chúa giáo với phương Tây là dấu nối như một thể đồng nhất. Vì thế, trong cách nhìn của triều Nguyễn, ngăn cấm Thiên chúa giáo là ngăn chặn phương Tây hiện diện tại Việt Nam, chứ không phải ngăn cấm một tôn giáo đơn thuần. Tuy nhiên, cách làm của nhà Nguyễn đã phản tác dụng, gây phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, tạo vết hằn lịch sử đau thương giữa lương và giáo, đồng thời khiến phương Tây có lý do nổ súng xâm lược và lợi dụng đồng bào có đạo trong suốt thời gian thống trị."[120]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Phan Huy Lê thì cho rằng: Kết luận trước đây cho rằng Tự Đức bạc nhược đầu hàng, phản bội dân tộc là chưa thỏa đáng, chưa khách quan. Ông và triều Nguyễn đã tìm mọi cách bảo vệ đất nước và cũng là bảo vệ vương triều đến cùng, nhưng do năng lực và nhãn quan chính trị nên không đề ra được đối sách đúng để giành thắng lợi trước một thế lực xâm lược hoàn toàn mới, mà lịch sử trước đây chưa để lại kinh nghiệm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cả khu vực Đông Nam Á và Đông Á, tất cả các quốc gia đều mất nước, hoặc thành thuộc địa, hoặc thành nửa thuộc địa. Chỉ riêng Nhật Bản và Thái Lan giữ được độc lập...Nhật Bản thời Minh Trị thực hiện cuộc cải cách lớn, nhưng tình hình kinh tế xã hội của Nhật có khác các nước phương Đông, bắt đầu từ thế kỷ XVII khi đóng cửa với bên ngoài nhưng bên trong phát triển kinh tế rất mạnh, tạo lập những tiền đề cho cuộc cải cách. Thái Lan thì có cách ứng xử rất khôn ngoan, tận dụng được vị thế vùng đệm nằm giữa 2 thế lực đế quốc rất mạnh, Anh ở phía Ấn Độ, Pháp ở phía Đông Dương, lợi dụng được mâu thuẫn và cạnh tranh gay gắt này để duy trì thế độc lập tương đối...không thể phủ nhận trách nhiệm của triều Nguyễn là nhà nước quản lý đất nước, nhưng lúc phân tích nguyên nhân mất nước thì phải hết sức khách quan, toàn diện, đặt trong bối cảnh lịch sử mới của khu vực và thế giới, không nên quy kết một cách giản đơn.[121]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì: "Vương triều Nguyễn tuy không bán nước nhưng đã để mất nước (cho đến năm 1945). Tất nhiên, đây là khó khăn chung của các nước nhược tiểu mà triều đình nhà Nguyễn không thể vượt qua được thời đại trong tình hình Đông - Tây bấy giờ. Nhược điểm này chính là lý do mà một số người đã nêu ra để báng bổ vương triều ấy một cách nặng lời nếu không nói là quá đáng. Chủ yếu là do nhận thức phiến diện và thái độ cực đoan của một giai đoạn lịch sử."[122]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng với Tự Đức và các triều thần, Nguyễn Quang Trung Tiến nhìn nhận và lý giải điều mà nhiều sách vở từng gọi họ là "bạc nhược" dưới góc độ khác, từ nguyên nhân bế tắc trong cải cách: "Suốt hơn 20 năm kể từ khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã không thể giải quyết mâu thuẫn giữa cải cách mới có thể chống Pháp thành công và muốn chống Pháp thành công thì phải cải cách; vì thế, triều Nguyễn đã để mất dần lãnh thổ và phải lần lượt ký kết nhiều hiệp ước bất bình đẳng với thực dân Pháp. Sự bế tắc này dễ làm người ta liên tưởng vua Tự Đức và triều đình Huế đã theo đuổi một đường lối chống Pháp nhu nhược, thỏa hiệp, cuối cùng chấp nhận đầu hàng giặc.&lt;br /&gt;"Hai hiệp ước Harmand (25-8-1883) và Patenôtre (6-6-1884) do triều Nguyễn ký kết với Pháp diễn ra sau ngày vua Tự Đức mất, nhưng đó là kết quả khó tránh khỏi của một kế sách dùng dằng, bế tắc của người tiền nhiệm."[118].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam: "Kết cục của triều Nguyễn có thể gọi là sự đầu hàng để mất nước. Nhưng đừng quá lời coi đó là sự bán nước vì không thể không nói đến gần 20 năm phản kháng chống xâm lược không chỉ của dân chúng mà cả triều đình. Những cuộc chiến đấu dũng mãnh của quan quân triều đình cùng nhân dân trên cửa biển Sơn Trà, trên thành Điện Hải, của quân dân Nam Bộ trên chiến lũy Kỳ Hoà, trên cổng thành Cửa Bắc Hà Nội với cái chết anh hùng của hai vị Tổng đốc thành Hà Nội là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu là bằng chứng..."[123]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư sử học Nguyễn Khắc Thuần khẳng định trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc mất nước, bất luận nhìn từ góc độ nào: "Việc Pháp đánh Việt Nam là một tất yếu khách quan; việc nhà Nguyễn để mất nước có phải là tất yếu khách quan hay không, đó là một dấu hỏi lớn, là chủ đề của nhiều hội thảo khoa học của nhiều thế hệ nhà sử học. Thực tế cho thấy không phải nhà Nguyễn buông súng từ đầu và không phải các hoàng đế nhà Nguyễn đều bạc nhược. Chúng ta có quyền nhìn nhận việc mất nước từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn từ góc độ nào thì nhà Nguyễn cũng phải chịu trách nhiệm về thảm họa mất nước"[124]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Quan điểm đánh giá&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1945 đến trước năm 1975, đã có những ý kiến đánh giá phê phán nhà Nguyễn rất gay gắt ở miền Bắc. Ngay từ năm 1961, ngay trước khi cho ấn hành tập đầu tiên của bộ Đại Nam thực lục, Viện Sử học miền Bắc đã viết nhận định:[125].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Những sự kiện lịch sử xảy ra trong khoảng thời gian từ Nguyễn Hoàng đến Đồng Khánh [1558-1888], những công việc mà các vua [chúa] nhà Nguyễn đã làm trong khoảng thời gian 330 năm ấy, ... tự chúng tố cáo tội ác của nhà Nguyễn trước lịch sử của dân tộc chúng ta". "Theo lệnh của các vua nhà Nguyễn, bọn sử thần của nhà Nguyễn làm công việc biên soạn Đại Nam thực lục đã cố gắng rất nhiều để tô son vẽ phấn cho triều đại nhà Nguyễn ..." và "Nhưng bọn sử thần ấy vẫn không che giấu nổi các sự thật của lịch sử. Dưới ngòi bút của họ, sự thật của lịch sử ... vẫn phơi bày cho mọi người biết tội ác của bọn vua chúa phản động, không những chúng đã cõng rắn cắn gà nhà, mà chúng còn cố tâm kìm hãm, đày đọa nhân dân Việt Nam trong một đời sống tối tăm đầy áp bức".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bản năm 1971 cũng cho rằng "triều Nguyễn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tội ác trời không dung, đất không tha, để cho tên tuổi đất nước một lần nữa, sau hàng ngàn năm độc lập, bị quân cướp nước xóa khỏi bản đồ Thế giới"[126].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài. Gia Long lên làm vua lập ra triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân ... Triều Nguyễn là vương triều tối phản động ... Bản chất cực kỳ phản động của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố, trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và những người thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em ..."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, nó không có cơ sở xã hội nào khác ngoài giai cấp địa chủ. Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819) đến Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1847-1883) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng các hành động lật đổ. Chính vì kiếp nhược trước phong trào nhân dân mà nhà Nguyễn không dám đóng đô ở Thăng Long, phải dời vào Huế".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra còn các nhận định trong các tiểu mục khác như "Tăng cường bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát", "Chế độ áp bức bóc lột nặng nề", "Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động", "Chính sách đối ngoại mù quáng", v.v... và trong tập II của bộ Lịch sử Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội còn dùng những từ ngữ như:"triều đình nhà Nguyễn thối nát và hèn mạt","Vương triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn", "cực kỳ ngu xuẩn", "tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh... Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sự phục thù giai cấp", v.v...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì "Đọc “Lời giới thiệu” trong bản dịch bộ “Đại Nam thực lục” và học các chương mục lịch sử chính thống với những lời lẽ như vừa nêu, độc giả và học sinh sinh viên trong cả nước chắc hẳn đều phải phẫn nộ và căm thù các vua chúa nhà Nguyễn đến tận xương tủy! Có một điều ghi rõ trong “Lời nhà xuất bản” ở tập II của bộ “Lịch sử Việt Nam” là sách này đã được “viết theo đề cương” và “tư tưởng chỉ đạo” từ trên xuống. Nghĩa là các tác giả đã viết theo quan điểm lập trường của lãnh đạo chứ không phải viết theo tư duy sử học của cá nhân..."[125].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù vậy, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ sách lịch sử do Ủy ban Khoa học Xã hội chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn [127].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định, thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XIX là một thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết sức khác nhau, có những lúc gần như đảo ngược lại. Triều Nguyễn được đặt trong “khung” lý thuyết hình thái Kinh tế xã hội là triều đại suy vong, lâm vào khủng hoảng nặng nề, và chịu nhiều phán xét không công bằng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo ông Nguyễn Đắc Xuân (Hội sử học Thừa Thiên – Huế), nhận định sai về nhà Nguyễn còn có 4 xu hướng: con cháu nhà Lê – Trịnh viết về nhà Nguyễn có những điểm sai; thực dân Pháp, Thiên chúa giáo và những người nghiên cứu nhà Tây Sơn, thích Tây Sơn đều có những đánh giá sai về nhà Nguyễn[107].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quan điểm phê phán nhà Nguyễn chi phối xã hội miền Bắc (từ năm 1954) và miền Nam (từ sau năm 1975) trong một thời gian dài nên nhiều di tích có liên quan bị hủy hoại, xoá bỏ các hình thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” như Duy Tân cũng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội...[127]. Cũng theo ông Phan Thuận An, chỉ trong hai thập niên gần đây (1987-2008), nhiều cuộc hội thảo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn dễ chịu hơn chứ không còn gay gắt như trước đối với vương triều này [125].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, trong quyển Đại cương Lịch sử Việt Nam tập II do Đinh Xuân Lâm biên soạn ngày nay (bản năm 2007) cũng vẫn cho rằng "triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ"[128]. Ông Lâm cũng cho rằng nhà Nguyễn "là 1 nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với 1 chế độ chính trị lạc hậu, phản động"[128]. "Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn"...[128] và các biện pháp khai hoang hay mộ dân lập ấp đều "xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị".[129] "Để duy trì chế độ xã hội thối nát nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách." "Đối nội, chúng ra sức đàn áp khủng bố các phong trào của quần chúng" và "Đối ngoại, chúng ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì chúng thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan toả cảng và cấm đạo, giết đạo..." "Với những chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây"[130].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lý giải về thái độ đánh giá trên, giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng: "nguyên do sâu xa của vấn đề này là do bối cảnh chính trị của đất nước (Việt Nam) thời bấy giờ và cách vận dụng phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu"... "Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) trong thời gian từ 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn sử địa, Đại học sư phạm, Nghiên cứu lịch sử và biểu thị tập trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam..."[131].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng có ý kiến tương tự, cho rằng do chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam mà các nhà biên soạn sách đã có thái độ khắt khe với nhà Nguyễn.[132]. Theo Nguyễn Đình Đầu, việc dùng những khái niệm như đấu tranh giai cấp, giai cấp địa chủ, giai cấp nông dân, giai cấp phong kiến, tập đoàn thống trị, chiến tranh Cách mạng, tước đoạt tư liệu sản xuất, bóc lột sức lao động... lên xã hội nông nghiệp phương Đông trong sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà biên soạn là gượng ép.[132]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà sử học Dương Trung Quốc thì tin là bởi "Bối cảnh chính trị của cuộc cách mạng “phản đế- phản phong” cùng lập trường đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã kéo dài sự đánh giá một sắc màu tiêu cực về nhà Nguyễn...". Ông cũng cho rằng "Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị." và "Trong nhận thức ấy, xin đừng trách nền sử học một thời đã từng lên án nhà Nguyễn với những đánh giá mà ngày nay ta thấy thiếu sự công bằng."[127]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Trần Quốc Vượng là người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ “Sông Hương” (Huế) vào năm 1987 "Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình, và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay".[127]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiện nay, theo giáo sư Phan Huy Lê, "cần thiết phải khẳng định công lao của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong việc mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, phát triển giáo dục, văn hóa. Những gì được coi là “tội” của các vua chúa Nguyễn cũng phải được xem xét lại cho thật công bằng"[133].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và giáo sư Phan Huy Lê cũng đặt câu hỏi "việc Nguyễn Ánh “diệt” Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc, Quang Toản có phải là phản tiến bộ hay không, khi mà những chính quyền này đã suy yếu và mất lòng dân?"[133] Giáo sư cũng cho rằng "sau Cách mạng tháng Tám-1945 cho đến 1975, trong thời kỳ chiến tranh, công việc nghiên cứu nói chung có bị hạn chế, số lượng công trình nghiên cứu không nhiều. Và cơ bản nhất là đã xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn, đặc biệt là vương triều Nguyễn: chia cắt đất nước, cầu viện ngoại bang, đầu hàng thực dân xâm lược... Thời kỳ nhà Nguyễn bị đánh giá là thời kỳ chuyên chế phản động nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Khuynh hướng đó gần như trở thành quan điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa đại học và phổ thông." và giai đoạn này "là thời kỳ mà nền sử học Mácxít đang hình thành nên sự ấu trĩ, giáo điều, công thức buổi đầu là không tránh khỏi. Không chỉ nhà Nguyễn mà nhà Mạc, nhà Hồ cũng chịu cái nhìn thiếu khách quan, công bằng tương tự..."[134]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà thơ Nguyễn Duy đã có ý kiến:"Cho đến bây giờ, nhiều người biết rằng nhà Nguyễn có công lớn đối với nước nhà, nhưng không hiểu tại sao và từ lúc nào, lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hoá."[135]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng theo Giáo sư Phan Huy Lê thì các nhà sử học tham gia hội thảo quốc gia về "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" năm 2008 đều nhận thấy "sự phê phán, lên án đến mức độ gần như phủ định mọi thành tựu của thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn trước đây là quá bất công, thiếu khách quan, nhất là khi đưa vào nội dung sách giáo khoa phổ thông để phổ cập trong lớp trẻ và xã hội... các nhà sử học dĩ nhiên có trách nhiệm của mình trong vận dụng phương pháp luận sử học chưa được khách quan, trung thực."[136]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Các vua nhà Nguyễn và thế phả &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1) Vua Gia Long (1762-1820) Thế Tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ánh 1802-1820 嘉隆 Gia Long Thiên Thọ Lăng là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân, lên ngôi năm 1802, có 13 con trai và 18 con gái. Vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2) Vua Minh Mạng (1791-1841)Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm 1820-1841 明命 Minh Mạng Hiếu Lăng là con trai thứ tư của vua Gia Long, lên ngôi năm 1820 (ngày 1 tháng giêng âm lịch) vì người anh cả là hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh lúc đó đã chết (các anh thứ hai và thứ ba chết lúc còn nhỏ), có 78 con trai và 64 con gái. Vua Minh Mạng cũng là người đặt tên nước là Đại Nam.[137]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3) Vua Thiệu Trị (1807-1847)Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Nguyễn Phúc Miên Tông 1841-1847 紹治 Thiệu Trị Xương Lăng là con trai lớn của vua Minh Mạng, lên ngôi năm 1841 (ngày 1 tháng giêng âm lịch), có 29 con trai và 35 con gái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4) Vua Tự Đức (1829-1883)Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1847-1883 嗣德 Tự Đức Khiêm Lăng là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị, lên ngôi năm 1847, vì không có con nên nuôi 3 người cháu. Cả ba sau đều lên làm vua: Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5) Vua Dục Đức (1852-1883)Cung Tông Huệ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Ái 1883 育德 Dục Đức An Lăng là con trai trưởng (con nuôi) của vua Tự Đức, lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng 3 ngày sau bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết, có 11 con trai và 8 con gái. Dục Đức, vì ở trên ngôi có 3 ngày, không có thời giờ chọn niên hiệu; Dục Đức là tên của dinh thự của vị vua này. Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn xưng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6) Vua Hiệp Hòa (1847-1883) Nguyễn Phúc Hồng Dật 1883 協和 Hiệp Hòa là con trai thứ 29 của vua Thiệu Trị (tức là em của vua Tự Đức), lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết, không có con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7) Vua Kiến Phúc (1869-1884)Giản Tông Nghị Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng 1883-1884 建福 Kiến Phúc là con trai thứ ba (con nuôi) của vua Tự Đức, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết, mọi việc đều được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, không có con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8)Vua Hàm Nghi (1872-1943) Nguyễn Phúc Ưng Lịch 1884-1885 咸宜 Hàm Nghi là cháu gọi vua Tự Đức là chú (có cùng cha với vua Đồng Khánh nhưng vua Đồng Khánh là con nuôi của vua Tự Đức), lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ, có 1 con trai và 2 con gái. Sau khi bị truất phế vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algérie.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;9) Vua Đồng Khánh (1864-1889)Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Kỷ 1885-1889 同慶 Đồng Khánh Tư Lăng là con trai thứ hai (con nuôi) của vua Tự Đức, lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bệnh rồi chết, có 6 con trai và 3 con gái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10) Vua Thành Thái (1879-1955)Nguyễn Phúc Bửu Lân 1889-1907 成泰 Thành Thái An Lănglà con trai thứ bảy của vua Dục Đức (người làm vua chỉ trong 3 ngày), lên ngôi năm 1889 nhưng bị Pháp truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ, có 16 con trai và nhiều con gái. Vào năm 1916 vua Thành Thái (cùng con là vua Duy Tân) bị Pháp đày sang đảo Réunion, nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11) Vua Duy Tân (1899-1945)Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916 維新 Duy Tân An Lăng là con trai thứ năm của vua Thành Thái, lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống Pháp nên bị họ truất phế và đày sang đảo Réunion (cùng với cha là vua Thành Thái) vào năm 1916có 3 con trai và 1 con gái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12) Vua Khải Định (1885-1925)Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925 啟定 Khải Định Ứng Lăng là con trai trưởng của vua Đồng Khánh, lên ngôi năm 1916 với ý định hòa hoãn với Pháp, chỉ có 1 con trai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13) Vua Bảo Đại (1913-1997) Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy 1926-1945 保大 Bảo Đại là con trai độc nhất của vua Khải Định, lên ngôi năm 1926 trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt Nam 6 năm sau đó, có 2 con trai và 3 con gái. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình hoàng đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ làm Nội các Tổng trưởng, giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 và đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giữ chức "Cố vấn tối cao" cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài. Bảo Đại trở lại Việt Nam với chức vụ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau một cuộc trưng cầu dân ý trong năm 1956.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ghi chú&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;A. ^ GÓP PHẦN NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA NHÀ NGUYỄN (1802 – 1945) GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 41 ngày 30/10/2008 trích: "Nhiều tư liệu đã có hoặc mới phá thiện đã chứng minh rằng trong nửa thế kỷ XIX, đối với đất nước Việt Nam, nhà Nguyễn đã làm được không ít việc, và nhiều việc có thể được gọi là những thành tựu. Ví dụ: đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, dù rằng việc này được khởi đầu từ phong trào Tây Sơn song việc thống nhất đang còn dở dang, thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt. Chính Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc dở dang này, hoàn thành sự nghiệp thống nhất, kết thúc tình trạng đất nước chia hai, quy giang sơn về một mối."&lt;br /&gt;B. ^ GÓP PHẦN NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA NHÀ NGUYỄN (1802 – 1945) GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 41 ngày 30/10/2008 trích: "Một ví dụ thứ hai nữa có thể nhắc đến, đó là việc củng cố chủ quyền dân tộc. Dĩ nhiên, ở đây chủ quyền dân tộc thống nhất với vương quyền nhà Nguyễn. Triều Nguyễn Từ Gia Long đến Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền đần tộc, chống mọi mưu toan vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp quyết liệt như trấn áp đạo Thiên chúa."&lt;br /&gt;C. ^ "Nhà Nguyễn mất nước với Tây phương chỉ là vì văn minh nông nghiệp của Á Đông hết sức lạc hậu, yếu hèn, mà văn minh khoa học cùng cơ giới của phương Tây lại quá mạnh mà thôi"&lt;br /&gt;Chú thích&lt;br /&gt;1. ^ a b c d e f g Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 438-440&lt;br /&gt;2. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 170&lt;br /&gt;3. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 198&lt;br /&gt;4. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 198-199&lt;br /&gt;5. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 47&lt;br /&gt;6. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 48&lt;br /&gt;7. ^ “Trả lại lịch sử công lao nhà Nguyễn”. Truy cập 2 tháng 10 năm 2010.&lt;br /&gt;8. ^ Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam 1971, tr. 368-386&lt;br /&gt;9. ^ “Nhìn nhận lại vương triều Nguyễn: Cần khách quan với lịch sử” (20/10/2008). Truy cập 2 tháng 10 năm 2010.&lt;br /&gt;10. ^ Nguyễn Thế Anh 2008&lt;br /&gt;11. ^ Vu Tam Ich. tr 18&lt;br /&gt;12. ^ [1][liên kết hỏng] "The Paracels, the 'other' South China Sea Dispute" 2001.&lt;br /&gt;13. ^ [2] "Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".&lt;br /&gt;14. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 453&lt;br /&gt;15. ^ Nhiều tác giả 2007, tr. 74&lt;br /&gt;16. ^ a b c Nhiều tác giả 2007, tr. 75&lt;br /&gt;17. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 11-12&lt;br /&gt;18. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 15-16&lt;br /&gt;19. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 454-455&lt;br /&gt;20. ^ a b c Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 456-457&lt;br /&gt;21. ^ a b c Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 442-443&lt;br /&gt;22. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 415&lt;br /&gt;23. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 415-416&lt;br /&gt;24. ^ a b Phạm Văn Sơn 1960, tr. 424&lt;br /&gt;25. ^ a b c d Trần Trọng Kim 1971, tr. 191&lt;br /&gt;26. ^ Nayan Chanda 1986, tr. 52&lt;br /&gt;27. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 174&lt;br /&gt;28. ^ a b Phạm Văn Sơn 1960, tr. 432&lt;br /&gt;29. ^ a b c d e f g Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 214&lt;br /&gt;30. ^ Trấn Trọng Kim 1971, tr. 199&lt;br /&gt;31. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 205-207&lt;br /&gt;32. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 208&lt;br /&gt;33. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 205-212&lt;br /&gt;34. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 214-215&lt;br /&gt;35. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 242-246&lt;br /&gt;36. ^ Trương Hữu Quýnh 2005, tr. ?&lt;br /&gt;37. ^ a b c Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 450&lt;br /&gt;38. ^ Trương Hữu Quýnh 2004, tr. 263&lt;br /&gt;39. ^ a b c d Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 451&lt;br /&gt;40. ^ Trương Hữu Quýnh 2004, tr. 264&lt;br /&gt;41. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 917&lt;br /&gt;42. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 457&lt;br /&gt;43. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 92&lt;br /&gt;44. ^ a b Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 307&lt;br /&gt;45. ^ Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 445&lt;br /&gt;46. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 308&lt;br /&gt;47. ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 309&lt;br /&gt;48. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 421&lt;br /&gt;49. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 445&lt;br /&gt;50. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 88&lt;br /&gt;51. ^ a b c Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 101&lt;br /&gt;52. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 105-106&lt;br /&gt;53. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 118-121&lt;br /&gt;54. ^ Nguyễn Thế Anh 2008, tr. 124-125&lt;br /&gt;55. ^ Những vấn đề Lịch sử triều Nguyễn-Tạp chí Xưa và Nay &amp; NXB Văn Hóa Sài Gòn tr 323&lt;br /&gt;56. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 412&lt;br /&gt;57. ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 199-200&lt;br /&gt;58. ^ a b Phạm Văn Sơn 1960, tr. 420&lt;br /&gt;59. ^ Dương Quảng Hàm 1968, tr. 355&lt;br /&gt;60. ^ Dương Quảng Hàm 1968, tr. 355-356&lt;br /&gt;61. ^ a b Dương Quảng Hàm 1968, tr. 357-359&lt;br /&gt;62. ^ Dương Quảng Hàm 1968, tr. 359&lt;br /&gt;63. ^ Dương Quảng Hàm 1968, tr. 359-360&lt;br /&gt;64. ^ a b c Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 321&lt;br /&gt;65. ^ a b c Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 325&lt;br /&gt;66. ^ a b Trương Hữu Quýnh 2005, tr. 471-472&lt;br /&gt;67. ^ a b Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 326&lt;br /&gt;68. ^ Những vấn đề Lịch sử triều Nguyễn-Tạp chí Xưa và Nay &amp; NXB Văn Hóa Sài Gòn, tr 201-205&lt;br /&gt;69. ^ Dương Quảng Hàm 1968, tr. 370&lt;br /&gt;70. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 173&lt;br /&gt;71. ^ a b c Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 327&lt;br /&gt;72. ^ Valiang. “Kinh thành huế”. Vietnamtourism.com. Truy cập 2 tháng 10 năm 2010.&lt;br /&gt;73. ^ phuochung. “Nghệ thuật kiến trúc - Cung đình Huế”. Vn.net. Truy cập 2 tháng 10 năm 2010.&lt;br /&gt;74. ^ Nguyễn Phan Quang 1976, tr. 173&lt;br /&gt;75. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 421&lt;br /&gt;76. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 433&lt;br /&gt;77. ^ Phạm Văn Sơn 1960, tr. 434&lt;br /&gt;78. ^ a b Đào Duy Anh 2002, tr. 483&lt;br /&gt;79. ^ Nguyễn Thị Thạnh 1982, tr. 338&lt;br /&gt;80. ^ a b Đào Duy Anh 2002, tr. 464&lt;br /&gt;81. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 15-16&lt;br /&gt;82. ^ Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 17&lt;br /&gt;83. ^ a b Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 308&lt;br /&gt;84. ^ a b Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 18&lt;br /&gt;85. ^ Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 308-309&lt;br /&gt;86. ^ Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 309&lt;br /&gt;87. ^ Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 310&lt;br /&gt;88. ^ Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 311&lt;br /&gt;89. ^ Đặng Việt Thủy &amp; Đặng Thành Trung 2008, tr. 312&lt;br /&gt;90. ^ a b Nguyễn Thế Anh 2008a, tr. 28&lt;br /&gt;91. ^ Đào Duy Anh 2002, tr. 500&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;LẠM BÀN PHÁT TRIỂN TỈNH BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;G S Tôn Thất Trình &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Bài tại The Gift http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2011/06/ong-nai-bien-hoa.html  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thử  tìm hiểu  hơn nữa một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phụ cận thành phố Sài Gòn, Việt Nam chỉ mới  chánh thức đặt nền cai trị thống thuộc nước nhà trên 320 năm, ở một xứ  đồng hoang vu nhiều nai- Lộc Dã, nhiều thú dữ, cách đây trên 400 năm chỉ có vài hay vài trăm nóc nhà; nay riêng một tỉnh lấy tên địa danh Đồng Nai xưa cũ  đã có trên 2 triệu rưỡi người dân Việt cư trú  &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;A. TỔNG QUÁT &lt;br /&gt;                                  &lt;br /&gt;&lt;em&gt;“ …Trước kia, việc dùng binh chẳng qua là để giết bọn cừ khôi, và mở mang thêm đất đai… Nhưng từ đồn binh  Gia Định đến La Bích ( thủ đô Chân Lạp  lúc đó ), đường xá xa xôi , nghìn trùng muôn thác không tiện đuổi ( Nặc Nguyên ). Muốn mở mang đất đai, cũng nên  lấy hai phủ này, Tầm Bôn và Lôi Lạp (  Gò Công và Tân An ngày nay), trước để củng cố mặt sau của hai dinh ( Trấn Biên , Phiên Trấn). Trước kia, mở mang phủ Gia Định, tất phải  mở trước đất Hưng Phước, rồi đến đất Đồng Nai, khiến quân dân đông đủ, rồi sau mới mở đến Sài Côn . Đó là kế “ tầm ăn lá dâu” &lt;/em&gt;… (Tờ trình năm 1753 của Nguyễn Cư Trinh  lên chúa Vỏ Nguyễn Phước Khóat )        &lt;br /&gt;               &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Địa lý , Hành chánh&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỉnh Đồng Nai, thời đệ nhất Cộng Hòa  gồm ba tỉnh  Biên Hòa, Long Khánh và Phước Thành …,  nhập lại, nhưng nay diện tích chỉ còn là 5903 km2 (hay 2279 dặm Anh vuông) vì tháng 5 năm 1979, Đồng Nai mất đi một phần đất Ô Cấp hay Vũng Tàu (Cap Saint Jacques ) để thành lập đặc khu Vũng Tàu. Đặc khu Vũng Tàu , nguyên là tỉnh Phưiớc Tuy,  nay  là tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cũng lấy luôn cả các đảo Côn Đảo, trước thuộc Hậu Giang. Thị xã tỉnh Đồng Nai là Biên Hòa. Bắc giáp  Lâm Đồng, Đông giáp  Bình Thuận,  Nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu,  Tây giáp hai tỉnh  Bình Dương, Bình Phước và thành phố Sài Gòn  ( TP Hồ chí Minh ). Tỉnh lỵ Biên Hòa nằm vào khỏang vĩ tuyến  1107’ Bắc  và  kinh tuyến 1070 Đông, cách Sài Gòn  32 km ( 20 dặm Anh ) về phía  Đông  nối liền nhau bằng quốc lộ số1;  cách Hà Nội 1684 Km cũng theo quốc lộ số1, cách Đà Lạt 278 km, cách  Vũng Tàu 95 km, cách Cần Thơ 198 km . Xe Lữa Tốc Hành Thống Nhất - Express Train Hà Nội- Sài Gòn, ngưng ở Biên Hòa.          &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỉnh Đồng Nai hiện nay  gồm  10 quận: Cẫm Mỹ, Định Quán, Long Khánh, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Trảng Bom, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc. Dân số năm 1995 là 1884 800 người, năm 1999 là 1989500 người, năm 2004 là 2174 600 người, năm 2009 là  2 483221 người. Đa số là tộc dân Kinh, một số nhỏ là các tộc dân gốc Hoa , X(s)tiêng, Cho Ro ( Mạ, tập trung ở quận Định Quán  ), Tày, Nùng, Chàm … Dân số thị xã Biên Hòa, năm 1989, đã trên 300 000 người, năm 2005 tăng lên đến 541 495 người, năm 2007 ước lượng là 604 458 người và năm 2010 có lẽ  đã gần  680 000 - 700 000 người.&lt;br /&gt;                &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đôi chút Xuôi dòng lịch sử &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đồng Nai xứ sở lạ lùng,&lt;br /&gt;Dưới sông  sấu lội, trên bờ cọp um&lt;br /&gt;Ca Dao miền Nam &lt;br /&gt;                &lt;br /&gt;Trước khi hình thành và phát triễn Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất hoang vu này, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7, thuộc về vương quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ  lưu vực sông Cửu Long đến sông Mênam ( Thái Lan là tên mới của Xiêm La từ năm 1939 ) xuống tận các đảo Mã lai (  Lâm Văn Bé, Dòng Việt số 17 năm 2005 ). Tháng 11 năm 1998, ở làng Phú Mỹ  huyện Cát Tiên ( Công viên Quốc Gia Cát Tiên thiết lập tháng 12 năm  1998, gồm ba công viên cũ  là Nam Cát Tiên, Bắc Cát Tiên và Cát Lộc, nằm trong địa hạt của 3 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước)  khám phá ra một ngôi làng cỗ,  tuổi đã 2500- 3000 năm.  Đây là một phức tạp di tích  gồm  đền đài, tháp và rất nhiều  di vật tiền sử, chứng tỏ có sự lẫn lộn của  một văn hóa Phù Nam, (sau này gọi là  văn hóa Khmer, ta gọi là Chân Lạp ) hay có thể là một văn hóa khác ( ? ) ở miền  Nam và văn hóa  Champa. Trong số di vật  có nhiều  tượng thờ như Linga – Yoni, những vật liệu linh thiêng thờ cúng, dùng các bộ phận sinh dục con người làm biểu tượng.  Có một Linga  cao 2.1 m  là một di vật  lọai này lớn nhất thế giới. Ngòai ra  còn nhiều dấu tích khác  chứng tỏ Cát Tiên cũng có thể là một thánh địa của Vương Quốc Phù Nam, xây dựng  cách đây 2000 năm. Thật ra  dưới thời Pháp thuộc, lưu vực sông Đồng Nai  với các địa điểm như cù lai Rùa, Cù Lao Phố,  bến Đò…  đã được các nhà khảo cỗ ( Cartailahac  1888, Grossin 1902, Loesh 1909, Barthère và Ripelin 1911, Malleret và Jansé 1937) …  khai quật nhiều lần, nhiều nơi, tìm được hàng ngàn cỗ vật như búa rìu bằng đá, bằng đồng, sắt, xương sọ, dụng cụ đá mài nhẵn … chứng tỏ rằng lưu vực sông Đồng Nai  đã có người cư ngụ 4000 – 2500 năm nay rồi, không có lịch  sử, không chữ viết ghi chép, nên họ là người tiền sử. Trước thời vương quốc Phù Nam, họ là những con người tiền phong đến khai thác hạ lưu sông Đồng Nai, tạo ra một nền văn minh hái lượm, làm ruộng nước nữa ( Theo Hứa Hòanh,  Tập san Đi Tới, số 69 và 70, năm 2003) .     &lt;br /&gt;                                             &lt;br /&gt;Năm 1620, vua Chen Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công nương ( danh hiệu công chúa là  sau khi các chúa đã mất, được truy  phong hòang đế )  Ngọc Vạn  ( khi trở thành hòang hậu tên là  Ang Cuv  hay Đam Sát ), con chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên. Chúa Nguyễn lợi dụng việc gả con gái này đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Đồng Nai, trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế  là đất vô chủ, bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vì sự suy yếu  nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm La, vùng đất này hòan toàn hoang vu, không có guồng máy cai trị của Chân Lạp. Trước khi người Việt đến, vùng này chỉ có vài mươi nóc  nhà  người Miên- Môn, theo nhà văn quê quán Biên Hòa Bình Nguyên Lộc còn có thể cả người  tộc dân Mạ, hay có thể cả tộc dân Cho Ro, tộc dân Stiêng (GiẻTriêng ?),cả ba thuộc họ Nam Á , ngôn ngữ thuộc hệ Môn Miên (Khmer) vì ảnh hưởng xưa cũ của hai nước Phù Nam và Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh gọi chung là Côn Man (Côn Miên), ở trên các gò cao sâu trong rừng vùng Preikor ( Sài Gòn ), sống biệt lập  với người Miên ở vương triều. Năm 1623, Chúa Sải  cho đặt  hai trạm thu thuế ở  Prei Nokor ( Sài Gòn, nay ở khỏang quận 5 và Kas Krobei ( Bến Nghé, nay ở khỏang quận 1). Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống  Chí  là dân các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong đã vô Mô Xòai từ đời các Tiên hoàng đế Nguyễn Hòang 1558- 1613, Nguyễn Phước Nguyên   ( 1613- 1635 ). Sử ghi là  năm 1665, có độ 1000 người Việt vào lập nghiệp ở vùng đất mới này (cũng theo Lâm Văn Bé, Dòng Việt 2005).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc này,  nhà Minh bên Tàu cũng đang mất nước  cho Mãn Thanh, các chiến sĩ Minh ưu tú phẩn uất bỏ  đi tìm độc lập tự do, ngòai thế lực kẻ thù. Năm 1679, Trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch với Phó Tổng binh Hòang (Hùynh) Tiến, Tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm  là Trần Thượng Xuyên, Phó Tổng Bình là Trần An Bình  đem 3000 quân  và 50 chiến thuyền chạy thẳng vào của Tư Hiền (Tư Dung) và Đà Nẳng  muốn đến xin làm thần dân chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần  dung nạp bọn họ, cho bọn Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, định cư ở Bàn Lân  xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố Biên Hòa, khai khẩn và lập phố phường buôn bán: thuyền buôn của người Thanh và các nước phương Tây, Nhật Bản,  Java ( Nam Dương ) đi lại thông thương , phồn thịnh. Cù Lao Phố nằm phía Đông tỉnh lỵ Biên Hòa, tên cũ là Đông Phố. Người Tàu không phát âm được chữ Đ của Đồng Nai nên gọi là “ Nông Nại đại phố”, nhưng thế kỷ trước còn có tên là “ cù châu”. Cù châu không có nghĩa là cù lao, nhưng lúc bấy giờ dân gian  người Việt  tin rằng  phía dưới cù  lao có con hoa cù tức con rồng có sừng, do đó mới gọi là là cù châu. Như vậy có nghĩa là người Việt đã đến định cư ở đây, vì chính Điều Khiễn  Nguyễn hửu Dõan , năm 1748, dụng binh ở Chân Lạp,thấy đất phủ Gia Định  phần nhiều là đất bùn lầy chưa có đường bộ nên sai đắp  một con đường thẳng từ  phía Bắc Cầu Sơn đến  Mỗi Xuy ( Bà Rịa ngày nay)gọi tên là  “Thiên Lý Cù”  -  đường ngàn dặm  con rồng có sừng  rong ruổi tiến mở mang đất nước),  tiền thân của đường số 51 Bà Rịa-  Biên Hòa ngày nay ? Đó chỉ mới là thiên lý cù phía bắc đến năm Gia Long thứ 14 , năm  1815 mới  đắp thiên lý cù phía  Tây, tiền thân của đường số 22 Biên Hòa – Gia Định – Trảng Bàng- Gò Dầu- Mộc Bài hay Gò Dầu- Xa Mát – Tây Ninh  ở Việt Nam, nối dài quốc lộ số 1 Căm Bốt từ Svay Riêng lên đến Nam Vang (Phnom Penh). Người Hoa (Tàu) hay Minh Hương tập trung ở cù lao Phố  lập thành làng Thanh Hà, chuyên nghề thương mãi. Cù lao Phố là  đô thị người Hoa đầu tiên ở Việt Nam  phát triễn liên tục trên nữa thế kỷ, đóng một vai trò  quan trọng  xuất nhập cảng cho xứ Đồng Nai. Địa danh Cát Lái, đáng lý phải gọi là “Các Lái“ để chỉ danh  một bến đò, một  chỗ họp chợ của  người buôn bán sĩ, các ghe thương hồ  chở  chén đĩa, lu hũ, đá tán kê nhà, cối xay bột… đưa về miền Tây, đồng bằng Sông Cửu Long. Hơn 60 năm thành lập, Nông Nại đại phố sầm uất hơn bao giờ hết. Nhưng năm 1747,  đánh dấu một biến cố lớn cho cù lao Phố. Một tên cầm đầu bọn khách thương người Phúc Kiến là Lý Văn Quảng, dậy lòng tham cùng 300 đồng đảng tự xưng là “ Nông Nại  đại phố vương”  định chiếm  Nông Nại, tổ chức như một triều đình, mở cuộc đánh úp dinh Trấn Biên, hạ sát trấn thủ dinh là Khâm sai đại thần , Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cao Cẩn.  Phó  tướng dinh Trấn Biên là Lưu thủ Cường, tước Cường Oai Hầu, rút ván cầu “ Chợ Đồn”  bắc  ngang  giữa cù lao Phố và đồn canh bờ sông, cố thủ.  Chúa Vỏ được tin cấp báo, sai Cai cơ Tống Phúc Đại, tước Đại Thắng  Hầu, đang đóng ở Mô Xòai, đem binh cứu viện. Tống Phước Đại  bắt được Lý Văn Quảng  cùng đồng bọn là 57 người. Lớp còn lại  bỏ trốn vào rừng hay  theo sông Đồng Nai xuống Tân Bình. Nông nại đại phố phục hồi sinh lực, phát triễn thêm  vài mươi năm nữa. Gần hai mươi năm sau, tàn quân rã ngũ  có hai tên là Lý Tài và Tập Đình  biết vỏ nghệ, khôn ngoan,  được dân du thủ du thực tôn làm anh chị, thuộc  phe Thiên địa hội “ Phản Thanh Phục Minh”. Trước hết bọn Lý Tài, Tập Đình theo Tây Sơn. Nhưng  khi  Đông cung Dương từ Quảng Nam chạy vào Qui Nhơn, Tài và Đình  đến xin theo phò.  Đang lúc sa cơ,  Đông cung đải Tài và Đình như thượng khách và  khi Đông Cung tới Gia Định hợp với  quân của chúa Định , lấy hiệu là Tân Chính vương khi chúa Định nhường ngôi, Lý Tài được phong làm  đại nguyên sóai. Làm cho quân Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn  phò tá  chúa Định vào Gia Định trước Đông cung, bất mãn. Hay tin ấy, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo đại quân vào đánh, tới núi Châu Thới bắt được Lý Tài giết ngay. Huệ đuổi theo quân Nguyễn bắt được Tân Chính Vương ở Ba Vát, Thái Thượng Vương ở Cà Mau, đem về Sài Gòn hành hình.  Nguyễn Nhạc vào Nam, khi hay tin viên hộ giá thân tín của mình bị giết, nổi trận lôi đình, ra lịnh  tàn sát tất cả người Hoa  ở cù lao Phố (vì  Nhạc còn nghi thêm là người Hoa đã giúp lương thực cho các chúa Nguyễn). Linh mục  Castueras, có mặt tại Chợ Quán ngày 7 tháng 7 năm 1782, cho biết có  gần 4000 người  bị quân Tây Sơn  giết.  Sử quan nhà Nguyễn, nhất là Trịnh Hoài Đức, có thể tăng cao số nạn nhân Hoa gấp ba lần. (theo Hứa Hòanh ở tập san Đi Tới nói trên). Cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá tan hoang, khi trung hưng lại, người ta trở về, nhưng dân số  không còn bằng một phần trăm lúc trước ( Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Những người Hoa còn sót lại chạy về Gia Định, gầy dựng lại cảnh Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn cù lao Phố trước (Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển). &lt;br /&gt;                                                 &lt;br /&gt;Trở lại năm  1689, Chúa Minh Nguyễn Phước Chu sai Thống Xuất Nguyễn Hửu Kính ( hay Cảnh ) làm Kinh Lược  xứ Đồng Nai, lúc đó có tên là Đông Phố,  chia đất Đông Phố để cai trị, theo kiểu  Đàng Trong.  Lấy xứ  Đồng Nai  đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên . Như vậy trên phương diện  quân sự, quốc phòng, gìn giữ biên cương, dinh Trấn Biên nguyên là dinh Phú Yên , nay đã tiến xa vào Nam  là Biên Hòa. Lấy xứ Sài Côn, đặt huyện Tân Bình, lập dinh  Phiên Trấn ( tức là Gia Định ). Và đặt phủ Gia Định  thống thuộc hai dinh  Trấn Biên, Phiên Trấn. Lúc này, cả hai huyện  Phước Long và Tân Bình, theo Nguyễn hửu Cảnh thống kê, đã mở rộng đất ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ ( theo Đại Nam Thực Lực Tiền Biên, quyễn IV). Dân Việt như thế đã lên đến cả trăm nghìn người, đông đúc hơn dân quân binh  tướngTrần Thượng Xuyên, đến xứ Đồng Nai 10 năm trước đó ).  Chúa Minh Nguyễn Phúc Trăn ( Chu )  sai chiêu mộ thêm lưu dân từ  Bố Chính trở vào Bình Thuận đến ở  đây, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền (Phan Khoang , Việt sử xứ Đàng Trong, xuất bản năm 1967).&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;Năm 1739, vua Chân Lạp ( Căm Bốt ) là Nặc Nguyên, muốn chiếm lại Hà Tiên, một di dân nhà Minh là Mạc Cửu , đồng thời với tướng Dương Ngạn Địch  đã qui phục  chúa Nguyễn lảnh chức Tổng Binh Hà Tiên và con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, phát triễn  phồn thịnh Hà Tiên, trở nên vật thèm muốn của Xiêm La và Căm Bốt.  Chúa Vỏ Vương  sai Nguyễn cư Trinh sang đánh vua Chân Lạp. Nặc Nguyên bỏ chạy, xin nộp đất miền Nam Gia Định là Tầm Bôn và Lôi Lạp giảng hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm  1768, cuộc Nam Tiến  của dân Việt Nam kể như chấm dứt. Lảnh thổ Nam Kỳ lúc này được chia thành 3 tỉnh : tỉnh Đồng Nai bao gồm các vùng đất miền  Đông Nam Bộ, tỉnh Sài Gòn bao gồm các vùng đất từ  sông Sài Gòn đến  cửa Cần Giờ  và tỉnh Long Hồ bao gồm các  vùng đất miền Tây Nam Bộ. Năm 1808, dưới thời  Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vĩnh Thạnh, Định Tường, Phiên An, Biên Hòa. Năm 1834, dưới thời Minh Mạng 5 trấn được biến thành  6 tỉnh. Năm 1988 thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia ra làm 20 hạt, rồi 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Biên Hòa. Năm 1954,  Miền Nam, sau hiệp định Genève để chỉ vùng đất Việt Nam Cộng Hòa  Nam vĩ tuyến  17, gồm 40 tỉnh trong đó vẫn còn tỉnh Biên Hòa. Thời Đệ Nhất Cọng Hòa, vùng miền Đông Nam Phần  lập thêm nhiều tỉnh nhỏ, còn ít dân,  để nhận dân di cư Miền Bắc, thiết lập nhiều địa điểm dinh điền  có lõi là dân Bắc di cư, phỏng theo phương thức dinh điền xưa cũ và kế sách tầm ăn dâu  của Nguyễn Cư Trinh, kèm theo mục tiêu chiếm giữ ( ? ) các chiến khu kháng chiến cũ ( Các chiến khu C, D, Dương Minh Châu- Tam Gíác Sắt …) , thời Pháp  chiếm đọat lại Việt Nam- Đông Pháp, Việt Minh vẫn còn để lại hệ thống tổ chức cán bộ, những người theo họ hay có cảm tình với họ, không đi tập kết ra Bắc. Bên cạnh tỉnh Biên Hòa cũ,  có thêm các tỉnh Long Khánh, một phần các tỉnh Phước Thành, Bình Long, Bình Tuy …. Sau 1975, tỉnh Đồng Nai được thiết lập và Biên Hòa trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Khí hậu, Thủy văn (Sông ngòi)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;    &lt;br /&gt;Tỉnh Đồng Nai nằm vào vùng gió mùa nhiệt đới, cho nên bị ảnh hưởng  của gió mùa Đông Bắc và  gió mùa Tây Nam. Tỉnh nhà  còn bị ảnh hưởng của khí quyễn  nhiệt đới Thái Bình Dương, từ tháng 4 đến tháng 10. Khí hậu chia ra hai mùa rỏ rệt. Mùa mưa  kéo dài từ  tháng 3 hay tháng 4  đến tháng 11 và  mùa nắng ( mùa khô ) từ tháng 12 đến tháng 3, tháng 4 năm tới. Nhiệt độ trung bình từ 23.9- 29.0o C, nghĩa là thấp  ( mát mẽ ) hơn mức tiêu chuẩn  các vùng nhiệt đới ( 26-300C ) nhiều. Trái lại lượng mưa vẫn nhiều 1500- 2700 mm . Trung bình nhật chiếu 4-9.5 giờ/ ngày, nhưng không bao giờ quá  11.5 giờ/ngày kể cả những ngày nóng nhất và nắng nhất. Tổng số ngày mưa trong năm  120- 170 ngày ( tiêu chuẩn cho vùng nhiệt đới là  150- 160 ngày).  Ẩm độ trung bình  l80- 82%  và ẩm độ  mùa khô thấp hơn mùa mưa khỏang 10-12% . Tùy  mỗi huyện, ẩm độ biến thiên, khác nhau rất nhiều. Khí hậu tỉnh Đồng Nai  thuận lợi so với nhiều tỉnh khác nước nhà, để phát triễn  nông nghiệp, công nghệ, văn hóa và du lịch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỉnh Đồng Nai có những nguồn sông như nguồn sông Ray chảy về Bà Rịa – Vũng Tàu hay nguồn sông Dinh chảy về cửa Hàm Tân – Bình Thuận, tổng cọng  là 60 sông  lớn nhỏ, kênh rạch . Nhưng hệ thống sông Đồng Nai với các nhánh  lớn, bên trái là sông La Ngà ( giữa đường Biên Hòa-Long Thành là một nhánh nhỏ là sông La Dương ), bên phải là sông Bé  và nhánh nhỏ hơn hai nhánh vừa kể, chảy Thủ Dầu Một - Bình Dương  rồi đổ vào sông Đồng Nai gần Nhà Bè , mới thật là quan trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy sông Đồng Nai chỉ được xem là sông đứng hàng thứ ba ở Việt Nam, vì lưu vực trong nước chỉ  là  37394 km2( lưu vực tòan bộ là  42 666 km2 ), sau sông Hồng lưu vục rộng  61 300 km2 ( tòan bộ 143 000 km2) và sông  Mê kông ( Cửu Long trong địa phận Việt Nam ) 71 000 km2( toàn bộ 795 000 km2 ), nhưng chiều dài  chảy trong nước lại đứng hạng nhất 635 km ( sông Hồng  566 km, sông Cửu Long đứng hạng 8,  230 km,  sau sông Mã 410 km, sông Ba- Đà Rằng 388 km… , chỉ trên sông Thu Bồn hạng 9,  205km . ( Thái Công Tụng, Vietnamologica , 2005 ). Phần sông Đồng Nai chảy qua tỉnh Đồng Nai ngày nay chỉ dài 294 Km.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tên cũ của sông Đồng Nai là sông Phước Long, còn có tên là sông Hòa Quí.Theo Đại Nam Nhất Thống Chí(bản dịch của Phạm Trọng Điềm 1997 và Hòang Đỗ sưu tập 2003), có đôi chút địa lý không hòan tòan đúng theo phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay, sông Đồng Nai bắt nguồn từ các động Man  tỉnh Bình Thuận, hợp với sông La Nha (La Ngà), chuyễn về phía Tây qua núi Thần Qui đến ngã ba sông Bé bẻ về phía Đông hợp lại thành sông lớn, giữa sông nổi Hòa, chảy xuống làm sông Đồng Môn, hợp với sông Bình Tân huyện Bình An làm sông Phước Bình, vào phủ Phước Tuy đến sông Ngã Bảy, hợp với sông Kí huyện  Long Thành và sông Hưng Phước huyện Phước An  mà ra biển ở cửa Cần Giờ. Trước Biên Hòa  cũ ( nay là Bà Rịa ) còn có sông Lai  ở phía Đông Bắc  huyện Long Khánh  nguồn ra từ xa Bảo Chánh chảy vào sông Xích Lam  ở phía Đông huyện Phước An, chảy ra cửa biển Xích Lam. Theo địa lý  ngày nay hơn, sông Đồng Nai bắt nguồn từ  hai dòng sông nhỏ trên Cao nguyên Lâm Viên ( Lang Biang ), cao 1500 m trên mặt biển. Nguồn phía Tây Đà Lạt là suối ( sông ?) Đá Dựng ( Đa Đung, Đa là tên địa phương  gọi sông, suối ), trên đó có đập Ankróet ở suối Vàng. Nguồn phía Đông là sông Đa Nhim với một hồ nước  nhân tạo ở Đơn Dương ( Dran)  của đập Thủy điện Đa Nhim, nước theo hai đường ống khổng lồ,  từ Đèo Ngọan Mục  cao 1100m, đổ  xuống dưới chân đèo  tại nhà máy phát  điện Krong Pha. Đa Nhim bắt nguồn từ Nam Trường Sơn, trên Nhơn Hà, giáp giới hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa, bọc một rặng núi có đỉnh cao  2275m,  phía trên thác Prenn. Hai nguồn suối nhỏ trong rừng sâu này chảy len lõi giữa các hốc đá, các triền núi, song song theo hướng Bắc Nam tới địa phận quận Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Tới đây  nguồn phía Đông đổi dòng, nhập với  dòng phía Tây tạo ra sông Đồng Nai, trong địa phận tỉnh Lâm Đồng – Bảo Lộc ( Blao ), nhưng vẫn còn ở ngòai  địa phận tỉnh Đồng Nai ngày nay.  Gần thị xã Bảo Lộc có thác Đăm Bri, trước đây hoang vu vì thiếu an ninh, nay đã tu bổ sửa sang làm nơi đón khách du lịch ( và dự trù làm thêm ở đây một đập thủy điện nữa ? ). Thác Đăm Bri tiếp tục chảy xuống đèo Bảo Lộc tạo thành suối Tiên ở lưng chừng đèo. Rồi dòng sông tiếp tục thêm trong sâu, vào địa phận tỉnh Đồng Nai ở  Định Quán, Kiệm Tân, Bến Nôm, Cây Gáo v.v… Giữa các làng này, dòng sông có  nhiều đá ngầm chắn nước  dài khỏang 20 Km, mùa mưa  dòng nước chảy xiết  ầm ầm suốt ngày đêm như tiếng gọi của rừng thẳm.  Ở thượng nguồn , có nhiều thác nước đẹp đẽ, thường do các  phay ( fault , faille ), chỗ nứt rạn, gảy sụp  kẻ đất nẽ địa  chất gây ra.  Như thác Gougah, thác Liên Khàng gần Đức Trọng của sông Đa Nhim, thác Pongour hùng vĩ  cao nhất Đà Lạt  do nguồn Đá Dựng tạo ra, các thác  Datanla, Prenn, Cam Ly nhận nước hồ Than Thở , hồ Hồ Xuân Hương. Đến thác Trị An, sông Đồng Nai mới  chảy trên một địa thế tương đối bằng phẳng, thoai thỏai từ Tây sang Đông, dòng sông khá sâu, tùy đọan,  nước chảy chậm hòa hỏan, ghe tàu nhỏ đi lại dễ dàng. Trước khi tới tỉnh lỵ Biên Hòa , sông Đồng Nai chia ra làm hai nhánh bao bọc lấy cù lao Tân Chánh, cù lao Rùa ( hình dáng như con rùa vì có ngọn đồi cao 17m ), cù lao Tân Triều   ( có một lọai trái bưởi “ Biên Hòa”  nhỏ da màu vàng  có khi gọi là bưởi ổi,  ngọt thanh nổi tiếng ).  Cù lao Rùa đánh dấu một  giai đọan  phát triễn văn hóa của lưu vực sông Đồng Nai, còn ghi đậm trong tiến trình các thời tiền sử và lịch sử. Chính tại cù lao Rùa, các nhà khảo cỗ đã khai quật nhiều di tích tiền sử với hàng ngàn cỗ vật  thời kỳ đồ đá mới, đang bước qua sơ kỳ đồ đồng và đồ sắt, đã nói qua ở trên.  Cho nên có nhiều câu hỏi  cho rằng có phải chính họ đã tiến xuống Nam,  chứ không phải ngược lại, tạo ra nền  văn minh vương quốc Phù Nam. mà cảng Ốc Eo gần chân núi Ba Thê, biên giới hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, trước khi bị phù sa bồi đắp xa hẳn biển Tây, là thị trấn đầu tiên của bán đảo Đông Dương tiếp xúc với văn minh Hy Lạp, La Mã.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sông La Ngà là nhánh lớn  bên trái của sông Đồng Nai, bắt nguồn ở cao nguyên Di Linh -Lâm Đồng, cao 1600m. Trước  đập Trị An cách tỉnh lỵ Biên Hòa 50 Km, là đập thủy điện lớn nhất miền Nam , trên  sông Đồng Nai, sông La Ngà đổ vào hồ La Ngà, nay là một thành phần của hồ Trị An. Còn phía thượng lưu thì ngòai các đập thủy điện (Hàm Thuận, Đa Mi …), sông La Ngà  còn có công dụng  cấp nước cho các huyện tỉnh Bình Thuận ( Đức Linh, Tánh Linh, Hàm Thuận… )  và tăng nước cho thủy điện Trị An vào mùa khô.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sông Bé là nhánh lớn bên phải của sông Đồng Nai, cũng bắt nguồn từ cao nguyên M’Nong – Đắc Nông  chảy qua tỉnh Bình Phước ( thời Cộng Hòa là hai tỉnh Bình Long và Phước Long ), chiều dài  khỏang 360 km, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sông Sài Gòn, phần lớn chảy qua tỉnh Bình Dương và đổ vào sông Đồng Nai ở  gần Nhà Bè. Khúc sông Nhà Bè này có một dòng thóat lưu tách ra gọi là sông Lòng Tảo , chảy ra Biển Đông ở cửa Sòai Rạp thuộc địa phận Thành Phố Sài Gòn (TP HCM ). Còn  tả ngạn  dòng sông Đồng Nai- Sài Gòn ở huyện Nhơn Trạch ( ? ) bọc phía Bắc rừng sác Cần Giờ mới là ranh giới tỉnh Đồng Nai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Địa hình, đất đai&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như  vừa tả sơ qua, địa hình tỉnh Đồng Nai  gồm cả thung lũng, đất thấp đồng bằng và đồi núi. Tỉnh Đồng Nai gồm  hai hòn núi nhô lên là núi Châu Thới gần Biên Hòa và  núi Chứa Chan  ( dân địa phương gọi là núi Gia Ray), cao 859 m gần Xuân Lộc. Núi Châu Thới ngày nay không còn nữa, bị san phẳng lấy đá tán nhỏ trải đá trộn lẫn cát, nhựa đường… theo kỷ thuật mới, hot nick ( ?)  hảng thầu Mỹ RMK  áp dụng, làm xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa thời đệ nhất Cộng Hòa ( ? ). Cuối thời kỳ Pleistocen, cách nay chừng 50 000 năm,  tỉnh Đồng Nai cũng như miền Đông Nam Phần  và đồng bằng sông Cửu Long còn chìm trong biển cả.  Về đệ tứ kỷ, phía Đông đồng bằng này, khối móng đá gốc thời ky địa chất Trung Sinh ( Mesozoique ) được nâng lên cùng lúc với các rặng núi phía Nam Trung bộ  chừng 6000 năm nay vào thời kỳ Holocen muộn  ( thời kỳ Holocen khởi đầu 10 000 năm trước Công Nguyên. Cùng lúc với  sự nâng lên thì macma bazan hỏa diệm sơn cũng phun lên, vào tuổi Pleistocen muộn – holocen sớm, bao phủ các phù sa  bên trên  khối móng đá gốc Trung Sinh. Lớp phù sa cỗ sinh cũng như các phún thạch bao phủ lớp này rất rộng, lan đến  phía Kratié- Kompongcham, Căm Bốt. Như chúng ta đã biết, phần phía Tây bị lún xuống tạo ra một  vịnh biển: phù sa  sông Cửu Long  bồi đắp trên vịnh biển, với sự rút lui  của mực nước biển  để tạo thành châu thổ sông Cửu Long ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đất đai tỉnh Đồng Nai thuộc hai nhóm chánh là đất xám Acrisols : hoặc bạc màu trên phù sa cổ - Haplic Acrisols , phẩu diện thường có phân tầng rỏ rệt theo màu sắc  loang lỗ  đỏ vàng xen lẫn các ổ kao lanh trắng, hàm lượng hửu cơ và  các chất dinh dưỡng thấphoặc đất xám gley- gleyish Acrisols vùng gò đồi, acid, nghèo hửu cơ , nghèo dưỡng liệu ; và nhóm đất  nâu đỏ trên đá basan, gọi là đất ferralit hay đất latosol nâu   nhóm ferrasols theo phân lọai FAO.  Đất latosols này thường gặp nhiều ở Xuân Lộc và Gia Kiệm . Đất ferrasols  phì nhiêu hơn đất xám, sức giữ nước  tốt hơn. Ngoài hai nhóm chánh này còn có thể gặp  đất  feralit vàng  hay đỏ vàng – Ferralic Acrisols, địa hình, độ dốc và cao độ khác nhau, có phản ứng chua, tầng đất mỏng dễ bị hiện tượng xói mòn; đất  feralit nâu vàng trên phù sa cổ  có kết von và đá ong,  sâu 20 – 30cm là đã gặp tầng đá ong ( đá ong “Laterit Biên  Hòa”) có lớp  cuội tròn nhẵn kích thước khác nhau, chứng tỏ dấu vết của phù sa cỗ, hàm  lượng dinh dưỡng thấp  có đá ong kết von, nhưng vì đất ở địa hình thấp  dễ  tưới nước, nên  cũng có thể trồng  được nhiều lọai cây lương thực và  cây ăn trái;  đất đen trên đá basan tên khoa học là Luvisols, rất phì nhiêu  nhờ khả năng trao đổi cation và độ bazờ  rất cao,  và đặc biệt là các đất phù sa- fluvisols  ven các dòng sông Đồng Nai, La Ngà , Sài Gòn… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Danh lam, Thắng cảnh&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thắng cảnh thiên nhiên  đáng kể ra trước nhất là  phong cảnh hữu tình dọc theo sông Đồng Nai  mà thượng nguồn ở Tây Nguyên dài hơn 480 km, gần gấp đôi dòng sông chảy ở địa phận tỉnh nhà.  Hai bên bờ sông đều có nhiều làng xinh đẹp. Xung quanh vẫn còn nhiều động vật và thực vật đặc hửu  ( cẩm lai Đồng Nai, gõ đỏ - gà te, bằng lăng… ), phong phú . Dân chúng vùng núi  Bửu Long khi lớn lên đã nhận ra ngay hai cù lao Rùa và cù lao Tân Triều sừng sửng trước mặt.  Đứng bên này dòng sông, dẫu các cù lao không mấy xa xôi, nhưng không có chiếc cầu nào bắc sang cả. Chỉ có những chiếc đò chèo chậm chạp  chở  người dân quê nặng ân tình, nối đôi bờ bến nước.  Những buổi trưa hè con đò uể ỏai  im lìm nằm đợi khách trên  bến vắng ( Theo mô tả của Hứa Hòanh,  tạp  chí Đi Tới , 2003 ). Nay thì đã có những chuyến tàu thủy dạo sông những khúc không có đá ngầm, giao thông được. Không rỏ nay đã có cầu nào bắc qua các cù lao chưa, vì hệ thống đường xá tỉnh nay đã dài hơn 3339 km, và 100 % đường làng, xe hơi đều  tới được  trung tâm. Cũng như nhiều nơi khác, đây là phần đất quê hương từ năm 1945 đến đầu thập niên 1990 , khi thì hiền hòa êm ả, khi thì lữa khói ngập trời. Dân gian chia rẽ  thành hai phe  chống đối giết lẫn nhau vô lối, một bên với súng ống Nga - Tàu , một bên với súng ống Mỹ và đồng minh ( Đại Hàn, Úc…). Ngay cả tại thị xã Biên Hòa,  sân bay quân sự Hoa Kỳ, theo tài liệu phái bộ quân sự Úc, đồng minh Hoa Kỳ ở chiến tranh Việt Nam, thiết lập  giữa thập niên 1960 ở ngọai ô thị xã Biên Hòa thường bị móc chê của đối phương  ( Việt Minh, tên  của mặt trận cai trị miền Bắc trước đó và sau 1962 là  Việt Cộng - Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam miền Bắc  dựng lên), núp lén ở các nhà theo hay có cảm tình Việt Minh - Việt Cọng tại trong thị xã Biên Hòa, bắn phá nhiều lần. Trên cù lao Rùa, có chùa Khánh Sơn , di tích lịch sử, xây cất đã trên 100 năm. Chùa nép mình dưới các hàng Sao đen Hopea odorata , họ Dầu Dipterocarpaceae,  một cỗ thụ lọai cao nhất nước nhà , có khi đến 40 m, thân  trụ thẳng tuột cao chót vót. Từ trên cao nhìn xuống , giữa cù lao thế đất cao hơn mặt nước  tới 17 m, trông giống cái lưng con rùa. Còn cù lao Tân Triều là  quê hương của lòai bưởi Tân Triều (còn gọi là bưởi ổi ), đặc thù của Cù lao, nhưng khi chín da màu vàng ở miền Nam này như lòai bưởi Năm Roi Quận Bình Minh – Vĩnh Long, hình  trái lê thịt không dính vào vỏ múi rất ngọt, thơm phức,  đã đã bán ở nhiều thị trường ngọai quốc, phẩm giá có lẽ trội hẳn bưởi Oroblanco Ca li, có khi vài tiệm Việt kiều bán giả dạng bưởi Năm Roi, không hột khi trồng cây riêng rẽ và hơn 10 hột khi trồng  chung chạ trong vuờn.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngòai Bưởi ổi Tân Triều,  Biên Hòa  còn có thêm bưởi Đường Lá Cam, dễ bóc tép, ngon ngọt nhiều nước, thơm và thanh, nhưng nhiều hột,  khi chín da xanh không vàng nhiều  như  các lọai bưởi  các tỉnh Miền Nam  ( bưởi Da Xanh Mõ Cày- Bến Tre , Châu Thành Tiền Giang chẳng hạn…), khác  màu vàng các lòai bưởi ngon nổi tiếng miền Bắc hay miền Trung  ( bưởi Đoan Hùng  quận Đoan Hùng -Vĩnh Phú; bưởi Phúc Trạch, quận Phúc Trạch- Hà Tĩnh; bưởi Thanh Trà, quận Hương Trà- Hương Điền, Huế - Thừa Thiên… ). Thật tế, khi du khách đến làng Tân Triều, cách thị xã Biên Hòa  25 km, khách sẽ được  mời thưởng thức một tá lọai bưởi mùi vị khác nhau, trong đó ngọt nhất lại có tên là “Thanh Trà”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ đến là Thác Trị An, cách tỉnh lỵ Biên Hòa chừng 50km. Thác cao 8m và rộng 30m. Chung quanh là phong cảnh  thiên nhiên hùng vĩ, đẹp đẽ. Dưới chân thác có một số tiểu dảo và  các lòng bải đá cuội. Đập thủy điện Trị An công xuất lớn nhất ở miền Nam Bộ  400 000 KW,  điện lượng 1.7 tỉ KWH ( KW Giờ ) thiết lập năm 1988, sau đập Đa Nhim trên sông Đồng Nai, thiết lập năm 1974 lúc đó chỉ có công xuất  120 000KW ,  điện lượng  420 triệu KWH, nay đã có công xuất trên 400 000 KW. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phong cảnh quanh đập Trị An rất rộng và  ngọan mục,  nên nay là nơi du khách viếng thăm nhiều nhất ở tỉnh Đồng Nai. Hồ Trị An cung cấp nước cho đập Trị An, năm 2001, đã có thêm nước của hai đập trên sông La Ngà là Hàm Thuận ( công xuất 300 000 KW) và đập Đa Mi ( 150 000 KW) nối liền hai hồ Trị An và hồ La Ngà , hòan tòan ở địa phận tỉnh Đồng Nai. Nhưng  đập Hàm Thuận thuộc tỉnh Bình Thuận còn có nhiệm vụ làm cho thung lũng Tánh Linh- Đức Linh ( Bình Thuận ) khỏi bị ngập lụt và tưới ruộng vùng này. Chính Tánh Linh là nơi thử đại trà lúa Thần Nông IR8 đầu tiên ở Việt Nam, sau đó mới phổ biến rộng ở đồng bằng Sông Cửu Long. Cũng như ít ai biết là mọi kỷ thuật tân tiến lúc đó về canh tác lúa Thần Nông tiểu điền,  phát sinh ở IRRI – Phi Luật Tân, đều được thử nghiệm hoàn tất tại Trung Tâm Huấn luyện Lúa Thần Nông, cù lao Phố -Biên Hòa, với sự góp công đắc lực của các kỹ sư, kiểm sự tốt nghiệp trong nước ở Bảo Lộc hay ở Cao Đẳng Sài Gòn, các năm 1967- 68 . Hồ La Ngà là nơi có thiết lập làng nhà bè nổi nuôi cá dưới bè  thâm ngư đầu tiên ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ , chiếu theo kiểu Châu Đốc – An Giang khởi đầu vào thập niên 1960 thời Cộng Hòa. Có lẽ nên cải thiện thêm xây cất các nhà bè, biến chúng thành nơi có những tiệm ăn  tân trang lịch sự, sang trọng hơn trên bè kiểu Aberdeen- Hồng Kông, cải thiện cách nấu cá đặc biệt như cá kho tộ,  canh lẫu đầu cá …. kiểu Biên Hòa đã nổi tiếng từ lâu( ? ) . Một hồ khác Hồ Long Ẩn ( ? ), ít ai nói tới, rộng 10 ha, cách thị xã Biên Hòa  6km , đã được xem là xinh đẹp, lạ lùng như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công viên  Quốc gia Cát Tiên, như đã kể là ba công viên Nam Cát Tiên, Bắc Cát Tiên  và Cát Lộc nhập lại  tháng chạp năm 1998, thuộc 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, do bộ Nông Nghiệp quản trị. Đi trên quốc lộ 20 từ thành phố Hồ chí Minh- Sài Gòn lên Đà Lạt đến cột mốc số 174 ngang qua ngã ba Tân Phú, rẽ về phía tay trái, sẽ nhìn thấy bảng ghi «  Công Viên Quốc Gia Cát Tiên – 24 Km ). Diện tích 74 319 ha.  Dân gian địa phương còn duy trì nhiều phong tục, tập quán điểm tô nhiều sắc thái văn hóa  tộc dân  ít người dị đồng, cho nên  hút dẫn nhiều nhà khảo cỗ: vì rừng Cát Tiên còn có thể chưa nhiều  di tích, di chỉ lịch sử  có giá trị đáng được khai quật thêm. Như đã kể trên tháng 11 năm 1988 ở làng Phú Mỹ huyện Cát Tiên  một làng cỗ được khám phá tuổi 2500 – 3000 năm, có lúc có thể là Đất Thánh của  nền văn minh  Phù Nam cách đây 2000 năm ( ? ).  Công viên  tiếp tục bảo tồn đất đai nguyên thủy và hệ thống sinh thái đa dạng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu của Ban Quản trị Công Viên kiểm kê được 77 lọai thú vật thuộc 28 họ và 10 lòai;  326  lọai chim  thuộc  62 họ và 18 lòai; 37 lọai bò sát thuộc 18 họ và 3 lòai ; 133 lọai cá thuộc 28 họ và rất nhiều lọai sâu bọ, côn trùng. Đáng kể nhất là các  thú vật Sách Đỏ ghi bị hiểm nguy tuyệt chủng tỉ như Bò banteng, Minh - Gaur, Cọp,  Gấu, Chó sói, Khỉ chân đe , Côn , Sếu cổ trắng, Trĩ  Đông Nam  , Cá sấu, Báo hoa mai… , Đặc biệt nhất là một bầy  7- 8 con tây ngu một sừng. Ngày 14 tháng 5 năm 1999, vào 4 giờ sáng, một lọạt  máy chụp hình đặt sẳn, đã chụp đựợc một bầy tây ngu  trưởng thành, thuộc họ tây ngu Java ( Inđônêxia ). Rừng bảo vệ  nguyên thủy Cát Tiên rộng 3500 ha, cách Biên Hòa 150 km. Cho đến nay Công viên Cát Tiên đã phân lọai được 1610  lọai cây  thuộc  75 họ, 160 lòai và 724  tông chi thực vật. Nhiều lọai đã ghi vào Sách Đỏ. Len lõi trên  đường mòn  trải lá rụng, thấy  ánh sáng xuyên qua các tán cây, tầng tầng - lớp lớp. Không khí ẩm ướt. Ve sầu kê rềnh rã khắp rừng .Trước tiên nhìn thấy một cây tùng bách tuổi trên 400 năm. Đi xa hơn một chút,  gặp một cây khác : đó là cây  đại thụ ( đại mộc ) Bằng Lăng sừng Lagestroemia cornuculata (  L. venusta , L. undulata ), tuổi đã  gần 300 năm . Thân chính gốc có đường kính trên 3m ,  mọc thêm  6 thân phụ màu ngà ngà, hoa to  1.5cm x 1,5 cm  có 6 sóng tận cùng như sừng. Và nhiều lọai cây lạ lùng khác: tỉ như cây gõ đỏ - gỏ cà te – tò te tên khoa học là  Afzelia xylocarpa ( Pahudia xylocarpa , P. cochinchinensis , họ phu điệp Cesalpinia , đường kính  3.7 m ( cây gõ đõ thân to hơn ở Cẫm Mỹ - Cẩm Đường tỉnh Long Khánh cũ, đã bị quân tham lam gỗ tốt đốn bán mất sau  năm 1963 ), cây đề ( si, xanh, gừa ) benjamina fig ( weeping gig ) Ficus banjamina họ Dâu Tằm Moraceae, không có rễ rủ từ nhánh, nhưng bó rễ  mọc chạy dài theo dòng sông, cây cao đến 14 m, tán lá rậm  rạp cho thể che bóng mát cho  20 người, đồng thời cũng là một lọai cây đa có thân trống rổng, đủ làm dù che cho 3 người núp mưa, tránh nắng. Sông Đồng Nai là biên cương thiên nhiên  bọc ba phía Công viên Cát Tiên. Tả ngạn thường là các làng, vườn tượt  xây cất sát bờ sông. Hửu ngạn  là rừng hoang dã, tán xanh sơ khai. Rất nhiều  lòai chim chóc làm tổ  trên tán cao.  Trong rừng  sơ khai nguyên thủy  tìm thấy nhiều lòai động vật của vùng thấp Đông Trường Sơn  và Tây Nguyên .                                          &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Núi Bửu Long và Hồ Long Ẩn &lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chùa Bửu Phong  thiết lập trên núi Bửu Long  vào thế kỷ thứ 17, vào năm 1679, cũng chỉ cách thị xã Biên Hòa chừng 7km.  Muốn đến chùa, phải leo gần 100 bậc  tấm đá. Trong chùa  có vài tượng Phật bằng gỗ, chạm trỗ tinh vi,  kiểu điêu khắc Á Châu   Trước tiên chùa lợp mái tranh, vách đất, nhưng sau đó Hòa thượng Pháp Thông lợp mái ngói trang trọng hơn .Chùa được trùng tu và mở rộng thêm năm 1829. Và gần đây  mới được trùng tu thêm.                            &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Cổ Mộ Hàng Gòn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cỗ Mộ Hang Gòn ( hay Gòn ? )  đã được chánh quyền xếp hạng di tích văn hóa lịch sử nước nhà, tuổi đã hơn 2500 năm . Đặc điểm là cổ mộ được xây  bằng những tấm bảng đá bằng phẳng, kiểu cỗ điễn hình “ Đôn Men – Dolmen”   Đông Nam Á.  Cỗ mộ được khám phá ở làng  Xuân Tân  huyện Xuân Lộc,  cách Biên Hòa  80 Km. Đáng tiếc là   địa phương cũng như trung ương, đã để hoang phế nhiều năm qua,  đền thờ  Chưởng dinh Nguyễn hửu Kỉnh ( Cảnh ) ở cù lao Phố !...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ tiếp theo :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Phần B : Lạm bàn phát triển tỉnh Đồng Nai -  Biên Hòa.&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;được đăng bởi Minh-Khai Tran trên blog The Gift nhãn: Nghiên Cứu Việt Nam &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;"NGÔI NHÀ BÀ NHU " Ở XỨ SƯƠNG MÙ &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Báo Thanh Niên  08/06/2011 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ngọc Sớm Mai&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;Ảnh: Nghĩa Phạm - Lâm viên&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt thự Hồng Ngọc trước khi sửa chữa &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(DDVN) Ngày 24.4, bà Trần Lệ Xuân qua đời tại Ý ở tuổi 87, chúng tôi trở lại "Ngôi nhà Bà Như" hay "Biệt Thự Trần Lệ Xuân" ở Đà Lạt, chính là ngôi nhà mà ngay sau khi Diệm - Như bị bắn chết, bà đã gọi điện từ nước ngoài về nhờ tướng Trần Văn Đôn giữ giùm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuốn hồi ký Việt Nam nhân chứng, Trần Văn Đôn kể lại cuộc điện đàm với bà Nhu vào sáng 5.11.1963, khi chồng và anh chồng bà đã chết được 3 ngày. Sau khi hỏi thăm chồng, con và hay tin dữ do chính ông Đôn thông báo, bà nói: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Tôi muốn về để ghé dinh Gia Long lấy đồ riêng của tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Trong dinh Gia Long không còn gì nữa. Lúc chiếm dinh Gia Long, dân chúng ùa vào để lấy đồ kỷ niệm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Dân chúng gì! Tôi thấy chiếu ở ti-vi  ba thằng cao bồi chớ dân chúng gì. Tôi còn một cái nhà ở Đà Lạt, ông giữ cho tôi được không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-Chính phủ sẽ giữ cho bà. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;trái ngược với khung cảnh xinh đẹp bên ngoài, bên trong biệt điện hầu như không còn bất cứ đồ vật gì gợi đến sự giàu có, xa hoa của "đệ nhất phu nhân" một thời. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3 Viên ngọc giữa núi rừng&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngôi nhà mà bà Trần Lệ Xuân nói tới được khởi công xây dựng từ năm 1958, trong thời kỳ gia đình họ Ngô đang nắm quyền ở miền Nam (1955-1963), khi mà bà là “đệ nhất phu nhân” đầy quyền lực. Biệt điện tọa lạc trên một ngọn đồi đẹp của thành phố sương mù, xung quanh là rừng thông bát ngát, với diện tích khuôn viên lên tới 13 ngàn mét vuông, nay là số 2 Yết Kiêu, Đà Lạt. Biệt điện gồm có 3 tòa biệt thự lộng lẫy với những cái tên mỹ miều:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt thự Bạch Ngọc với hồ tắm nước nóng ngoài trời ở ngay phía trước. Đây là nơi bơi lội, giải trí cho gia đình bà Nhu (xin mở ngoặc là cho đến tận bây giờ, hồ tắm nước nóng riêng ngoài trời vẫn còn là một “thú chơi” quá xa xỉ và xa lạ ngay cả đối với người giàu có ở nơi thời tiết lạnh như Đà Lạt).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biệt thự Lam Ngọc có phòng làm việc, phòng ngủ, phòng họp, phòng khiêu vũ... với những trang thiết bị cực kỳ xa hoa. Đây là nơi nghỉ và tiếp đón các tướng của gia đình bà Nhu. Bên dưới biệt thự này có hầm trú ẩn, nắp hầm đạn bắn không thủng. Người ta nói rằng hầm này dẫn tới sân bay quân sự Cam Ly. &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Biệt thự Hồng Ngọc được bà Nhu xây cho phụ thân là ông Trần Văn Chương, nhưng biệt thự này chưa hoàn thành thì chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phía trước khu biệt điện là một vườn hoa Nhật Bản, trong vườn có một hồ sen hình địa đồ Việt Nam mà theo hồi ký của tướng Đỗ Mậu thì bà Nhu đã “mời kỹ sư Nhật Bản đến VN 2 lần để thiết kế và xây cất cái hồ đặc biệt đó”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi gia đình họ Ngô còn tại vị, khu biệt điện là nơi “thâm u” đối với người dân Đà Lạt, bởi nó được bao bọc bởi rừng thông và người bình thường không ai được bước chân đến gần khu vực này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuốn Trần Lệ Xuân - giấc mộng chính trường của Lý Nhân có đăng lại bài viết của một luật sư người Việt ở hải ngoại viết về cuộc gặp gỡ bà Trần Lệ Xuân vào năm 2002, khi ông có dịp đến thăm căn hộ của bà tại Paris (Pháp). Tác giả miêu tả rằng “Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà ông bà Nhu ở Đà Lạt”. Tác giả đã cho bà Nhu biết rằng ông từng về Đà Lạt và ghé đến chỗ ngôi nhà bà Nhu, ông thấy ngôi nhà hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vỡ hoang tàn vì thời gian hay qua những biến động”. Khá nhiều bài báo trong nước khi viết về khu biệt điện cũng nói rằng “khu biệt điện đã được phục hồi gần như nguyên vẹn”. Nhưng thực sự không hẳn như vậy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không như khẳng định của tướng Đôn “chính phủ sẽ giữ cho bà”, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tài sản họ Ngô bị tịch thu (nhưng theo một số thông tin thì bà Nhu trước đó cũng đã chuyển vào các ngân hàng nước ngoài số tiền lên đến 18 tỷ USD). Khu biệt điện đã được chế độ Sài Gòn trưng dụng làm khu bảo tàng sắc tộc Tây Nguyên. Sau năm 1975, khu biệt điện thuộc quản lý của sở du lịch Lâm Đồng. Năm 1984 nơi đây trở thành nơi lưu trữ, bảo quản khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn, và từ năm 2006 là trụ sở chính của trung tâm lưu trữ quốc gia IV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh, cô hướng dẫn viên của Trung tâm lưu trữ quốc gia IV, tận tình dẫn chúng tôi đi tham quan khu biệt điện. Trái ngược với khung cảnh xinh đẹp bên ngoài - hồ nước trước biệt thự Bạch Ngọc xanh trong, vườn hoa Nhật Bản tươi tốt, các lối đi phủ đầy cỏ êm", bên trong biệt điện hầu như không còn bất cứ đồ vật nào gợi đến sự giàu có, xa hoa của "đệ nhất phu nhân" một thời, dù là một cái bàn, cái ghế nhỏ. Tất cả các gian phòng đều trống trải. Nơi duy nhất để du khách tạm hình dung ra khung cảnh xưa là "phòng tắm của Trần Lệ Xuân với thiết bị vệ sinh màu xanh và đen, đá ốp tường màu xanh mà Minh cho biết rằng được nhập khẩu từ Ý. Minh kể, khi tiếp quản khu biệt điện, các cán bộ lưu trữ đã phải tốn nhiều thời gian và công sức để phát quang bụi rậm, làm sạch hồ bơi, tu bổ lại vườn hoa Nhật Bản, dọn vệ sinh các phòng ốc. Tất cả các đồ vật trong khu biệt điện đều đã bị trộm cắp, đập phá, hầu như không còn lại thứ gì.&lt;br /&gt;Tuy nhiên, bù lại sự hụt hẫng do có quá ít hiện vật của "bà Nhu" còn sót lại, du khách đến đây sẽ được giới thiệu về kho tài liệu mộc bản triều Nguyễn quý giá, xem bản khắc những văn bản lịch sử như Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ...Cũng là một điều thú vị, khi người xem được các cán bộ lưu trữ nơi đây cho biết cố vấn Ngô Đình Nhu, chồng bà Trần Lệ Xuân, chính là người VN đầu tiên học và tốt nghiệp trường Ecole Nationale des Chartes- trường đào tạo lưu trữ viên cổ tự học. Cán bộ của trung tâm cũng cho biết, vào năm 1945, Ngô Đình Nhu được cử giữ chức Giám đốc nha văn khố, thư viện và công văn toàn quốc của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (sắc lệnh hãy còn lưu trữ tại trung tâm do chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký). Khối mộc bản triều Nguyễn quý giá được lưu trữ tại Trung tâm do Ngô Đình Nhu đã có công cho quân đội di chuyển từ Huế lên Đà Lạt vào năm 1960 để bảo quản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ngọc Sớm Mai&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ảnh: Nghĩa Phạm - Lâm viên&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-471341601365376010?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/471341601365376010/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=471341601365376010' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/471341601365376010'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/471341601365376010'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/06/nha-nguyen-va-ngoc-phuong-nam.html' title='Nhà Nguyễn và Ngọc phương Nam'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-7268435390834422118</id><published>2011-06-02T21:17:00.006+07:00</published><updated>2011-06-02T23:31:30.107+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Lạ và quen'/><title type='text'>Lạ và quen</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-BHFdBivwjBw/TeexcYLgjLI/AAAAAAAAIaE/KcxUohhttp://www.blogger.com/img/blank.gifttp://www.blogger.com/img/blank.gifMfVHQU/s1600/La%2Bva%2BQuen.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 296px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-BHFdBivwjBw/TeexcYLgjLI/AAAAAAAAIaE/KcxUoMfVHQU/s400/La%2Bva%2BQuen.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5613650561625787570" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;DẠY VÀ HỌC. Tôi chép tặng bạn hai bài Lạ mà Quen: &lt;a href="http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_tranthe.htm"&gt;Trần thế &lt;/a&gt;và &lt;a href="http://dichthuatvietnam.info/showthread.php?t=91 "&gt;Truyện kể có nhiều thành ngữ tục ngữ nhất&lt;/a&gt;. Lạ vì thời buổi này có người đã cai Tivi và nay thì cai luôn đọc báo. Lạ vì bài văn vui vui đầy ắp thành ngữ, tục ngữ. Quen vì ý nghĩ "Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời/ Lòng không vướng bận dạ an thôi".&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;TRẦN THẾ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Nguyễn Ngọc Tư &lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba tháng, cũng có thể lâu hơn, mình không đọc báo. Mình coi như đó là cuộc…cách mạng, như bốn năm trước mình cai… ti vi. Nghĩ là mình cũng qua được thôi, dù trước đó buổi sáng chưa cầm tờ báo như thể ngày vẫn chưa mở, như báo là một thứ không khí để thở. Và buổi sáng hôm đó, khi ghé qua quán cà phê mà bọn mình hay ngồi, cậu nhóc bán báo quen chưng hửng mếu máo than mất mối rồi khi thấy mình khỏa tay, lắc đầu từ chối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ là một từ bỏ nhỏ, tưởng không can hệ gì mà cuộc sống mình bỗng khác. Mình cảm giác đi bên rìa đời, bên bờ khác, an nhiên bước chậm trong khi thế giới vẫn giẫm đạp chen nhau bươn tới… Thấy rơi trong bầu không khí nhẹ nhõm, êm đềm. Những sáng ngồi quán vị cà phê không còn đắng ngắt, đắng đến nghẹn đi vì những trang báo ngày chưa ráo mực lấy từ giỏ xe thằng nhỏ bán dạo. Không còn xiên thấu lòng mình hình ảnh một bàn tay thò ra khỏi mái ngói kêu cứu giữa dòng nước lũ, không va đập đau điếng vào mình cái cảnh trẻ nhỏ bị bọn chăn dắt lột trần truồng nằm dưới mưa. Không lửa hắt làm máu mình sôi lên khi đọc thấy tin tức một cánh rừng bị bức tử, những con voi bị bắn chết…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không gì cả. Những tin tức xa xôi đâu đó dưới trời này đã bị chặn, thì vài sự kiện lao xao của cái thành phố nhỏ nơi mình sống chỉ có thể làm mình xao động một chút, rồi thôi. Giờ thực sự mình với mình, với sách, với trẻ con. Vài ông bạn từng thuyết phục mình bỏ đọc báo, nhắn đi nhắn lại rằng đừng tưởng đấy là kiến thức, đừng tưởng biết hết thật ra chẳng biết gì, rằng đó là bề nổi của cuộc sống, đừng nên nhìn đời theo cách ấy…  có vẻ đắc chí, thế chứ, đã bảo rồi mà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mình bắt đầu đi dụ dỗ bạn bè, ca tụng việc không đọc báo như đã tu nửa cuộc, như sống thần tiên trên núi, mọi thứ chung quanh tươi tắn và thanh sạch. Bạn rên lên kêu khó. Buổi sáng mà không cầm tờ báo trên tay thấy như đói, dù lắm khi báo cũng không có gì để đọc, dù thông tin bạn tìm được trong lúc lội mạng xã hội vẫn hay ho sinh động hơn nhiều. Biết là mất thời gian nhưng nhiệt độ cuộc sống hiện lên trên ấy, bạn phân trần, không đu theo thấy như bị bỏ rơi. Mình cười thôi bạn cứ ở lại chơi, mình lên núi đây. Rồi thì ai quan, ai sắm du thuyền triệu đô, đất nước nào vừa chính biến, dòng sông nào vừa giãy chết… không còn nhồi máu tim mình nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dường như đó là cuộc chạy trốn, đôi lần mình nghĩ vậy, khi nhìn quanh bỗng vắng. Nhận ra chẳng phải người đời cứ không đọc báo mà thành tiên. Nông dân bận bịu ngó trời ngay ngáy lo mùa thất bát, buôn gánh bán bưng cùng với đánh giày bạc mặt mòn chân cho cuộc mưu sinh, sư bận kệ kinh, mấy chị nội trợ quẩn quanh với cá lên giá chồng nhậu khuya. Mình có chút bơ vơ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và một bữa mình ngoắc thằng nhỏ bán báo lại, như cú tiếp đất sau bao ngày lơ lửng. Trải tờ báo trước mặt, lướt qua từng trang một, mình bỗng nhận ra chưa từng bị đứt đoạn dù đã đi vắng cũng lâu rồi. Thế giới vẫn đầy nước mắt và hỗn loạn y hệt hôm mình rời khỏi. Một chiếc tàu du lịch chìm mang đi nhiều trẻ con, một xóm “nhà không nóc” cũng nheo nhóc con nít mồ côi cha, một ông già bị chính máu thịt ruột ràng đuổi ra đường sống đời bờ bụi, những ngư dân bị hiếp đáp bỏ mạng ngoài khơi… Lại là cảm giác bị trăm con sóng nhồi, bị que xiên qua thịt da, bị xóc dằm, thấy chính mình bị giẫm đạp, phẩn uất dồn lên nghẹn cổ. Rời rã. Mệt nhừ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lần đầu tiên mình nhận ra - sau chuyến phủi bụi trần thế thõng tay đi chơi núi - những cảm xúc ngột ngạt bị đẩy đến tận cùng, đến ngộp thở đó có khi cũng cần thiết cho mình, một người viết. Chữ bật ra từ những nỗi đau, biết đâu…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn: Viet-studies, trang Nguyễn Ngọc Tư&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;TRUYỆN KỂ CÓ NHIỀU THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ NHẤT&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THỪA MỘT CON THÌ CÓ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, đứng núi này trông núi nọ, già kén kẹn hom, ghét của nào trời trao của ấy. Chị nọ phận hẩm duyên ôi, kết tóc xe tơ với một anh chàng mặt nạc đóm dày, xấu ma chê quỷ hờn lại đần độn, ngốc nghếch, vô tâm vô tính, ruột để ngoài da, thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, mười tám cũng ừ mười tư cũng gật, học chẳng hay, cày chẳng biết, lúng túng như thợ vụng mất kim, chỉ được cái sáng tai họ điếc tai cày là giỏi! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trăm dâu đổ đầu tằm, giỗ tết cúng bái trong nhà, công to việc lớn ngoài xóm, hai sương một nắng, tất bật quanh năm, một tay chị lo toan định liệu. Anh chồng thì như gà què ăn quẩn cối xay, lừ đừ như ông từ vào đền, như cỗ máy không giật không động. Giàu vì bạn, sang vì vợ, hang xóm láng giềng kháo nhau:”chàng ngốc thật tốt số, mả táng hàm rồng, như mèo mù vớ được cá rán”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chị vợ mỏng mày hay hạt, tháo vát đảm đang, hay lam hay làm, vớ phải chàng ngốc đành nước mắt ngắn nước mắt dài, đèo sầu nuốt tủi, ngậm bồ hòn làm ngọt cho qua ngày đoạn tháng. Nhiều lúc tức bầm gan tím ruột, cực chẳng đã, chị định một liều ba bảy cũng liều, lành làm gáo vỡ làm muôi, rồi anh đi đường anh, tôi đi đường tôi cho thoát nợ. Nhưng gái có chồng như gong đeo cổ, chim vào lồng biết thuở nào ra, nên đành ngậm đắng nuốt cay, một điều nhịn chín điều lành, tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại, vợ chồng đóng cửa bảo nhau cho êm cửa êm nhà, sao nỡ vạch áo cho người xem lưng, xấu chàng hổ ai? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa. Biết chồng tại gia không trot, liền trổ tài điều binh khiển tướng dạy chồng một phen, những mong mở mày mở mặt với bàn dân thiên hạ, không thua anh kém chị trong họ ngoài làng. &lt;br /&gt;Một hôm ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, giữa thanh thiên bạch nhật, chị vợ dỗ ngon dỗ ngọt bảo chồng đi chợ mua bò, không quên dặn đi dặn lại: đến chợ phải tuỳ cơ ứng biến, xem mặt đặt tên, liệu cơm gắp mắm, tiền trao cháo múc, đồng tiền phải liền khúc ruột kẻo lại mất cả chì lẫn chài. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được lời như cởi tấm long, ngốc ta mở cờ trong bụng, gật đầu như búa máy, vội khăn gói quả mướp lên đường quyết phen này lập công chuộc tội. Bụng bảo dạ, phải đi đến nơi về đến chốn, một sự bất tín vạn sự bất tin, ngốc quàng chân lên cổ đi như chạy đến chợ. Chợ giữa phiên, người đông như kiến, áo quần như nêm, biết bao của ngon vật lạ, thèm rỏ dãi mà đành nhắm mắt bước qua. Hai tay giữ bọc tiền khư khư như từ giữ oản, ngốc nuốt nước bọt bước đến bãi bán bò. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau một hồi bới lông tìm vết, cò kè bớt một thêm hai, nài lên ép xuống, cuối cùng ngốc cũng mua được 6 con bò. Thấy mình cũng được việc, không đến nỗi ăn không ngồi rồi báo vợ hại con, ngốc mừng như được của. Hai năm rõ mười, ai dám bảo anh ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa. Nghĩ vậy, ngốc ung dung leo lên lưng con bò đi đầu, mồm hô miệng hét diễu võ dương oai, lùa đàn bò ra về mà lòng vui như hội. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa đường sực nhớ lời vợ dặn, suy đi tính lại, cẩn tắc vô áy náy, ngốc quyết định đếm lại đàn bò cho chắc ăn. Ngoảnh trước ngó sau, đếm đi đếm lại, đếm tái đếm hồi chỉ thấy có 5 con, còn một con không cánh mà bay đi mất. Toát mồ hôi, dựng tóc gáy, mặt cắt không còn giọt máu, ngốc vò đầu gãi tai, sợ về nhà vợ mắng cho mất mặn mất nhạt rồi lại bù lu bù loa kêu làng kêu nước mà than than trách phận, ngốc về nhà với bộ mặt buồn thiu như đưa đám. &lt;br /&gt;Thấy chồng về, chị vợ tươi như hoa ra đón, nhưng ngốc vẫn ngồi như bụt mọc trên lưng con bò đi đầu, chắp tay lạy vợ như tế sao: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Mình ơi, tôi đánh mất bò, xin mình tha tội cho tôi… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn chồng mặt như chàm đổ mình dường giẽ run, chị vợ không khỏi lo vốn liếng đi đời nhà ma, liền rít lên như xé lụa: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đồ ăn hại. Đàn ông con trai mà trói gà không chặt. Làm sao lại để bò sổng? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sợ thót tim vãi đái, nhưng ngốc vẫn lấy hết sức bình tĩnh để phân trần: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi mua tất cả 6 con, họ giao đủ 6, bây giờ đếm mãi vẫn chỉ 5 con. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn ngốc ta vẫn ngồi như đóng đinh trên lưng bò, chị vợ hiểu rõ đầu đuôi cơ sự, dở khóc dở cười bảo chồng: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thôi xuống đi! Thiếu đâu mà thiếu, có mà thừa một con thì có!!! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Nguồn&lt;/span&gt;: &lt;a href="http://dichthuatvietnam.info/showthread.php?t=91"&gt;http://dichthuatvietnam.info/showthread.php?t=91&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/5895919480319953004-7268435390834422118?l=dayvahoc.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://dayvahoc.blogspot.com/feeds/7268435390834422118/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=5895919480319953004&amp;postID=7268435390834422118' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7268435390834422118'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/5895919480319953004/posts/default/7268435390834422118'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://dayvahoc.blogspot.com/2011/06/la-va-quen.html' title='Lạ và quen'/><author><name>Hoang Kim</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03800340179703955930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='23' height='32' src='http://bp1.blogger.com/_ewWdo68I2wA/R6NAUwKp7dI/AAAAAAAAAIk/u7BClekPZPo/S220/HoangKim2006.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-BHFdBivwjBw/TeexcYLgjLI/AAAAAAAAIaE/KcxUoMfVHQU/s72-c/La%2Bva%2BQuen.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-5895919480319953004.post-3782786358452536061</id><published>2011-05-28T13:43:00.004+07:00</published><updated>2011-05-29T16:57:11.471+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chào mừng website bách khoa toàn thư văn hóa Việt'/><title type='text'>Chào mừng website bách khoa toàn thư văn hóa Việt</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a href="http://hoangkimvietnam.wordpress.com"&gt;THUNG DUNG&lt;/a&gt;. Câu chuyện đưa những thí dụ, những nội dung lên các website làm sống dậy trong thế giới mạng những thông tin hữu ích không phải là câu chuyên quá xa lạ mà ý nghĩa của câu chuyện trong cuộc sống đích thực lần này chính là ở việc những người đi “vác tù và hàng tổng” đang bằng những nổ lực cá nhân để có thể xây dựng một cách đầy đủ nhất, đa dạng nhất, đồ sộ nhất về tư liệu để có thể tạo nên một dung diện về văn hóa Việt Nam và cùng với điều đó họ cũng là những người tiên phong đưa công nghệ Wiki 2.0 vào Việt Nam để tất cả những người sử dụng có thể cùng tham gia xây dựng văn hóa Việt với khái niệm đây là một thực thể sống, không bất biến, luôn vận động cùng với sự đóng góp của tất cả mọi người. Chúng ta hãy đến với &lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a href="http://vhv.com.vn/"&gt;video&lt;/a&gt;&lt;/span&gt; và &lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;a href="http://vhv.vn/"&gt;website bách khoa toàn thư văn hóa Việt&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;. Chào mừng bạn đến với những tấm lòng và những bài viết sâu sắc, tâm huyết đối với sự nghiệp giáo dục và chấn hưng văn hóa &lt;a href="http://vhv.vn/"&gt;http://vhv.com.vn/&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;TRÁI TIM HOÀN HẢO&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói:” Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đã đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề mặt sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cưòi nói: “Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn trái tim của cụ chỉ là những mảnh chắp, đầy sẹo và vết cắt. “&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Mỗi vết cắt trong tim tôi tượng trưng cho một nguời mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè… Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tim tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi va con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những vết sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc không cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng mộtngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoản trống mà tôi luôn chờ đợi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu của cụ già đã chảy trong tim anh…&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;NGƯỜI NHÂN VIÊN SẾP CẦN&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta ai cũng có mặt ưu điểm vượt trội, để trở thành một nhân viên trụ cột của công ty, ngoài việc nâng cao năng lực nghiệp vụ, bạn cần thể hiện mình là một người có giá trị.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Người nhân viên có giá trị cần trang bị cho mình&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;- Cần nỗ lực làm việc cho công ty, sau đó mới tính đến sự báo đáp từ công ty&lt;br /&gt;- Nên đứng từ góc độ của công ty xem xét mọi việc, đối đãi người khác như với chính bản thân mình; luôn tin tưởng vào công việc của mình&lt;br /&gt;- Trở thành người có khả năng giả quyết vấn đề, chứ không phải là người tạo nên mọi vấn đề rắc rối&lt;br /&gt;- Không bao giờ nói “ không” với công việc&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Nâng cao năng lực, nỗ lực trong mọi công việc&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Tự giác nâng cao phẩm chất và năng lực bản thân, đừng quá quan tâm đến việc công ty có thăng chức và tăng lương cho bạn hay không. Mà hãy tập trung và hoàn thành công việc, làm các công việc khác hợp với khả năng của mình, bắt đầu từ việc nhỏ nhất để tích lũy thêm kinh nghiệm. Thái độ tích cực và ham học hỏi sẽ rất có ích cho bạn sau này.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Thiết lập các mối quan hệ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;So với công việc thì việc xử lí công việc và tạo mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng còn khó hơn rất nhiều. Hãy dùng thái độ chân thành để thiết lập các mối quan hệ. Điều này không những giúp bạn làm việc một cách thoải mái, còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết, nâng cao sự bền chặt của công ty và hiệu quả công việc. Nên đứng vào vị trí của người khác để suy xét mọi vấn đề của công việc. Điều này hoàn toàn có lợi cho sự nghiệp của bạn.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;br /&gt;Chú trọng nâng cao hiệu quả công việc&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Trong thời đại công nghiệp hiện nay, thời gian chính là tiền bạc, nâng cao hiệu quả công việc đồng thời nâng cao giá trị sáng tạo, tính cạnh tranh và giảm chi tiêu ngân sách cho công ty mang đến hiệu quả kinh tế thực tế. Qua đó để sếp thấy sự cố gắng của bạn xứng đáng đồng lương mà công ty trả cho bạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Trở thành người giải quyết các vấn đề&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Để trở thành một người trợ lí đắc lực của sếp, khi gặp các vấn đề trong công việc bạn cần đưa ra cách giải quyết, chứ không phải là ỷ lại sếp. Sếp luôn là người có trách nhiệm và người nhân viên sáng tạo là biết cách giúp sếp giải quyết các vấn đề khó khăn. Những nhân viên luôn chủ động hoàn thành công việc được giao và vì lợi ích công ty làm tốt cả phần việc không trong nhiệm vụ của mình là người sếp luôn cần. Ngày nay làm việc dập khuân không phải là mô típ cho một nhân viên năng động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Công việc chính là sự nghiệp của mình&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bất luận ở giai đoạn nào của sự nghiệp hãy nhiệt tình, năng động, không ngừng sáng tạo vì công ty, hoàn thành và nâng cao giá trị công việc. Không nên có suy nghĩ “ đây không phải là phần việc của tôi ”, vấn đề khó khăn của một người có thể sẽ là cơ hội của người khác, hãy nắm bắt bất cứ cơ hội nào mà bạn có.&lt;br /&gt;Chỉ cần bạn biết kiềm chế, không sợ sự cô đơn và sự cám dỗ của những thú vui thì hoàn thành những kế hoạch của từng ngày , lâu ngày bạn sẽ có những ưu thế hơn người khiến bản thân ngày càng có giá trị.&lt;br /&gt;Giống như nước có thể bào mòn đá vậy những việc bình thường nếu quyết tâm và kiên trì sẽ xuất hiện kì tích mà ta khó đoán trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;MUỐN THÀNH CÔNG THÌ HÃY ĐỌC BÀI NÀY&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðây là bài diễn văn của Larry Ellison (Chủ tịch Oracle) tại ÐH Yale vào lễ tốt nghiệp năm 2000 và cũng vì nó, ông bị lôi ra khỏi sân khấu khi đang diễn thuyết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Là SV của ÐH Yale, tôi xin lỗi nếu các bạn có thể chịu đựng được phần mở đầu trước, nhưng tôi muốn các bạn làm một điều gì đó cho tôi. Xin hãy nhìn chung quanh bạn. Hãy nhìn người bạn cùng lớp bên trái bạn. Hãy nhìn người bên phải bạn. Bây giờ, hãy xem xét điều này: 5 năm nữa, 10 năm nữa, thậm chí 30 năm nữa, kì quặc là những người bên trái bạn sẽ trở thành người thua cuộc (Loser ). Người ngồi bên phải bạn lúc đó cũng là người thua cuộc. Và bạn, người ở giữa sẽ như thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạn có thể mong mỏi điều gì hơn? Rốt cục bạn cũng sẽ là một gã tồi mà thôi. Tất cả đều thua. Tất cả. Thực tế, khi tôi tìm kiếm trong số những người trước mặt tôi hôm nay, tôi không thấy được hàng ngàn tia hi vọng cho một ngày mai tươi sáng. Tôi không thấy hàng ngàn người lãnh đạo tương lai trong hàng ngàn ngành công nghiệp. Tôi chỉ thấy hàng ngàn kẻ thua cuộc. Bạn lo lắng ư? Dễ hiểu thôi. Sau cùng, tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người bỏ học đại học nửa chừng, cả gan hùng hồn thốt ra những điều trái lẽ phải như thế trước khóa tốt nghiệp của một trong những viện có uy tín nhất đất nước này?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi sẽ nói cho các bạn biết tại sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi vì tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người giàu thứ 2 trên hành tinh, là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Bill Gates, người giàu nhất thế giới dù sao đi nữa cũng là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Paul Allen, người giàu thứ 3 trên thế giới, cũng bỏ học ÐH giữa chừng, và bạn thì không làm điều đó. Và cứ tính như thế tiếp tục đi. Cho đến Michael Dell, người giàu thứ 9 trên thế giới và ngày càng đi lên rất nhanh, cũng là một thằng bỏ học giữa chừng và bạn, vâng chính lại là bạn, không như thế. Bạn thấy đảo lộn rồi ư? Có thể hiểu được mà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì vậy hãy để tôi chọc giận cái tôi trong bạn bằng cách chỉ ra, một cách thẳng thắn, là bằng cấp của bạn ch
