Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Bàn chuyện dài hơi về sản xuất giống



DẠY VÀ HỌC. Báo Thanh tra điện tử đăng bài viết của Nam San "Bàn chuyện dài hơi về sản xuất giống" - Nguyên nhân sản xuất giống cây trồng còn nhiều yếu kém nằm ở chỗ, chưa xây dựng được chiến lược dài hơi và đầu tư thích đáng cho công tác này. Mười năm nay chúng ta vẫn nghiêng về nghiên cứu mà xem nhẹ việc nhân giống, đưa vào sản xuất đại trà. Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng thể và đồng bộ phát triển giống cây trồng, lựa chọn một số giống cây chủ lực để phát triển thương hiệu, xây dựng quy trình canh tác và phát triển kinh tế ngành hàng. Trong chiến lược phát triển hạt giống, các vấn đề xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác chọn tạo giống mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát, quản lý giống cây trồng… cần được quan tâm đúng mức.

Hiệu quả đầu tư thấp

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) đã phê duyệt 19 dự án (D.A) sản xuất giống cây trồng và giao cho Cục Trồng trọt làm chủ đầu tư từ năm 2006 - 2010. Đến nay, đã có 16 D.A hoàn thành nghiệm thu, xây dựng và hoàn thiện được 120 quy trình công nghệ nhân giống lúa, ngô, chè, rau, cây ăn quả…

Tuy nhiên, theo ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục Trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), công nghệ sản xuất giống vẫn hạn chế, chất lượng của một số lô chưa phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Một vấn đề đáng lo ngại là, hiệu quả thu về từ các D.A sản xuất giống còn thấp. Đơn cử: D.A phát triển giống lúa chất lượng cao vùng đồng bằng sông Hồng có tổng mức đầu tư hơn 28 tỷ đồng, nhưng số lượng giống bán ra thu hồi sản phẩm chỉ đạt hơn 1,2 tỷ đồng; D.A giống rau đầu tư 13,8 tỷ đồng, nhưng chỉ thu hồi trên 475 triệu đồng; D.A giống mía đầu tư 18 tỷ đồng nhưng chỉ thu hồi được 626 triệu đồng; D.A giống hoa đầu tư hơn 22 tỷ đồng thu hồi được xấp xỉ 3 tỷ đồng.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Bùi Bá Bổng, tổng số vốn đầu tư cho các D.A trong 5 năm qua đạt 268 tỷ đồng, nhưng số tiền bán giống thu về mới đạt 16 tỷ đồng. Như vậy, tính ra giá thành giống của Việt Nam quá đắt. Tuy nhiên, 10 năm nay chúng ta vẫn chỉ nghiêng về nghiên cứu, hơn nữa các đơn vị thực hiện D.A sử dụng quá nhiều đồng vốn vào xây dựng cơ bản, mô hình trình diễn… mà xem nhẹ việc nhân giống, đưa vào sản xuất đại trà. Do đó, sản lượng giống sản xuất ra trong nước còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu.

Cần quan tâm đến giống chủ lực


Theo GS.VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, nước ta vẫn chưa xây dựng được một chiến lược dài hơi cho phát triển giống cây trồng. Do đó, Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng thể và đồng bộ phát triển giống cây trồng, trong đó nên lựa chọn một số giống cây chủ lực để phát triển thương hiệu. Cùng với đó là xây dựng quy trình canh tác và phát triển kinh tế ngành hàng. “Chúng ta cần có chương trình sản phẩm nông nghiệp quốc gia, nhất là các sản phẩm chủ lực để xuất khẩu. Như tại đồng bằng sông Cửu Long, chỉ nên lựa chọn phát triển 1 - 3 giống lúa có chất lượng cao để đầu tư nghiên cứu. Có như vậy mới nâng cao được chất lượng sản phẩm”, ông Long nói.

Ngoài ra, trong chiến lược phát triển hạt giống, các vấn đề xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác chọn tạo giống mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát, quản lý giống cây trồng… cũng phải được quan tâm đúng mức.

Theo PGS.TS Trần Thị Trâm (Đại học Nông nghiệp I), Nhà nước cần thay đổi phương thức quản lý nghiên cứu khoa học của các bộ một cách toàn diện, triệt để, khuyến khích các giống mới (gồm cả giòng bố mẹ và giống lai) được nghiên cứu chọn tạo trong nước có giá trị phục vụ sản xuất. Việc cấp kinh phí nên làm theo kiểu khoán gọn một lượng nhất định cho mỗi giống mới thay cho việc cấp đề tài theo thời gian để nhà chọn giống chủ động trong chi tiêu trong cả quá trình gây tạo vật liệu đến chọn giống.

PGS.TS Dương Văn Chín, Phó Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia trong chính sách phát triển sản xuất giống. Chẳng hạn, Indonesia quy định các nhà nhập khẩu buộc phải sản xuất hạt giống trong nước sau hai năm khi bắt đầu nhập khẩu. Do đó, lượng lúa giống có chứng nhận của nước này đã đạt được 50% nhu cầu trong nước (khoảng 150.000 tấn). Lượng hạt giống lúa lai của nước này cũng tăng 21% trong vòng 2 năm qua.

Kết nối với doanh nghiệp


Để nâng cao năng lực sản xuất giống cây trồng, theo nhiều chuyên gia, việc gắn kết với doanh nghiệp (DN) có vai trò rất quan trọng.

PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm cho biết, sản xuất giống muốn thành công phải gắn với DN chứ bản thân các viện nghiên cứu không thể tự làm công tác nhân giống được. Hiện nay, chúng ta chưa thiết lập được hệ thống phân phối giống trong khi phải cạnh tranh khốc liệt với DN nước ngoài. Do đó, Nhà nước cần có chính sách ưu tiên đầu tư cho một số DN lớn làm công tác nhân giống.

Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, hiện nay chúng ta đã làm được công tác nghiên cứu chọn tạo giống, nhưng việc nhân giống để phục vụ sản xuất còn hạn chế. Công việc này nhất định phải có vai trò của DN. Vì vậy, trong Quyết định 2194 của Thủ tướng Chính phủ về sản xuất giống giai đoạn 3 (2011 - 2015) có chủ trương hỗ trợ các DN để nhân nhanh và mở rộng giống cho sản xuất đại trà như về vay vốn tín dụng, chính sách đất đai…

Để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp trong những năm tới, nâng cao giá trị cho hàng nông sản Việt, ngành Nông nghiệp cần sớm tháo gỡ khó khăn và có biện pháp hoàn thiện công tác sản xuất giống cây trồng.
Nam San

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Xá lợi – Một bí ẩn chưa được khám phá

DẠY VÀ HỌC Ngọc xá lị là những hạt tinh thể với đủ màu sắc, long lanh như ngọc, rắn như kim cương, búa đập không vỡ, lửa thiêu không cháy. Chúng được tìm thấy trong đống tro tàn sau khi hỏa thiêu hài cốt của một nhà tu hành nào đó. Cho đến nay, khi nền khoa học kỹ thuật của nhân loại đã phát triển ở trình độ cao, chúng vẫn tồn tại như một bí ẩn chưa được khám phá. (Hình: Ngọc xá lị Phật Thích Ca Mâu Ni 01)

Bảo vật của nhà Phật

Xá lị là từ ngữ phiên âm tiếng Phạn: sarira – nghĩa đen là “những hạt cứng”. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các tín đồ đã đem xác của ngài đi hỏa táng. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện thấy trong phần tro còn lại có lẫn rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. Nó được đặt tên là xá lị, được coi là một bảo vật đặc biệt quý hiếm của Phật giáo.

Những năm gần đây, lịch sử Phật giáo cũng như nghiên cứu của các nhà khoa học đã ghi lại khá nhiều trường hợp các vị cao tăng sau khi viên tịch, hỏa thiêu đã để lại xá lị, chẳng hạn như:

Tháng 12/1990, một vị cao tăng là Hoằng Huyền Pháp sư ở Singapore viên tịch, sau khi thi thể được hỏa thiêu, người ta phát hiện thấy trong phần tro của ngài có 480 hạt cứng, hạt to cỡ như hạt đỗ tương, hạt nhỏ cỡ bằng hạt gạo, trông gần như trong suốt và tỏa sáng lấp lánh như những hạt kim cương. Sau khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng, đó chính là thứ gọi là xá lị.

Tháng 3/1991, Phó hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn – ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung Quốc, sau khi viên tịch đã được tiến hành nghi thức hỏa táng theo tâm nguyện của ngài, trong phần tro còn lại người ta phát hiện được tới 11.000 hạt xá lị, đạt kỷ lục thế giới từ trước đến nay về những trường hợp xá lị được ghi nhận một cách chính thức.

Viên xá lị có thể to như quả trứng vịt, đó là trường hợp của Pháp sư Khoan Năng, vị chủ trì Tây Sơn Tẩy Thạch Am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 27/9/1989, ngài viên tịch thọ 93 tuổi. Sau khi hỏa thiêu người ta tìm thấy trong tro hài cốt 3 viên xá lị màu xanh lục, trong suốt, đường kính mỗi viên lên tới 3-4cm, tựa như những viên ngọc lục bảo.

Lại có một số trường hợp, xá lị chính là một bộ phận nào đó của cơ thể không bị thiêu cháy. Tháng 6/1994, Pháp sư Viên Chiếu 93 tuổi, chủ trì chùa Pháp Hoa, ở núi Quan Âm, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, trong một buổi giảng kinh tối đã nói với các đệ tử là: Ta sẽ để lại trái tim cho chúng sinh. Sau đó vị sư này ngồi kiết già và siêu nhiên viên tịch.

Theo đúng pháp quy của nhà chùa, các đệ tử đặt thi thể bà lên một phiến đá xanh, xếp củi chung quanh và tiến hành hỏa hóa. Lửa cháy sáng rực suốt một ngày một đêm. Trong đống tro nguội, các đệ tử thu được 100 viên xá lị to nhỏ khác nhau. Có viên thì hình tròn (xá lị tử), có viên lại nở xòe ra như những bông hoa (xá lị hoa). Những bông xá lị hoa trông rất đẹp, lóng lánh như những bông hoa tuyết, chung quanh còn được giát bằng những hạt xá lị nhỏ cỡ hạt gạo, sắc đỏ, vàng, lam, nâu… hết sức kỳ diệu. Nhưng điều kỳ diệu hơn cả là trái tim của bà không hề bị thiêu cháy. Sau khi ngọn lửa tắt trái tim vẫn còn mềm, nóng, rồi mới nguội dần và cứng lại, biến thành một viên xá lị lớn, màu nâu thẫm. Khoảng 100 đệ tử có mặt trong lễ hỏa táng đã tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ lùng đó. Theo kể lại, Pháp sư Viên Chiếu là người từ bi, tính tình điềm đạm và ôn hòa, thường ngày bà chỉ ăn rất ít. Chùa Pháp Hoa đã cho người mang những viên xá lị đó đến giao lại cho Hội Phật giáo tỉnh Thiểm Tây.

Khoa học bó tay?

Vài chục năm trở lại đây, giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển như họ đã từng nghiên cứu lý giải các hiện tượng trong thiên nhiên, vũ trụ và con người. Thế nhưng, khi bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng xá lị, họ đã gặp phải không ít khó khăn, trở ngại.

Trước đây người ta không tin là có xá lị Phật tổ. Mãi đến năm 1997, ông W.C Peppé, người Pháp, khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía Nam Népal đã tìm thấy những viên xá lị đựng trong một chiếc hộp bằng đá. Trên hộp có khắc những văn tự Brahmi, và người ta đã đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá lị của đức Phật. Phần xá lị này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ” (Theo Phật quang từ điển). Sự khám phá này đã chứng minh những gì được ghi lại trong Kinh Trường A Hàm và rải rác ở những sách kinh điển của Phật khác về việc phân chia xá lị đức Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là có thật. Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ, xá lị đức Phật vẫn còn nguyên vẹn, lấp lánh màu sắc.

Về sự hình thành của những viên xá lị, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau. Các nhà xã hội học cho rằng, do thói quen ăn chay, thường xuyên sử dụng một khối lượng lớn chất xơ và chất khoáng, trong quá trình tiêu hóa và hấp thụ, rất dễ tạo ra các muối phosphate và carbonate, những tinh thể muối đó tích lũy dần trong các bộ phận của cơ thể và cuối cùng biến thành xá lị. Tuy nhiên, giả thuyết này không đủ sức thuyết phục. Bởi lẽ số người ăn chay trên thế giới có tới hàng trăm vạn, nhưng tại sao không phải ai khi bị hỏa táng cũng sinh xá lị. Số người theo đạo Phật cũng nhiều vô kể, thế nhưng tại sao trong cơ thể của những tín đồ bình thường lại không có xá lị?

Các nhà khoa học lại cho rằng, có thể xá lị là một loại hiện tượng có tính bệnh lý, tương tự như bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật… giả thuyết này cũng khó đứng vững. Bởi vì, sau khi đưa xác đi thiêu, trong phần tro của những người mắc các chứng bệnh kể trên, không hề phát hiện thấy có xá lị. Mặt khác, những cao tăng có xá lị thường là những người lúc sinh thời thân thể rất khỏe mạnh và tuổi thọ cũng rất cao.

Nhà Phật cũng có những quan điểm riêng về vấn đề xá lị. Quan điểm thứ nhất cho rằng xá lị là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện. Quan điểm thứ hai cho rằng: xá lị là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn làm việc thiện thì sau khi viên tịch mới có thể sinh xá lị.

Tuy nhiên, cuối cùng thì xá lị đã được hình thành như thế nào? Thành phần của nó ra sao? Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương, lục bảo, chỉ là tro cốt còn lại của người tu hành sau khi hỏa táng, vậy mà sao đốt nó hoài cũng không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng… Hàng loạt câu hỏi như vậy cho đến nay vẫn là những câu đố chưa có lời giải đáp!


Phật Thích Ca Mâu Ni 02

Phật Thích Ca Mâu Ni Xá Lợi Huyết

Phật Thích Ca Mâu Ni Xá Lợi Ðầu

XÁ LỢI NGÓN TAY PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI ĐẦU PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI RĂNG PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI NÃO BẢY MÀU CỦA PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI TIM PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI XƯƠNG PHẬT THÍCH CA MÂU NI

XÁ LỢI TÔN GIẢ VÔ NÃO

XÁ LỢI TÔN GIẢ A NAN ĐÀ

XÁ LỢI TÔN GIẢ LA HẦU LA

XÁ LỢI TÔN GIẢ CAMADA

XÁ LỢI TÔN GIẢ KIỀU TRẦN NHƯ

XÁ LỢI TÔN GIẢ PHÚ LÂU NA

XÁ LỢI TÔN GIẢ BA KIẾT LA

XÁ LỢI TÔN GIẢ BẠT ĐỀ LỢI CA

XÁ LỢI TÔN GIẢ A NA LUẬT

Theo: gdptductam.org


Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Trở lại nụ cười Ba Sương

DẠY VÀ HỌC Báo Tiền Phong đăng bài Trở lại nụ cười Ba Sương trong đó có trích đoạn bài thơ hay Về một người anh hùng của Đoàn Xuân Hòa ở Bộ NN-PTNT Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình...

> Khôi phục sinh hoạt Đảng cho bà Trần Ngọc Sương

TP - Nhiều tin vui lại đến với nữ Anh hùng Lao động Trần Ngọc Sương (Ba Sương), nguyên Giám đốc Nông trường Sông Hậu, cho bà lại có những nụ cười thanh thản, hồn hậu.

Bà Ba Sương những ngày trong vòng tố tụng, nhiều đau buồn lo lắng nhưng vẫn chế biến thực phẩm để kiếm sống
Bà Ba Sương những ngày trong vòng tố tụng, nhiều đau buồn lo lắng nhưng vẫn chế biến thực phẩm để kiếm sống.

Tối 9-2, tôi gặp bà sau khi bà nhận quyết định phục hồi sinh hoạt Đảng. Dáng đi cũng lộ niềm vui. Vẫn tất bật, lưng ong, vóc dáng nhỏ, nhanh nhẹn, khi bà ngẩng lên, khuôn mặt phúc hậu nhẹ nhõm nở một nụ cười. Thật khác thời gian dài vừa qua, bà trĩu nặng thảng thốt âu lo, như một nhà thơ đã viết ngoài hiên trát gọi, thân còm chị đi.

Hôm 19-1, Viện KSND TP Cần Thơ triển khai quyết định đình chỉ vụ án (ký ngày 17-1), bà đã cười thanh thản, nói “biết tin từ mấy hôm trước, tôi bỗng khỏe ra, không phải uống thuốc trị bệnh nữa”. Tối 9-2, bà thanh thản hơn nhiều. Ánh mắt vui tươi, cái cười khi nói chuyện thỉnh thoảng chúm chím làm cho bà trẻ lại.

Khi nhận quyết định khôi phục sinh hoạt Đảng, bà đã cảm ơn Đảng ủy khối Doanh nghiệp, Thành ủy Cần Thơ nhiệm kỳ mới. Bà ngừng lại, hỏi “tôi nhấn mạnh nhiệm kỳ mới, biết vì sao không?” Tôi gật đầu là biết.

Vì nhiệm kỳ cũ muốn bỏ tù bà. Đã hai phiên tòa xử bà 8 năm tù giam. Phiên sơ thẩm của TAND huyện Cờ Đỏ, từ ngày 11 đến 15-8-2009, và phiên phúc thẩm của TAND TP Cần Thơ ngày 19-11-2009. Những ngày dằng dặc ấy, về Cần Thơ, bà hầu như chỉ biết chia sẻ với một ít nhà báo chúng tôi.

Bởi nhiều người khi đó né tránh bà. Với tôi, mỗi lần bà đến, tôi mở toang cửa, khi tiễn cũng ra tận ngoài đường lớn, mong chia sẻ an ủi bà, dẫu biết rằng sức mình quá nhỏ bé, trước nỗi buồn lo quá lớn của bà.

Ngày diễn ra phiên tòa phúc thẩm. Khoảng 13 giờ 20 phút, tòa tạm nghỉ để nghị án và cho biết, 15 giờ sẽ tuyên án. Bà về nhà người em cách tòa án chừng cây số, vẫn không dám nghỉ mà phải suy tính làm sao để không bị bắt.

Từ lúc mở ra vụ án, bà sợ nhất là bị bắt vào tù nên luôn tìm cách né tránh và đã thành công, nhưng án phúc thẩm tuyên là có hiệu lực thi hành ngay, làm sao tránh được bị bắt? Luật sư Nguyễn Trường Thành đề xuất, khi tuyên án, bà giả ngất xỉu. Bà lắc đầu, mình là Anh hùng không gục ngã như thế được.

Bà trùm khăn kín mặt, đeo kính, để một người em chở bà chạy theo Quốc lộ 91 ngược mạn Trà Nóc, xuống phà sang sông Hậu và lên bờ tỉnh Đồng Tháp rồi kiếm xe chạy về thành phố Hồ Chí Minh. Bà không dám qua phà Cần Thơ đông người (lúc đó còn phà, chưa có cầu Cần Thơ) sợ bị phát hiện.

Chao ôi, hồi nào đi đâu bà cũng được long trọng đón tiếp, nhiều hoa và tiếng vỗ tay, nay phải bí mật bỏ chạy trước đồng chí, đồng đội của mình!

Sau này, tôi biết, bà một mình lủi thủi xuống chiếc phà cũ kỹ, người đã nhỏ còn phải cố thu mình để khuất lấp giữa nhiều người, vượt sông Hậu mênh mông. Chiếc phà cũ kỹ đi mãi rồi cũng qua, lên được bờ, bà nhìn quanh rất nhanh và bước đến một ông xe ôm luống tuổi, nhờ chở đến bến xe cách đó mấy chục cây số.

Từ sáng bà chưa ăn gì, chắc lúc ấy đói và sắc mặt nhợt nhạt lắm nên ông xe ôm luống tuổi giật mình, khi được nhờ đã vội mua cho bà ổ bánh mì và chai nước. Vừa ngồi sau xe ôm, bà vừa gặm ổ bánh mì.

Xe đang chạy thì điện thoại di động của bà đổ chuông, người em cho biết, tòa tuyên y án sơ thẩm nhưng không bắt ai, cho tất cả về nhà. Bà hỏi lại, có thật không bắt ai? Người em khẳng định lần nữa. Bà nói nhỏ với người chạy xe ôm, cho bà quay lại.

Lại xin lược vài mốc thời gian để hiểu thêm nỗi đau khổ đôi lúc đến tuyệt vọng của bà. Ngày 27-5-2010, TANDTC xem xét giám đốc thẩm tuyên hủy hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm, trả hồ sơ để điều tra lại theo thủ tục chung.

Ba Sương, nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành (ngoài cùng bên trái) và luật sư Nguyễn Trường Thành, dịp Ngày phụ nữ Việt Nam 20-10-2011 Ảnh: Sáu Nghệ
Ba Sương, nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành (ngoài cùng bên trái) và luật sư Nguyễn Trường Thành, dịp Ngày phụ nữ Việt Nam 20-10-2011. Ảnh: Sáu Nghệ.

Ngày 21-2-2011, Cơ quan CSĐT Công an TP Cần Thơ có “Bản kết luận điều tra vụ án” tiếp tục đề nghị truy tố tội Lập quỹ trái phép với số tiền nhiều hơn. Ngày 12-8-2011, Ủy ban Trung ương MTTQVN có công văn kiến nghị “đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương về tội danh lập quỹ trái phép” để “xử lý hành chính và dân sự”.

Nhưng vẫn chưa được xem xét, nên ngày 26-8-2011, bà có đơn kính gửi lãnh đạo thành phố Cần Thơ “thà rằng chết trước khi bị đưa ra xét xử”.

Được chính thức đình chỉ vụ án, bà cười kể, Tết nhẹ cả người. Buổi nhận quyết định khôi phục sinh hoạt Đảng, có mặt Bí thư Đảng ủy Nông trường Sông Hậu Diệp Hữu Minh.

Bà hỏi thẳng ông Minh: “Hồi nào ông là Phó chủ tịch Công đoàn của Nông trường, có thấy tôi lập và điều hành quỹ không, hay là do Công đoàn Nông trường?”. Dĩ nhiên, “quỹ đen” tức là quỹ đời sống nên do Công đoàn xây dựng và quản lý.

Lúc đã đình chỉ vụ án, gần Tết có một tổ chức doanh nghiệp ngỏ ý muốn gặp bà, chúc Tết và giúp đỡ bà. Tôi nói với bà, tức khắc Ba Sương phản đối, bảo không tiếp đại diện của tổ chức đó. Bà giải thích, khi gặp hoạn nạn họ không một lời hỏi thăm mà lẽ ra nên có, thì nay không lý do gì để bà gặp họ, càng không muốn để họ giúp đỡ.

Hồn hậu, thẳng thắn, cương trực và chủ động trong mọi hoàn cảnh, nhiều năm qua, cả những khi khó khăn nhất, chưa bao giờ tôi nghe Ba Sương than thân trách phận, nặng lời xúc phạm người khác. Nên phát biểu của bà khi nhận quyết định khôi phục sinh hoạt Đảng là thực lòng “tôi không làm điều gì bất lợi cho Đảng”. Bà kể, những năm qua, có nhiều phóng viên báo đài trong và ngoài nước phỏng vấn nhưng bà hạn chế trả lời, sợ có lời nói sơ sẩy làm ảnh hưởng uy tín chung.

Một thoáng Ba Sương u buồn khi tôi hỏi, tại sao bà đã nghỉ hưu từ ngày 1-7-2008 mà quyết định còn ghi bà trở lại sinh hoạt “tại Đảng bộ Nông trường Sông Hậu”. Bà kể, trước đây bà đăng ký hộ khẩu tại căn nhà là trạm liên lạc của Nông trường Sông Hậu ở TP Hồ Chí Minh, nhưng cuối năm 2009, Giám đốc mới của Nông trường đã đuổi bà đi, từ đó bà ở đậu mỗi nơi một thời gian ngắn, không ai cho bà nhập hộ khẩu. Nên bà chưa có nơi để chuyển sinh hoạt Đảng khi nghỉ hưu. Căn nhà đuổi bà đi thì bỏ hoang đến nay.

Tôi nhớ đến việc chuyển nhà của bà Ba Sương hồi đó, mà một người bạn của tôi có mặt. Anh này ở một tạp chí nghiên cứu lý luận, biết bà khi bà đã lâm nạn, nhưng cũng như rất nhiều người khác dù mới biết vẫn sẵn sàng giúp đỡ bà, anh cùng vợ kiếm nhà trọ và chuyển đồ đạc cho bà. Anh kể, đồ đạc của bà có giá trị nhất là chiếc va li lớn đã cùng Ba Sương đi nhiều nước trên thế giới. Va li trống rỗng, nhận biết được đã qua nhiều nước vì có tem cảng hàng không dán chi chít, và giá trị cũng chỉ ở dấu vết tem dán ấy, dấu vết của một thời vang bóng.

Nhưng thời không vang bóng mấy năm qua, bà lại được nhiều người làm thơ đề tặng, có người chưa từng gặp. Một trong những bài hay, Về một người anh hùng của Đoàn Xuân Hòa ở Bộ NN-PTNT, làm tháng 12-2010 với lời đề “Kính tặng chị Ba Sương”.

Bài thơ có những câu: Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình/ Không gia cư chẳng gia đình.

Cuối năm 2011, bà kể với tôi, một đơn vị mời bà nói chuyện kinh nghiệm thương trường và trả 10 triệu đồng. “Coi bộ nói chuyện cũng sống được”, bà cười nhưng lập tức ngừng lại “nói vậy chứ tôi không sống bằng cách đó đâu, mà đang bận công việc khác”.

Bà tổ chức chế biến, kinh doanh thực phẩm. Tối 9-2, bà cho biết, việc tổ chức kinh doanh của bà đang khá. “Cũng phải lo chút vốn để dành khi già yếu, không chồng không con buồn tủi lắm”, giọng Ba Sương chùng xuống.

Sáng 10-2, bà điện thoại cho tôi báo tin, vừa mở được một mối kinh doanh lương thực có triển vọng. Tôi chúc bà thành công. Bà cười, muốn lo cho vài chị em khác nữa chứ cho riêng bản thân thì không khó gì. Tiếng cười của bà hồn hậu, lan trong nắng Xuân.

Cần Thơ ngày 10-2-2012.

Sáu Nghệ

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC