Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Đã làm quan là phải đàng hoàng

DẠY VÀ HỌC. Báo Sài Gòn Tiếp thị có bài viết rất hay của Kim Yến "Đã làm quan là phải đàng hoàng " giới thiệu Hội An và ông Nguyễn Sự bí thư thành uỷ . Thật cảm động khi đọc những dòng trao đổi dưới đây của ông Nguyễn Sự: "Hơn 30 năm, trải qua nhiều đời lãnh đạo, Hội An tự hào vì một đội ngũ lãnh đạo trong sạch. Chưa có một đồng chí nào lợi dụng chức quyền lấy một tấc đất của dân, bộ máy chính quyền hoạt động trơn tru nhờ không ai lợi dụng việc công sách nhiễu, tước đoạt của dân. Bên cạnh những biện pháp cứng rắn để giữ kỷ cương, muốn đội ngũ của mình có ý thức, chính người lãnh đạo phải làm gương. Không thể nói anh em đừng tham ô mà mình vẫn nhận tiền vào túi. Ai có công mình thưởng xứng đáng, nhưng khi anh em gặp khó khăn mình phải chia sẻ, giúp đỡ, có trách nhiệm với cả gia đình mỗi người. Con người không chỉ sống bằng đồng lương, mà còn bằng cái nghĩa. Khơi gợi chữ nghĩa trong đội ngũ làm nên phẩm cách của cán bộ mình. Kiểm tra đến nơi đến chốn công việc được giao, những nơi nguy hiểm nhất mình phải xông vào đầu tiên. Mình không xả thân thì đừng nói anh em xả thân. Khi mình sử dụng quyền lực để làm những việc có ích cho mọi người, đứng đầu sóng ngọn gió, biết tiếp thu ý kiến, biết chịu trách nhiệm trước mỗi quyết định của mình, sẽ quy tụ được anh em. Tôi cảm thấy ấm lòng vì được anh em thương, quý, chia sẻ, nhờ thế mình không cảm thấy cô đơn. .. Đã làm quan là phải đàng hoàng, không thể nhận những gì không phải của mình. Làm chủ tịch, lương 5 triệu đồng/tháng, khi đã chấp nhận mức lương đó, phải làm tốt phần việc của mình. Đừng đổ thừa đồng lương đạm bạc mà tham ô, bởi có ai buộc anh làm đâu? Tôi là người không mưu mô, không thủ đoạn, mọi thứ đều đặt hết lên bàn, nên có thể đập bàn nếu thấy bất bình, khuất tất."

SGTT.VN - Tự nhận là người… thiếu văn hoá nhất Hội An, nói to nhất Hội An, con người bén nhọn, nhạy cảm đến quyết liệt ấy suốt 30 năm qua đã sống chết với Hội An, để gìn giữ cho được một không gian sống vừa xưa cũ, vừa hiện đại. Giữa không gian liêu trai của ngày Hội An ở Sài Gòn (10 – 12.2), ông đọc cho tôi nghe bài thơ của Chế Lan Viên: Yêu ở đâu thì yêu / Về Hội An xin chớ / Hôn một lần ở đó / Cả đời vang thuỷ triều…

Theo ông, điều gì làm nên sự quyến rũ kỳ lạ của vùng đất Hội An? Những biến động lịch sử có làm cho sức mạnh ấy bị vùi lấp, mai một?

Văn hoá là một khái niệm mở, bảo tồn nằm trong sự phát triển, không đóng khung, đóng cửa, vì thế nó luôn luôn động, phù hợp với đương đại nhưng vẫn giữ được những gì tốt đẹp của quá khứ. Trong một quá trình dài của lịch sử, Hội An vẫn giữ được sự giao lưu, giao thương, đó là một bản lĩnh rất kỳ lạ. Thế kỷ thứ 16 – 17, Hội An là thương cảng sầm uất bậc nhất của Đàng trong, nơi mở cửa đầu tiên của đất nước giao thương với thế giới, từ đó hội nhập với các nền văn hoá khác. Trải qua một thời kỳ dài trọng nông ức thương, Hội An vẫn giữ được tinh thần mở cửa, coi buôn bán là chuyện bình thường, giữ được con đường tơ lụa. Như trong kiến trúc, những ngôi nhà phố hình ống chẳng có mặt tiền, mặt hậu, sẵn sàng mở cửa đón mọi người. Những ngôi nhà của người Hoa, người Nhật đều do bàn tay tài hoa của thợ mộc Kim Bồng, thợ ngói Thanh Hà tạo dựng, vẫn mang diện mạo rất đặc trưng của Hội An…

Mỗi năm Hội An đón nhận đến 1,5 triệu du khách, với dân số khoảng 90.000 người, tính trung bình mỗi người dân đón 150 du khách/năm, làm thế nào để họ vẫn là mình?

Lấy cái tĩnh, vừa vừa, nhỏ nhỏ, bé bé để phát triển, đó là bí quyết của Hội An.

Bản lĩnh của người Hội An chính là sự đón nhận văn hoá các nước một cách bình tĩnh, đĩnh đạc, không ngần ngại, không sợ sệt, không vồ vập… tạo nên một văn hoá đa quốc gia, đa vùng miền, nhưng lại rất Hội An. Chiều sâu tận cùng của văn hoá, của kiến trúc chính là con người. Hội An là một di tích hoàn toàn sống, không bị đứt gãy nhờ những con người nhiều thế hệ sống trong các khu phố cổ. Điều lạ nữa là dân Hội An nghèo, nhưng chẳng ai phá nhà cổ làm nhà mới. Thời bao cấp mỗi nhà chỉ sống bằng vài ba khung dệt, nhưng vẫn giữ nguyên nếp nhà như một sự tri ân với cha ông của họ. Họ giữ lại những gì đẹp đẽ của quá khứ, đâu biết ngày mai sẽ thành di sản. Thời đổi mới, nhà nhà làm du lịch, có người giàu lên nhưng cũng chẳng ai đập nhà làm khách sạn. Ngoài quy định của chính quyền, chính người dân ý thức được chuyện đó. Phố cũng không cần cửa đóng then cài. Dân phố không soi mói, nhưng biết quan tâm đến nhau. Điều gì không phải, trái với đạo lý khó sống được ở đây. Dù lịch sử đầy biến động, người Hội An vẫn giữ được chiều sâu cốt cách, tâm hồn mình. Nhỏ bé, thân thuộc, không vội vã, không có những con đường rộn ràng, chẳng ai chạy xe quá nhanh. Khi con người sống có trật tự thì trong tâm thức, suy nghĩ cũng chậm lại, nhập thân, nhìn lại mình nhiều hơn. Những con người ấy đã biết tự làm mới mình hàng ngày, tạo ra hồn của phố, sự thân thuộc bình yên và một chút chân quê khiến ai đã một lần tới là nhớ mãi, giống như được trở về nhà.

Để sự quyến rũ chân thực ấy giữ chân du khách lâu hơn, có quyết sách nào không thưa ông?

Quyết sách của tôi là giúp người dân có thu nhập một cách văn hoá. Lâu nay chúng ta thường dựng làng nghề theo kiểu biểu diễn. Muốn hấp dẫn du khách, làng nghề phải thực sự sống được bằng nghề. Bàn tay tài hoa của những nghệ nhân làng Kim Bồng góp phần tạo ra dáng hình đất nước, tâm hồn của người dân Trà Quế tạo nên mùi hương sâu đậm của rau húng, rau thơm. Muốn phục hồi làng nghề phải có đội ngũ làm nghề ngay tại làng. Hội An kiên trì đào tạo lớp trẻ sống chết với nghề, cha truyền con nối. Người dân không chỉ sống được nhờ trồng rau, mà còn khá lên nhờ những dịch vụ du lịch từ nghề rau. Suốt chín năm kiên trì thuyết phục bà con cùng với các quyết sách như giao thêm đất, hỗ trợ tiền trồng rau, làm gốm… đến nay chúng tôi đã phục hồi được làng rau Trà Quế, gốm Thanh Hà. Du khách được trồng, thu hoạch rau, chăn trâu, tắm trâu, nuôi trâu đi cày, sống, ăn ở trong nhà dân có khi cả tháng trời, và trả tiền một cách thích thú. Mỗi người nông dân Hội An đang trở thành một sứ giả văn hoá thông qua con đường kinh tế du lịch, họ biết giữ cho môi trường sạch hơn, yêu động vật hơn, và cũng văn minh hơn.

Hội An lên cấp thành phố, ông có lo văn hoá thị sẽ lấn át văn hoá làng?

Đó chỉ là một danh xưng, sự phát triển đòi hỏi văn minh, dù thị xã hay thành phố, Hội An vẫn giữ được tinh thần của nó. Văn hoá làng và văn hoá thị bổ sung, kìm giữ nhau, trì kéo nhau, tạo nên thế cân bằng hơn. Trong tốc độ đô thị hoá chóng mặt hiện nay, giữ gìn vẻ đẹp của một ốc đảo như Hội An là nỗi lo chung của mọi người. Nhưng chính vì nó quá mong manh, dễ vỡ nên mọi người đều phải cùng nâng niu, giữ gìn. Hội An lúc nào cũng có vấn đề, lúc nào cũng có sự bền vững dù luôn thay đổi. Suốt thời gian tôi làm chủ tịch Hội An, chưa thấy ai bị tha hoá, các tệ nạn vào Hội An đều được dân báo ngay. Hội An nói không với bia ôm, ngoài đường cũng không có công an, người dân có thể gặp người làm chính quyền mọi lúc, mọi nơi. Không có khoảng cách giữa chính quyền và người dân. Ai vào nhà bí thư cũng được.

Còn quyết sách để giải bài toán đất đai ở Hội An, khi nơi đây luôn là điểm nóng hấp dẫn các nhà đầu tư? Làm thế nào để hài hoà lợi ích giữa người dân, chính quyền và nhà đầu tư?

Người ta có thể biến ruộng lúa thành đô thị chỉ với một chủ trương, nhưng trong lịch sử, chưa ai biến đô thị thành ruộng lúa. Cái gì người ta không thể thì mình hãy giữ lấy. Tôi là người nông dân, tôi hiểu hơn ai hết đất của dân phải để cho dân làm. Như vùng biển Cửa Đại, tôi không chủ trương lấy đất đầu tư, mà đầu tư tại chỗ và những người dân định cư tại chỗ, không dời dân. Với nhà đầu tư, Hội An quy định rất rõ ràng: không xây quá ba tầng, mật độ xây dựng không quá 30%, không được mở massage, không được xây tường rào che chắn, không đi cửa sau, không mua đi bán lại… Chính vì thế những nhà đầu tư giả, dỏm rất khó chịu, sẽ bật khỏi liền.

Để gầy dựng một chính quyền vì dân ở Hội An, ông có gặp khó khăn nhiều không?

Hơn 30 năm, trải qua nhiều đời lãnh đạo, Hội An tự hào vì một đội ngũ lãnh đạo trong sạch. Chưa có một đồng chí nào lợi dụng chức quyền lấy một tấc đất của dân, bộ máy chính quyền hoạt động trơn tru nhờ không ai lợi dụng việc công sách nhiễu, tước đoạt của dân. Bên cạnh những biện pháp cứng rắn để giữ kỷ cương, muốn đội ngũ của mình có ý thức, chính người lãnh đạo phải làm gương. Không thể nói anh em đừng tham ô mà mình vẫn nhận tiền vào túi. Ai có công mình thưởng xứng đáng, nhưng khi anh em gặp khó khăn mình phải chia sẻ, giúp đỡ, có trách nhiệm với cả gia đình mỗi người. Con người không chỉ sống bằng đồng lương, mà còn bằng cái nghĩa. Khơi gợi chữ nghĩa trong đội ngũ làm nên phẩm cách của cán bộ mình. Kiểm tra đến nơi đến chốn công việc được giao, những nơi nguy hiểm nhất mình phải xông vào đầu tiên. Mình không xả thân thì đừng nói anh em xả thân. Khi mình sử dụng quyền lực để làm những việc có ích cho mọi người, đứng đầu sóng ngọn gió, biết tiếp thu ý kiến, biết chịu trách nhiệm trước mỗi quyết định của mình, sẽ quy tụ được anh em. Tôi cảm thấy ấm lòng vì được anh em thương, quý, chia sẻ, nhờ thế mình không cảm thấy cô đơn.

Tôi không thích từ quan “thanh liêm”, đã làm quan là phải đàng hoàng, không thể nhận những gì không phải của mình. Làm chủ tịch, lương 5 triệu đồng/tháng, khi đã chấp nhận mức lương đó, phải làm tốt phần việc của mình. Đừng đổ thừa đồng lương đạm bạc mà tham ô, bởi có ai buộc anh làm đâu? Tôi là người không mưu mô, không thủ đoạn, mọi thứ đều đặt hết lên bàn, nên có thể đập bàn nếu thấy bất bình, khuất tất.

Suốt một thời gian dài làm chủ tịch, nhiều người nói ông “giả chết” vì vẫn ở căn nhà tranh dột nát, ông có buồn nhiều không?

Rất đau, nhưng không thể bụm miệng người đời, vì dân có quyền nghi ngờ. Người dân sẵn sàng nghĩ mình ngồi chỗ đó chắc hốt bạc. Nhà đầu tư nào đến cũng đưa phong bì đầu tiên, dù chưa làm gì cả. Chứng tỏ trong suy nghĩ của họ phải có phong bì công việc mới chạy… Nhưng tôi không bao giờ chấp nhận như thế.

Căn nhà tranh giờ đã được sửa lại thành nhà trệt cấp bốn, đất ấy là do ông bà tôi để lại. Lương hai vợ chồng tôi cộng lại 13 triệu đồng, làm gì cho hết (cười sảng khoái). Biết bao nhiêu là đủ, tri túc là được. Tôi không thấy khổ, vì mình khổ quá rồi, chịu khổ là chuyện bình thường. Điều tôi buồn nhất là không làm được nhiều cho Hội An. Người dân quê tôi dù được hưởng lợi từ du lịch bớt cơ cực đi, nhưng chưa được giàu có…

Là người khá cực đoan, có bao giờ ông phải xin lỗi dân vì một quyết định sai? Anh có sợ những quyết sách quá táo bạo, luôn đi trước của mình sẽ ảnh hưởng đến đường hoạn lộ?

Có đấy. Một lần tôi đã ra quyết định trồng hoa sữa dọc phố. Nhưng đâu ngờ đến mùa hoa nở, cả con phố nồng nặc mùi hoa rất khó chịu. Tôi phải đứng ra xin lỗi dân và đốn đi trồng cây mới.

Khi người dân có đủ dũng khí chửi mình trong lúc bình tĩnh nhất, chứng tỏ họ còn tin mình. Khi đúng sai dân không lên tiếng nữa, mới là bi kịch.

Tôi nhớ mãi cơn bão năm 2007, sau cuộc họp chiều, chúng tôi thông báo toàn thị xã sáng mai mới dời dân. Nhưng khi bưng bát cơm tối lên ăn, tự nhiên một linh cảm ập đến khiến tôi giật mình. Nhiều anh em phản đối dữ dội nhưng tôi vẫn buộc phải dời dân trước 12 giờ đêm. Quả nhiên 1 giờ sáng bão tràn vào ngập hết nhà. Sống ở Hội An là sống chung với lũ, người lãnh đạo phải biết rõ bão đi theo hướng nào, chỗ nào là thiệt hại nặng nhất để giúp dân tránh gió, di dời. Phải nghe lượng mưa trên nguồn, và tìm ra cái gì có lợi trong lũ. Sắp tới tôi sẽ tổ chức cho khách đi ghe chụp ảnh những con đường nước ngập, tuyệt vời lắm đó.

Quyết định tắt đèn, đi bộ đêm rằm đến với tôi vào một tối mất điện năm 1998, tự dưng thấy phố đẹp lạ lùng. Sáng hôm sau quyết định làm liền. Những ngày đầu người dân phản đối quyết liệt khiến anh em nản lắm, nhưng mình cương quyết giữ, cố gắng điều chỉnh cho phù hợp hơn. Đến tháng thứ tư thì thành công, và trở thành sản phẩm độc đáo. Có những quyết định phải trả giá dữ lắm, nhưng tôi chấp nhận, kể cả việc mất chức. Nếu so đo tính toán vị trí của mình thì chẳng làm được gì. Ngay từ ngày nhậm chức tôi đã chuẩn bị cho mình nếu có mất chức thì cũng thấy bình thường, có chăng chỉ mất tiếng vâng tiếng dạ. Làm sao để anh em có một chỗ dựa, có lòng tin vào mình là khó nhất.

Cơn bão lớn nhất mà ông đã vượt qua?

Thời điểm tôi mới làm chủ tịch, quyết định cấm để xe trên lòng lề đường đã gặp phải sự phản đối quyết liệt của bà con. Vợ ở nhà mỗi lần ra chợ nghe dân tiếng bấc tiếng chì suốt một năm trời, giờ thì thành hình mẫu, cả nước học tập Hội An. Khi nhà cổ xuống cấp, dân xin sửa nhà tôi đồng ý cho sửa theo nguyên gốc. Tự biết đó là quyết định vô trách nhiệm, tôi cảm thấy mình vô cùng có lỗi, vì dân lấy tiền đâu ra mà sửa theo nguyên gốc, nếu lỡ nhà sập thì vô cùng nguy hiểm. Tôi chủ trương bán vé di sản để lấy tiền giúp dân sửa nhà. Quyết định này cũng gặp phải áp lực từ mọi phía, đang đi ngoài đường tôi bị dân chận lại chất vấn, phải đứng giữa đường giải thích cho dân nghe. Từ 50 triệu đồng/năm, doanh thu đã tăng 8 tỉ, giờ là 40 tỉ đồng/năm. Khi người dân có đủ dũng khí chửi mình trong lúc bình tĩnh nhất, chứng tỏ họ còn tin mình. Khi đúng sai dân không lên tiếng nữa, mới là bi kịch.

Bài học đắt giá nhất mà tôi nghiệm ra từ trong gian khó là bài học về lòng dân. Tôi không nói giáo điều đâu. Muốn thành công phải được lòng dân, lo cho cuộc sống của dân. Rất nhiều lần tôi nghe lời dân hơn là cấp trên, đó là cá tính của tôi. Nhiều văn bản nhà nước không sát với thực tế, nếu cứ theo nguyên tắc thì làm khó dân dữ lắm, phải chấp nhận trả giá thôi. Tôi không biết nịnh, cũng rất ghét người ta nịnh mình. Người nịnh đã hèn, mà người ưa nịnh còn tệ hơn.

Điều gì khiến ông phải đau lòng nhất?

Ngay từ ngày nhậm chức tôi đã chuẩn bị cho mình nếu có mất chức thì cũng thấy bình thường, có chăng chỉ mất tiếng vâng tiếng dạ.

Có một bộ phận cán bộ nhà nước thoái hoá, biến chất, tham nhũng, làm giàu bất chính đến mức xấu hổ, khiến cho người dân không còn tin vào những người đại diện chính quyền, đó là điều làm tôi chua xót nhất. Nỗi đau này không chỉ của riêng tôi, mà còn là nỗi đau của biết bao cán bộ chân chính nhưng đã bị bôi đen bởi một số không nhỏ đang làm giàu trên mồ hôi nuớc mắt của nhân dân. Sức dân chỉ thực sự huy động được khi lòng dân an ổn. Làm mất niềm tin của dân là tổn thất vô cùng lớn.

Ông đã học được gì của người xưa, để vượt qua mọi bão tố cuộc đời?

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ cha tôi đều là nông dân làm thuê cuốc mướn. Ba mẹ cơ cực mò cua mót lúa nuôi tôi ăn học nên người. Khi mình có tiền mua được cho mẹ bộ đồ đẹp thì bà đã mất. Điều tôi học được lớn nhất từ mẹ là làm sao biết sống đùm bọc lẫn nhau, như hàng xóm đã từng đùm bọc gia đình tôi. Cái nghĩa trong tôi lớn lắm. Nhìn mấy cụ già lọm cọm là tôi lại nhớ mẹ vô cùng, tự hứa với lòng phải sống sao cho thật tốt, nếu không làm lợi cho ai đó thì đừng nên làm hại ai đó. Con người ai cũng cần niềm tin. Niềm tin chính đạo giúp người ta sống thiện hơn. Ở Hội An, giữa phố có chùa Cầu, chùa là đạo, cầu là đời, đạo và đời không có khoảng cách. Khi bánh xe công nghiệp đang nghiến nát nhiều giá trị sống đích thực, tôi tin đời cha ăn mặn chưa xong đã khát nước rồi, chẳng cần đợi đến đời con. Biết thế để sống đàng hoàng, lương thiện hơn. Phật tự tâm, ma cũng tự tâm. Quyền lực trong tay mình, trị dễ lắm, tha mới khó. Phải tìm trong cái lỗi của người ta có cái lý mà tha. Tôi luôn tập điều đó. Mỗi người có một sứ mệnh riêng, số mệnh của tôi gắn với Hội An. Và tôi tin tương lai Hội An sẽ là nơi hội nhân, hội thương, hội tụ văn hoá, hội tụ sự an bình.

thực hiện: Kim Yến

Nhà văn Nguyên Ngọc:

“Nếu không có Nguyễn Sự, sẽ chẳng giữ được Hội An. Nguyễn Sự là tập trung tinh tuý của người Hội An: trí tuệ, năng nổ nhưng thật bình dị, chân thật. Vừa rồi sửa chợ, anh em vất vả lắm vẫn không dời được mấy chị bán lề đường vào chợ, lại còn bị chửi gay gắt. Cuối cùng Nguyễn Sự phải ra tay, ông mời bà chửi hỗn nhất ra… chửi thi với ông. Thế là các bà sững ra, cười phá, lặng lẽ chấp nhận vào chợ. Sở dĩ ông làm được điều đó vì được dân thương. Cù lao Chàm cũng là một chuyện kỳ lạ của Nguyễn Sự, đây là nơi duy nhất không có bao nilông. Quan chức ít ai giống anh, liêm khiết, thương dân, biết văn hoá bao giờ cũng mong manh, luôn lo lắng, suy nghĩ, gìn giữ, không chủ quan”.

Nhà báo Huỳnh Sơn Phước, nguyên Phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ:

“Để giữ được một thành phố sạch, cảng thị đầu tiên sinh ra những nhà ngoại thương, nơi đầu tiên của Việt Nam sống với toàn cầu… cần có một chính quyền sạch, những con người Hội An thực sự sạch. Nguyễn Sự đã làm được điều đó. Bằng trí tuệ và sự quyết liệt của mình, anh đã giữ được Đảng bộ Hội An thật sự liêm khiết, vì dân, để cùng những con người đầy bản lĩnh của Hội An hướng đến một thành phố phụng dưỡng môi trường, phụng dưỡng thiên nhiên, đón nhận và chắt lọc tất cả những giá trị văn hoá, văn minh của thế giới”.


Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Văn Công Hùng viết về Nguyễn Ngọc Tư

DẠY VÀ HỌC. Văn Công Hùng là một cây bút xông xáo, có tâm và có tầm ở phố núi Pleycu. Gần đây anh có bài viết ""Nhậu "Nguyễn Ngọc Tư " công phu và rất hay, gợi mở nhiều điều suy ngẫm. Tôi thích nhất những trích đoạn: Văn Công Hùng- Anh khâm phục "Cánh đồng bất tận" nhưng lại thích thú và yêu mến "Ngọn đèn không tắt" hơn. "Ngọn đèn không tắt" tài hoa và đằm sâu nhân hậu. "Cánh đồng bất tận" khốc liệt và thông minh. Tất nhiên nó vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư của đồng bằng Nam Bộ, của Cà Mau, nơi mà mình thấy Nam Bộ với nền văn hóa độc đáo khu biệt đã làm nên tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư và ngược lại Nguyễn Ngọc Tư đã làm cho vùng đất này trở nên phổ biến không chỉ trong nước, mà cả ở nước ngoài, bằng những trang văn tài hoa và tình yêu ngộp thở với nó... Nguyễn Ngọc Tư: Tư cũng yêu "Ngọn đèn không tắt". Dạo ấy còn ngây ngô, viết câu văn cũng ngây ngô, ý tưởng càng ngây ngô. Mà trong trẻo, giản dị. Em vẫn thường nói đó là cuốn hay nhất, bởi vì mình không thể viết lại giống như vậy. Những va chạm, những trải nghiệm mới đã làm em vẫn yêu vùng đất này, nhưng yêu kiểu khác, riết róng và thực tế. Em nhận ra rằng chỉ cần mình yêu và gắn bó thật lòng, thì yêu kiểu nào cũng truyền dẫn tình yêu đó đến với người đọc, dù ít hay nhiều. Đọc "Cánh đồng bất tận" không làm người ta sợ Nam Bộ đâu, em tin vậy… Văn Công Hùng - Em đánh giá về tản văn như thế nào? Người ta có thể sống được bằng chuyên viết tản văn không nhỉ? Nguyễn Ngọc Tư: Không sống được. Nếu viết dở. Không ai đăng cho. Nhưng nói sống theo kiểu khác thì sống được, nhất là nếu người đó cô đơn và trầm tính, không thích bộc bạch mình bằng lời. Thì viết tản văn. Như một kiểu nhật ký, để người viết gửi gắm những điều mình nghĩ. Bằng cách này em gửi gắm được nhiều thông điệp, giải tỏa những cảm xúc đầy ứ trong lòng, mà truyện ngắn không làm được. Truyện của em toàn ảo, không gian và người ảo, không có hoặc rất ít Nguyễn Ngọc Tư ở đó. Em cho rằng tản văn gần với người viết nhất, bộc lộ tâm tư tình cảm của người viết nhiều nhất... ". Hỏi và trả lời thật sâu sắc. Đọc lại để suy ngẫm.

"NHẬU" NGUYỄN NGỌC TƯ

VĂN CÔNG HÙNG : Mình đang trên xe từ Hà Nội xuống Quảng Ninh, em Nguyễn Phan Quế Mai ngồi hàng dưới khen bài "Nhậu NNT" viết công phu in trên NTM hôm qua Nguyễn Quang Thiều đã mang đến chỗ Phan Hoàng giới thiệu sách mới. Báo 2 màu mà sang và có gu lắm. Bài này ém mãi, giờ báo ra mới mang mời bạn đọc.

Thú thật là trước khi bay từ Sài Gòn xuống Cà Mau, tôi không có ý định và cũng không nghĩ mình sẽ gặp Nguyễn Ngọc Tư. Phần vì biết Tư dạo này làm báo rất bận, chắc gì đang ở Cà Mau, phần vì vẫn cấn cái cái vụ phỏng vấn Tư cho tờ Văn học và Tuổi trẻ mà... 6 tháng Tư mới trả lời email. Thêm nữa lịch duýt duỵt, mà lại còn bao nhiêu bạn văn tụ tập về vùng đất này, chỉ nguyên việc bắt tay, làm với nhau 1 ly là đã đủ hết ngày và đứ đừ rồi.

Ấy thế mà lại lòi ra một tối rỗi. Tôi ngồi với nhà thơ Lê Huy Mậu, Đàm Chu Văn và mấy người nữa ngay ở cái xe đẩy trước cửa khách sạn và uống... nước rau má. Thế này thì phí thật, phí nguyên cái buổi tối tuyệt vời ở cái thành phố tận cùng đất nước mà ai cũng một lần mong đến này, phí cả cái ly nước rau má và cái ghế ngồi trông ra trước cái đại lộ gì quên mất tên... Tôi rút điện thoại gọi Nguyễn Ngọc Tư, mới tút hai nhịp đã thấy cái tiếng đơn đớt hơi lặp của Tư: Anh đang ngồi đâu, em biết anh ở Cà Mau rồi, đến đây cà phê với tụi em đi, em đang ngồi với... Tôi nói anh ngồi cũng đông người, muốn cà phê với em ngay tại cửa khách sạn cho có không khí, vì có mấy nhà thơ già (tôi nhìn Mậu cười) không đi nổi. Tư bảo thế ngồi đấy đi, tí em tới... Nhưng rồi chính tôi lại chủ động gọi lại nói Tư thôi cứ ngồi với bạn ở đấy đi, mai mình gặp nhau, người chứ có phải cái bánh xe đâu mà lăn qua lăn lại mãi thế. Mình cũng chỉ là một trong những fan hâm mộ mà thôi, phải biết... nhường cơm xẻ áo cho kẻ hâm mộ khác.

Tối sau Tư chủ động gọi, hẹn sau tiệc chiêu đãi của ủy ban anh em mình gặp nhau hén. Có một chuyện ngoài lề nữa, là vô tình vợ chồng tôi lại gặp nhau ở Cà Mau. Vợ tôi đi công tác với cơ quan bằng ô tô qua nhiều tỉnh, đi trước tôi cả tuần và đến Cà Mau trước tôi một hôm. Tư biết nên hẹn em sẽ đến đón chị. Lại còn ngoặc thêm: Vẫn chị bữa trước hả. Là có đận Tư đã vào nhà tôi ở Pleiku. Vào lần đầu tiên mà rất hiên ngang, tự nhiên đi thẳng xuống bếp như đã quen lâu lắm với một câu chào mà bất cứ bà chủ nhà nào cũng... mát ruột: Em chào chị dâu.

Chúng tôi đi ô tô, ngoài vợ chồng tôi còn có nhà thơ Lê Huy Mậu, Lê Thanh My, nhà văn Huỳnh Thạch Thảo, Huỳnh Văn Quốc... Tư xe máy dẫn đường. Tôi đề xuất là đến đâu đó vỉa hè uống với nhau chai bia nữa thôi, chứ còn lúc nãy đã uống rượu ủy ban rồi, tê tê cả rồi, nói huyên thuyên rồi. Tư bảo cứ theo em. Giản dị giày vải, quần jean áo thun với cái túi ký giả, cứ chạy một đoạn đến ngã tư lại hạ chân ngoảnh đầu đứng chờ, cái mũ bảo hiểm như cái nấm ngúc ngoắc trông rất ngộ. Một cái nhà hàng khá xịn với không gian rất đẹp, rất rộng, có sân vườn và những ngôi nhà cổ toàn bằng gỗ tuyệt đẹp với đội ngũ nhân viên đồng phục rất chuyên nghiệp. Chúng tôi chọn một cái bàn ngoài sân, khá biệt lập, bên cạnh một hồ nước nhân tạo có hòn non bộ để tận dụng hơi nước cho mát và thoáng, có thể nói chuyện thoải mái.

Tư là người rất ghét chụp ảnh và rất sợ bị đưa ảnh lên mạng dù ở blog Sầu Riêng của chị cái ảnh avatar là một cô Tư đang lấy tay che mặt khá teen và duyên. Với tôi đã 2 lần Tư đề nghị điều ấy. Lần thứ nhất là hồi chị lên Pleiku, tôi đi theo làm hướng dẫn viên, tiện tay chụp một mớ ảnh, sau đó tối post lên blog. Khuya khuya nhận được một tin nhắn tửng tửng: làm ơn gỡ giùm mấy tấm ảnh hộ đi, trông muốn... ói quá. A té ra là cô nàng có đọc blog của mình. Lần sau là ở Bến Tre, sáng tôi đi bộ bên bờ sông Hàm Luông, gặp cô nàng huỳnh huỵch chạy, sẵn máy ảnh đang giương chụp bình minh Bến Tre tôi lia sang phát, nhưng cô nàng rất tinh, một tay che mặt, chân bước chéo về trái nơi có cái cây khiến cho bức ảnh chỉ nhòe một bóng con gái không rõ hình hài, như là một nhân vật của bức ảnh thôi. Tôi đưa lên blog trong entry chung về Bến Tre, thế mà cũng nhận được ngay tin nhắn: Đổi hen, anh hạ ảnh em xuống, em gửi truyện ngắn cho anh. Chả là một tờ báo nhờ tôi xin một cái truyện của Tư in số tết. Anh hạ xuống cái em mail truyện ngay, còn không thì...



Thế nên tối ấy tôi đã rất ngạc nhiên khi tôi đề nghị trước khi nhậu tất cả chúng ta chụp chung một bức ảnh và Tư đã chấp nhận ngay.

Bây giờ thì Tư đã là... đặc sản Cà Mau. Dân viết lách, mà chả cứ chỉ dân viết lách nữa, bạn đọc thôi, đã về Cà Mau là đều muốn gặp Nguyễn Ngọc Tư. Chả thế mà mới đây, nhà báo Mai Thanh Hải tự nhiên điện cho tôi: Em sắp Cà Mau, anh giúp em làm quen với Nguyễn Ngọc Tư với. Tôi hơi ngại, bởi ngoài chuyện làm báo khá bận, thì tôi biết tính Tư khá lành, có phần e dè tiếp xúc. Đến chụp ảnh còn ngại nữa là. Mà lại còn chồng còn con. Tuy thế tôi vẫn giới thiệu với Tư là anh có thằng bạn nhà báo như thế như thế, fan hâm mộ em, nó về Cà Mau chỉ để thăm 2 nơi, một là địa đầu đất Mũi, và 2 là... em, em chịu khó gặp nó nhé. Tư hỏi lại tôi một chút về Hải rồi bảo anh cứ cho số điện thoại đi. Hải về Cà Mau, ngày đầu không gặp được, gọi máy không thưa, tôi phải "đền đạn" bằng một anh bạn nghệ sĩ nhiếp ảnh, quan chức văn nghệ Cà Mau và một cây bút trẻ ở đấy. Tưởng Tư tránh thì tối sau chị chủ động gọi lại cho Hải và hẹn nhau ngồi ở một quán nhậu nào đấy. Cũng tưng bừng và tất nhiên là Hải chụp ảnh búa xua đúng với tư chất một fan hâm mộ. Nhưng cuộc nhậu nó hay ở chỗ là nhậu... đổi ca. Tôi chơi với Tư lâu nhưng chưa một lần biết mặt ông xã Tư, kể cũng tệ. Lẽ ra hôm nhậu cả hai vợ chồng với Tư phải đề nghị Tư mời ông xã ra. Thế mà hôm Hải ngồi với Tư nửa chừng thì Tư về trông con thay ông xã, điều chồng ra ngồi tiếp với Hải. Khuya thấy Hải gọi điện kể giọng đầy mãn nguyện. Chứ lại chả không, ước về gặp và thăm 2 đặc sản, giờ hóa 3. Chồng Tư làm nghề thợ bạc, nhưng ngoài ra anh còn là một chỗ dựa để Tư có thể tung tẩy viết văn. Nguyên cái việc cứ ở nhà trông con cho vợ đi công tác, và cả đi ngồi với fan hâm mộ là oách rồi, hiếm có anh chồng nào làm được rồi...

Cách đây gần hai chục năm, tôi cùng Nguyễn Ngọc Tư dự một trại sáng tác văn học tổ chức tại trường phụ nữ trung ương ở Láng Trung. Hồi ấy Tư đang là nhân viên thủ quỹ của hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau. Trong trại tôi thấy Tư có hai việc hay làm, một là kêu một tay xe ôm chở ra bờ hồ chơi, nhiều khi tha thẩn cả ngày ở đấy, đến nỗi tay xe ôm quen mặt, có lần... không lấy tiền. Hai là thi thoảng lôi cuốn sổ ra cộng cộng nhân nhân. Thì ra đấy là sổ... nợ của cơ quan. Tôi thấy trong cuốn sổ ấy có tên cả mấy nhà văn tôi quen như Nguyễn Thanh, Lê Đình Trường. Cái thời ấy vui và trong sáng đáo để...

Đến giờ, gặp được Tư quả là khó vì chị thoắt ẩn thoắt hiện như chim. Đại hội nhà văn lần thứ 7, cứ cậy mình quen, ào xông vào rủ Tư đi đám này đám kia, té ra có nhiều người... quen hơn mình cũng ào ào xông vô. Nhưng tính Tư vốn lặng lẽ, xong cơn ào ào ấy, Tư lại ở một mình trong phòng, còn cái đám ào ào kia thì đi nhậu.

Đại hội nhà văn 8 vừa rồi, gặp nhau nhoáng một cái. Thấy Tư vẫn lặng lẽ tránh các đám đông dù rất nhiều người kéo Tư vào chụp ảnh. Tôi phát hiện thấy nếu né không được thì Tư mới đứng vào chụp chứ không có vẻ hào hứng một tẹo nào thế nên cũng không... bằng mọi giá xông vào chụp ảnh với chị.

Một lần Tư hẹn, anh với em thi thoảng chat nhé. Bảo biết lúc nào em lên mạng mà chat. Trả lời tỉnh bơ: Cứ thấy em đỏ đèn thì là... em đang online. Thế mà có bao giờ thấy email của Tư đỏ đèn đâu, mail thì cả tháng chưa thấy trả lời. Đây là một cuộc chat hiếm hoi giữa tôi và Nguyễn Ngọc Tư:

VCH- Từ "Ngọn đèn không tắt" đến "Cánh đồng bất tận" là một sự thay đổi rất lớn của Nguyễn Ngọc Tư cả về bút pháp và cách nhìn đời sống. Em công nhận không?
NNT: Từ "ngọn đèn" tới "cánh đồng" mình gói vào một câu nhưng là khoảng cách 5 năm. Lẽ tự nhiên, em lớn lên, chững chạc thêm chút già đi thêm chút. Văn phong cũng vì vậy mà thay đổi, nói chung thì càng ngày càng… phức tạp. Em thường nghĩ trời đất ơi mình phức tạp quá, liệu hai mươi năm nữa thì sự phức tạp đó đậm đặc tới mức nào. Cũng may ông trời sáng suốt, thấy nhiều ông bạn già của mình giờ đơn giản lắm, hồn nhiên như trẻ con vậy. Cứ nhìn họ là mình lại thấy hy vọng…
VCH- Anh khâm phục "Cánh đồng bất tận" nhưng lại thích thú và yêu mến "Ngọn đèn không tắt" hơn. "Ngọn đèn không tắt" tài hoa và đằm sâu nhân hậu. "Cánh đồng bất tận" khốc liệt và thông minh. Tất nhiên nó vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư của đồng bằng Nam Bộ, của Cà Mau, nơi mà mình thấy Nam Bộ với nền văn hóa độc đáo khu biệt đã làm nên tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư và ngược lại Nguyễn Ngọc Tư đã làm cho vùng đất này trở nên phổ biến không chỉ trong nước, mà cả ở nước ngoài, bằng những trang văn tài hoa và tình yêu ngộp thở với nó...
NNT: Tư cũng yêu "Ngọn đèn không tắt". Dạo ấy còn ngây ngô, viết câu văn cũng ngây ngô, ý tưởng càng ngây ngô. Mà trong trẻo, giản dị. Em vẫn thường nói đó là cuốn hay nhất, bởi vì mình không thể viết lại giống như vậy. Những va chạm, những trải nghiệm mới đã làm em vẫn yêu vùng đất này, nhưng yêu kiểu khác, riết róng và thực tế. Em nhận ra rằng chỉ cần mình yêu và gắn bó thật lòng, thì yêu kiểu nào cũng truyền dẫn tình yêu đó đến với người đọc, dù ít hay nhiều. Đọc "Cánh đồng bất tận" không làm người ta sợ Nam Bộ đâu, em tin vậy…
VCH- Nếu có một thành phố nào đó, chiêu hiền đãi sĩ, mời thì em có chuyển nhà về đấy không?
NNT: Không, cho đến giây phút này, em chẳng mảy may nghĩ mình sẽ bỏ xứ mà đi đâu đó. Để bứng mình đi hẳn phải có cú sốc nào đó ghê gớm lắm. Nhưng nó chưa xuất hiện mà em thì cũng chẳng mong đâu (hình icon mặt cười xuất hiện).
VCH- Em đang đọc gì? Có cuốn nào của tác giả trong nước không?
NNT: Ôi, nhiều loại lắm, biết kể sao cho xiết. Sách cũng tùy tâm trạng, buồn thì tìm đọc thứ nhẹ nhàng, vui lại tìm những cuốn sách nặng đô, những cuốn có vấn đề đọc để… buồn. Nhưng văn học dịch thiếu nhi bao giờ cũng thích, con nít trong đó mới đúng là con nít. Đọc bao giờ cũng thấy mình bớt phức tạp hẳn.
VCH- Có một hiện tượng là các nhà văn rất ít đọc... thơ? Tất nhiên anh biết vừa rồi em có tạt ngang chút đỉnh với thơ và... đau đớn thay cho cánh làm thơ (có anh) là thơ Nguyễn Ngọc Tư cũng được chào đón như văn xuôi.
NNT: Trời, em đọc thơ chứ. Sổ tay ghi đầy những câu thơ (của người khác, tất nhiên). Em còn hay lân la chơi với mấy chú nhà thơ như Chim Trắng, Lê Văn Ngăn, Tô Thùy Yên… Nhưng thơ thường khó mua lắm, nếu như tác giả không… tặng, em buộc phải mò lên mạng để đọc, nhất là của những anh chị thơ trẻ. Việc làm thơ cũng là em bỗng nghĩ ra ý này ý nọ mà không thể diễn đạt bằng văn xuôi, mà bỏ luôn thì uổng quá. Không mấy khi gặp trường hợp vậy, mong anh đừng tỏ ra… đau đớn, hahaha.
VCH- Em đánh giá về tản văn như thế nào? Người ta có thể sống được bằng chuyên viết tản văn không nhỉ?
NNT: Không sống được. Nếu viết dở. Không ai đăng cho. Nhưng nói sống theo kiểu khác thì sống được, nhất là nếu người đó cô đơn và trầm tính, không thích bộc bạch mình bằng lời. Thì viết tản văn. Như một kiểu nhật ký, để người viết gửi gắm những điều mình nghĩ. Bằng cách này em gửi gắm được nhiều thông điệp, giải tỏa những cảm xúc đầy ứ trong lòng, mà truyện ngắn không làm được. Truyện của em toàn ảo, không gian và người ảo, không có hoặc rất ít Nguyễn Ngọc Tư ở đó. Em cho rằng tản văn gần với người viết nhất, bộc lộ tâm tư tình cảm của người viết nhiều nhất...

Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng của văn chương Việt Nam. Ngoài truyện ngắn và tiểu thuyết, tản văn của chị cũng là một thương hiệu, đến nỗi có ít nhất 2 trang web có hẳn mục riêng- Tản văn Nguyễn Ngọc Tư- chỉ đăng tản văn của chị và thường xuyên có rất nhiều lượt truy cập. Chị chứng minh một điều rằng, tài năng văn chương là thiên bẩm, nó sẽ phát lộ khi có điều kiện. Việc học đối với nhà văn chính là quá trình vật vã sáng tạo của họ. Quá trình ấy có sự quan sát đời sống, nghiền ngẫm cuộc đời, độc thoại với mình và đối thoại với mọi người, đau đớn với nó, trăn trở cùng nó... rồi là tìm cách thể hiện nó ra thành chữ, bắt những con chữ ấy cựa quậy trên trang giấy và trong lòng người đọc. Quá trình học tập của nhà văn là quá trình tự vượt lên những trang viết của chính mình để mình trưởng thành từ chính những trang viết ấy. Tất nhiên nhả ra một thì phải thu nạp hàng trăm, bằng chính những trải nghiệm của mình, sự quan sát tinh tế và cả sự khốc liệt của suy nghĩ...

Nhớ cái đận "Cánh đồng bất tận" gặp nạn. Không khí căng như dây đàn. Cũng là người ở tỉnh lẻ, và cũng từng dính vài ba vụ quy kết văn chương, tôi hình dung cái tỉnh Cà Mau khi ấy nó nặng nề như thế nào. Nếu như ở thành phố lớn một thì sự ngột ngạt ấy ở tỉnh lẻ là cả trăm, ai cũng nhìn mình như tội phạm, như sắp bị bắt đến nơi. Khi ấy Tư lại còn đang là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nữa, một câu nói thật của Tư về vai trò cá nhân của mình trong hội đồng lại càng làm "ngứa con mắt bên trái" của mấy bác, trong đó đặc biệt là bác Vưu Nghị Lực. Tôi nêu tên đích danh bác này là bởi hồi ấy bác này đăng đàn rất ghê, oánh cho Tư không có đường lùi, thậm chí còn đề xuất "trục xuất" Tư khỏi Cà Mau. Tất nhiên không phải tất cả bạn đọc Cà Mau đều nghĩ như vài bác cán bộ là Tư nói xấu người Cà Mau, nói xấu dân đồng bằng, nhưng họ lại không có diễn đàn, thế nên hồi đầu chỉ thấy các bài quy kết "cánh đồng bất tận" độc diễn. Sau đó thì một loạt báo lên tiếng, tôi nhớ mình cũng có một bài ngắn trên báo Văn Nghệ trẻ, rồi Hội Nhà Văn trao giải thưởng cho cuốn này, một cuộc trao giải "vượt ngưỡng" vì nguyên tắc là chỉ trao giải cho sách của năm ấy, mà tập của Tư thì ngoài "Cánh đồng bất tận" còn có thêm mấy truyện ngắn in lại. Biết thế nhưng không ai phản đối, bởi thứ nhất là "Cánh đồng bất tận" xứng đáng, thứ 2 là đây là một cách bày tỏ thái độ một cách rõ ràng và cương quyết của Hội Nhà văn. Bây giờ gặp có hỏi Tư cũng không thích nhắc lại chuyện này, thường là lảng sang chuyện khác, và bác Lực ấy, bây giờ chuyển công tác nhưng cũng không như xưa nữa, cái nhìn đã thông thoáng và nhân hậu hơn, thấu đáo và nhân văn hơn.

Sau đấy thì "Cánh đồng bất tận được trao giải thưởng văn học ASEAN, một cách công nhận nữa, và nó được làm phim, một bộ phim rất thắng về doanh thu, nghe nói cao nhất Việt Nam từ trước đến nay ở thời điểm ấy. Nhưng riêng tôi, khi xem đến cái kết, tôi đã phải không thể kìm nén một tiếng thở dài. Thôi bỏ qua các loại sạn lổn nhổn như mọi phim Việt ta hiện nay, thì nó là phim khá nhất trong các loại phim Việt mà mình được xem đến giờ, trừ cái kết. Một cái kết lạ lùng nhất trong mọi cái kết phim tôi đã xem. Cả bộ phim là sự dồn nén, dồn nén cùng cực giữa một thằng cha thù đàn bà với một cô gái điếm nhưng... đoan trang, với hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, dậy thì mà lại sống chung thuyền với ngồn ngộn da thịt... cho đến khi cô gái điếm đoan trang kia chịu không được gã đàn ông khùng thì bỏ đi, cậu trai tí nhau bỏ đi theo tìm với tư cách trai tìm gái, còn lại cô gái trong sáng như thiên thần và thằng cha tăm tối kia ở lại cái thuyền với những con vịt thì bị một lũ lực điền côn đồ hiếp. Kinh hoàng là chúng dùng sức mạnh bẻ cổ người cha đang nằm dưới bùn bắt ngẩng đầu lên nhìn cô con gái mỏng manh ngơ ngác kia bị hiếp cũng trên cánh đồng năn lác, cảnh này quay kinh lắm, giỏi lắm, hai cái thân bầm dập lê lết, với với ngoắc ngoắc trong hoàng hôn đầy ám ảnh. Thế rồi... kết. Cả hai bố con cười tí tớn như địa chủ được mùa. Ông bố giãn nở cơ mặt chở đò đưa học trò đi học. Cô con gái thiên thần thuở nào bây giờ thỏa mãn và hạnh phúc vênh váo cái bụng bầu lên như một cuộc tình hạnh phúc khoe với những đám mây và đàn chim đang bay về tổ, một trăm phần trăm phim Việt, bỏ vào xứ nào cũng không lẫn. Tôi phải thốt lên: Sao nó giống phim Triều Tiên, Trung Quốc thuở nhỏ mình hay xem quá. Nhân hậu tha thứ là nhẽ đương nhiên, là thông điệp chính của bộ phim như đạo diễn nói, nhưng nhân hậu kiểu kết phim này, tôi lại thấy nó... ác.

Trở lại cái hôm nhậu ấy. Tôi và Lê Huy Mậu đều đã say, chúng tôi như hai con... nghé ngồi kích bác nhau đủ thứ, chủ yếu là về cái bài hát Khúc hát sông quê mà Mậu là tác giả phần lời. Tư chỉ ngồi cười cười và thi thoảng lại nâng ly dzô. Mà Tư dzô thật chứ không chỉ hô lấy đà như các bà các cô khác. Và chính vì thế mà chúng tôi cầm lòng không đặng, chúng tôi tiếp tục như hai con nghé thấy cỏ non. Kết quả là Lê Huy Mậu liêu xiêu lên xe và sáng sau bỏ cuộc đi Đất Mũi...




Rời Hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau, giờ Tư làm cho một tờ báo ở thành phố Hồ Chí Minh, nghe nói thu nhập cũng rủng rẻng, nhưng phải làm việc quyết liệt, phải đi nhiều. Hôm Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc ở Tuyên Quang, Tư vừa là thành viên ban nhà văn trẻ, vừa là đại biểu "nhà văn trưởng thành" được mời, nhưng chị chỉ ghé Tuyên Quang được một đêm rồi sáng sau phải sang trước Thái Nguyên chứ không dự được chút nào, dù rất nhiều cây bút trẻ háo hức muốn gặp chị, và ngay ban tổ chức cũng hình như là chưa gặp được. Cũng như thế, hôm hội thảo văn xuôi ở Bến Tre do Hội Nhà Văn tổ chức, chị là thành viên Ban công tác nhà văn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng cũng chỉ dự được một ngày, hôm sau phải từ Bến Tre vọt xe đò thẳng về Bạc Liêu tác nghiệp theo điều động của tòa soạn. Nghề báo nó khắc nghiệt thế. Nó tôn trọng sự nổi tiếng của tác giả, nhưng nó cần hơn kết quả trước mắt, ngay lập tức. Sản phẩm của nó là ăn tươi, là bắt tận tay day tận mặt. Anh lè phè là bị gạt ra ngoài ngay. Công việc ấy vừa là danh dự, lại vừa là nguồn sống của gia đình nên không thể lơ mơ được. Và cũng nhờ đi thế, dạo này tản văn của Tư lên sắc hẳn, đọc không lênh phênh như hồi đầu, mà nó cứ nhoi nhói thân phận, cứ mang mang cái nỗi buồn chợt gặp. Những chợt gặp ấy như cái cớ, cái duyên để tác giả tải cái nghĩ cái biết cái đau đáu không cùng của mình. Trông cái người có vẻ đơn giản thế kia mà bên trong ấy bao nhiêu suy nghĩ đang giằng xé, bao nhiêu cảnh đời đang găm lại, bao nhiêu điều muốn bày ra. Chữ của Tư thì khỏi nói rồi, nó vừa lấp lánh vừa trĩu nặng, và cái chính là nó không làm dáng, nó hiện lên đúng lúc cần, tải ngay điều nó phải có trọng trách, mà vẫn tung tẩy, vẫn tài hoa, vẫn tươi rói dư vị phương nam như con cá kèo đang quẫy trong ruộng, con cá thòi lòi bậm bạch bên sông... Mà cái dáng Tư dễ lẫn vào đời lắm. Cứ giày vải, túi tòng teng, một cái xe máy hoặc xe đò, nước da lẫn vào phù sa thế, đi đâu chả tới. Mới đây Tư hẹn: Hôm nào em bay lên Pleiku, anh thuê giúp cái xe máy, em chạy lên Măng Đen ngủ một đêm. Tôi hiểu ngay một đề tài đã lóe trong đầu. OK thôi, thậm chí nếu rảnh, anh đi cùng em, gần hai trăm cây số đường đèo chứ mấy...



Viết xong bài này, như tính cẩn thận thường có, tôi mail cho Nguyễn Ngọc Tư với lời nhắn: "Em thân yêu, anh phải "nhậu" em thôi. Em đọc giùm anh nhé, và nếu có thể, cho anh vài cái ảnh, không thì anh phải dùng ảnh em đang chạy thể dục thôi, hơ hơ". Tư trả lời ngay, "Biết rằng không thể ngăn được con đường... nhậu của anh. Thôi đành. Nhưng đừng nói chuyện tiền bạc ai trả trả ai, cho bọn nhà văn nó có tính sang trọng tí, anh. Ảnh đây, ít nhất không làm thất vọng các chàng trai". Tôi mail tiếp: "nhất trí, không đứa nào trả tiền cả dù đoạn ấy khá vui và hot". Và Tư: "Bỏ 1 câu thôi mà. không suy suyển tới thằng hot và thằng vui". Thế nên trong bài này tôi đã bỏ một câu khá hot và vui về việc ai trả tiền bữa nhậu ấy và biết thêm chi tiết là trên đời có một thằng hot và một thằng vui.
V.C.H

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Ông tiến sĩ bán nhà làm giáo dục

Thầy Võ Tòng Xuân trong ngày khánh thành trụ sở mới Trường song ngữ Tinh Hoa. BÀI & ảnh: LỤC TÙNG

DẠY VÀ HỌC. Bán nhà mặt tiền ở đô thị để về vùng sâu xây trường mầm non, tiểu học – vì danh ư, hay vì lợi? Chắc chắn cả HAI không còn cần thiết với nhà khoa học lớn đã qua tuổi “xưa nay hiếm” như GS-TS-VS-NGND-AHLĐ Võ Tòng Xuân, mà người dân ĐBSCL vẫn trìu mến gọi là thầy Xuân. Bài Ông tiến sĩ bán nhà làm giáo dục và ảnh Thầy Võ Tòng Xuân trong ngày khánh thành trụ sở mới Trường song ngữ Tinh Hoa do LỤC TÙNG đăng trên Lao động Xuân

Bán nhà lo chuyện quốc gia

Dù chỉ hai lần đặt chân vào đây, nhưng với tôi “nhà ở Cần Thơ” của thầy Xuân rất ấn tượng. Không chỉ vì vị trí đắc địa mà còn bởi đó là nơi tôi thường được thầy nhắc nhớ những kỷ niệm đẹp về cô Lệ (người vợ quá cố của thầy). Một kế hoạch đầu tư, vun đắp cho “cõi đi về” đã được thầy tính toán rất cụ thể: “Ngoài gian làm nơi thờ tự, sẽ dành riêng gian trưng bày toàn bộ những mẫu vật, kỷ vật liên quan đến cuộc đời hoạt động khoa học của thầy”. Vậy mà giờ đây...

Đúng hẹn, tôi tìm đến căn phòng công vụ cấp 4, thấp và xuống cấp trầm trọng, nằm trong góc khuất của khuôn viên ĐH An Giang mà thầy Xuân tá túc từ khi còn làm hiệu trưởng đến nay. Khác với sự cởi mở thường ngày, thầy trở nên trầm buồn khi nghe tôi hỏi chuyện căn nhà: “Hiện giấy tờ đang được thế chấp trong ngân hàng để trang trải một phần, tìm được người mua, thầy bán luôn để đầu tư cho trường”. Trường tức Trường song ngữ Tinh Hoa (SNTH) do thầy làm Chủ tịch HĐQT.

Mọi chuyện diễn ra đột ngột đến nỗi chính thầy cũng không ngờ. “Lúc đầu dự kiến sẽ vay vốn ngân hàng xây trường học theo dự án giáo dục, nhưng sau khi thẩm định, phía ngân hàng thẳng thừng từ chối với lý do dự án không khả thi, mức thu học phí của trường chỉ đủ trang trải chi phí dạy-học”, thầy Xuân nhớ lại. Bị ngân hàng thay đổi kế hoạch tài chính chủ lực vào phút 89, nên dù thầy “dốc hết tình già”, gom hết tiền của cả đời làm khoa học cũng chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu của ngôi trường song ngữ. Thầy buộc phải chấp nhận bán căn nhà kỷ niệm. “Đây có lẽ là quyết định khó nhất trong đời tôi, nhưng nếu không làm ngay thì thầy sợ “hết giờ”.

Theo thầy Xuân, giáo dục Việt Nam đang như người mắc cùng lúc nhiều chứng bệnh. Ngoài những khó khăn chung về nội dung và chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất, chúng ta thường quan tâm, đầu tư ngược so với quy trình của các nước tiên tiến trên thế giới khi dồn sức cho cấp đại học mà lại ít quan tâm đến cấp học nền tảng là mẫu giáo và tiểu học. “Chồi có khỏe thì cây mới phát triển được, lịch sử giáo dục hiện đại thế giới đã chứng minh, quốc gia nào quan tâm đầu tư tốt cho giáo dục hệ mầm non, tiểu học thì quốc gia đó sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao”, thầy Xuân giải thích cho quyết định bán nhà xây trường của mình.

Xây trường “Tây” cho “Hai Lúa”

Tinh Hoa là trường song ngữ 4 cấp học phổ thông đầu tiên ở ĐBSCL. Trường được dạy theo phương pháp Montessor, phương pháp giáo dục dựa trên nền tảng sự tự do khám phá của nhà giáo dục người Italia, Montessor (1870-1952), đặt nền móng nhằm hướng tới đào tạo thế hệ công dân mới có khả năng tự lập và hòa nhập. “Mục tiêu lớn nhất của việc đầu tư trường này là đào tạo ra thế hệ học sinh biết học để làm người, để hiểu biết, để làm việc, để sống với cộng đồng, sau khi tốt nghiệp THPT có khả năng vào học bất cứ trường đại học nào trên thế giới. Ngoài kỹ năng làm việc nhóm, các em còn có kỹ năng nói tiếng Anh lưu loát, sử dụng thành thạo Internet...”, thầy Xuân giới thiệu “sản phẩm” của SNTH một cách đầy tự tin.

“Chúng tôi dạy Anh ngữ theo phương pháp giáo dục sinh ngữ phát triển sau, tức dạy cho các cháu khả năng đọc, hiểu tiếng mẹ đẻ trước khi làm quen và sớm thành thạo tiếng Anh. Bởi chúng tôi quan niệm đây chính là “giấy thông hành tương lai” cho học sinh của mình. Theo báo cáo của Hội đồng Anh, hiện có đến 1/6 số người trên toàn cầu nói tiếng Anh và 3/4 trong số này coi tiếng Anh là ngoại ngữ".

Để sớm vươn tới mục tiêu này, bên cạnh việc áp dụng phương pháp quản lý “lớp học là của học sinh” cùng với việc tuân thủ nghiêm các quy định về trang thiết bị dạy học và sĩ số tối đa (mỗi lớp 20 học sinh) để tiện khơi gợi tính sáng tạo, giúp các em tự tin tìm thấy tri thức, trường còn quan tâm tạo cầu nối để phụ huynh cùng tham gia quản lý, theo dõi và điều chỉnh nền nếp học-hành của con em mình”, GS Xuân nhấn mạnh.

“Chồi có khỏe thì cây mới phát triển được, lịch sử giáo dục hiện đại thế giới đã chứng minh, quốc gia nào quan tâm đầu tư tốt cho giáo dục hệ mầm non, tiểu học thì quốc gia đó sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao”.

“Ngoài việc phát bài tập đơn giản về nhà cho phụ huynh tham gia chấm điểm nhằm “lôi kéo” các bậc cha mẹ quan tâm hơn đến việc học của con, chúng tôi còn dành vị trí trang trọng trên website của trường (http://www.elite.edu.vn/) là “Diễn đàn phụ huynh” để bậc cha mẹ tham gia phản ánh, trao đổi với nhà trường những vấn đề cần quan tâm, hình thành môi trường giáo dục giúp học sinh phát triển toàn diện”.

Bán căn nhà kỷ niệm để xây trường chất lượng “Tây”, nhiều bậc phụ huynh ở Long Xuyên náo nức chờ đợi ngôi trường ra đời ngay trung tâm vừa để con em có môi trường học hành tốt nhất, vừa để có dịp ủng hộ trả nghĩa nhà khoa học gắn bó với người nghèo. Nghĩa là nó hoàn toàn có khả năng hái ra tiền nếu được đặt tại địa bàn đô thị.

Thế nhưng tất cả đã nhầm... Ngày 12.9.2011, Trường SNTH chính thức có cơ ngơi mới khang trang tại phường Mỹ Hòa (TP.Long Xuyên) sau 2 năm “ở tạm”. Gọi phường là ăn theo “hồn vía” của TP.Long Xuyên, bởi thực chất Mỹ Hòa vẫn là vùng nông thôn, đa số người dân còn nghèo. “Nhiều nhà đầu tư giáo dục ngán vùng sâu vì sợ ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ, còn chúng tôi thích vùng sâu là vì muốn mang lợi nhuận to lớn nhất đến cho người nghèo” - thầy Xuân nói.

Sau hơn 50 năm hiến tuổi xuân vào tận các vùng “khỉ ho, cò gáy” giúp nông dân đẩy lùi phèn mặn, đánh thắng giặc sâu rầy, đạt năng suất cao trong nông nghiệp hay dấn thân vào cuộc chiến bảo vệ giá cả nông sản và đề xuất hướng làm tăng lợi tức cho nông dân, giờ đây ở tuổi “xưa nay hiếm”, ông lại mang gia tài cuối cùng của cuộc đời để thực hiện cuộc dấn thân mới: Giúp con em những người nông dân “một nắng hai sương” có cơ hội vào học trường chất lượng cao để thoát khỏi vùng trũng giáo dục, vươn lên kết nối toàn cầu. Tấm lòng của ông tươi đẹp như mùa xuân, như chính tên của ông: Xuân, Võ Tòng Xuân.

BÀI & ảnh: LỤC TÙNG


Đọc thêm
:




Du xuân phương Nam ngày giáp Tết

Xuôi phương Nam, tôi tìm thăm Hai Lúa.
Thắm tình thân, thầy bạn buổi tất niên.
Địa chỉ xanh, dẫu xa mà gần gũi .
Mừng xuân này công việc gắn bền thêm.

Hoàng Kim

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM,
DẠY VÀ HỌC