- Hoàng Kim
- Nhà sách HOÀNG GIA
- Ngọc phương Nam
- Chào ngày mới
- Thung dung
- Dạy và học
- Dạy và học BLTV
- Dạy và học ĐHNL
- Cây Lương thực
- Food Crops News
- Food Crops.vn
- Food Crops
- Green Super Rice
- Cassava Viet
- Cassava News
- Gardening Tips
- Học mỗi ngày
- Danh nhân Việt
- Tin Nông nghiệp Việt Nam
- Tình yêu cuộc sống
- Kim on Twitter
- KFB
Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011
Chào mừng website bách khoa toàn thư văn hóa Việt
TRÁI TIM HOÀN HẢO
Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói:” Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đã đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề mặt sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cưòi nói: “Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn trái tim của cụ chỉ là những mảnh chắp, đầy sẹo và vết cắt. “
- Mỗi vết cắt trong tim tôi tượng trưng cho một nguời mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè… Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tim tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi va con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những vết sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc không cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng mộtngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoản trống mà tôi luôn chờ đợi.
Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu của cụ già đã chảy trong tim anh…
NGƯỜI NHÂN VIÊN SẾP CẦN
Chúng ta ai cũng có mặt ưu điểm vượt trội, để trở thành một nhân viên trụ cột của công ty, ngoài việc nâng cao năng lực nghiệp vụ, bạn cần thể hiện mình là một người có giá trị.
Người nhân viên có giá trị cần trang bị cho mình
- Cần nỗ lực làm việc cho công ty, sau đó mới tính đến sự báo đáp từ công ty
- Nên đứng từ góc độ của công ty xem xét mọi việc, đối đãi người khác như với chính bản thân mình; luôn tin tưởng vào công việc của mình
- Trở thành người có khả năng giả quyết vấn đề, chứ không phải là người tạo nên mọi vấn đề rắc rối
- Không bao giờ nói “ không” với công việc
Nâng cao năng lực, nỗ lực trong mọi công việc
Tự giác nâng cao phẩm chất và năng lực bản thân, đừng quá quan tâm đến việc công ty có thăng chức và tăng lương cho bạn hay không. Mà hãy tập trung và hoàn thành công việc, làm các công việc khác hợp với khả năng của mình, bắt đầu từ việc nhỏ nhất để tích lũy thêm kinh nghiệm. Thái độ tích cực và ham học hỏi sẽ rất có ích cho bạn sau này.
Thiết lập các mối quan hệ
So với công việc thì việc xử lí công việc và tạo mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng còn khó hơn rất nhiều. Hãy dùng thái độ chân thành để thiết lập các mối quan hệ. Điều này không những giúp bạn làm việc một cách thoải mái, còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết, nâng cao sự bền chặt của công ty và hiệu quả công việc. Nên đứng vào vị trí của người khác để suy xét mọi vấn đề của công việc. Điều này hoàn toàn có lợi cho sự nghiệp của bạn.
Chú trọng nâng cao hiệu quả công việc
Trong thời đại công nghiệp hiện nay, thời gian chính là tiền bạc, nâng cao hiệu quả công việc đồng thời nâng cao giá trị sáng tạo, tính cạnh tranh và giảm chi tiêu ngân sách cho công ty mang đến hiệu quả kinh tế thực tế. Qua đó để sếp thấy sự cố gắng của bạn xứng đáng đồng lương mà công ty trả cho bạn.
Trở thành người giải quyết các vấn đề
Để trở thành một người trợ lí đắc lực của sếp, khi gặp các vấn đề trong công việc bạn cần đưa ra cách giải quyết, chứ không phải là ỷ lại sếp. Sếp luôn là người có trách nhiệm và người nhân viên sáng tạo là biết cách giúp sếp giải quyết các vấn đề khó khăn. Những nhân viên luôn chủ động hoàn thành công việc được giao và vì lợi ích công ty làm tốt cả phần việc không trong nhiệm vụ của mình là người sếp luôn cần. Ngày nay làm việc dập khuân không phải là mô típ cho một nhân viên năng động.
Công việc chính là sự nghiệp của mình
Bất luận ở giai đoạn nào của sự nghiệp hãy nhiệt tình, năng động, không ngừng sáng tạo vì công ty, hoàn thành và nâng cao giá trị công việc. Không nên có suy nghĩ “ đây không phải là phần việc của tôi ”, vấn đề khó khăn của một người có thể sẽ là cơ hội của người khác, hãy nắm bắt bất cứ cơ hội nào mà bạn có.
Chỉ cần bạn biết kiềm chế, không sợ sự cô đơn và sự cám dỗ của những thú vui thì hoàn thành những kế hoạch của từng ngày , lâu ngày bạn sẽ có những ưu thế hơn người khiến bản thân ngày càng có giá trị.
Giống như nước có thể bào mòn đá vậy những việc bình thường nếu quyết tâm và kiên trì sẽ xuất hiện kì tích mà ta khó đoán trước.
MUỐN THÀNH CÔNG THÌ HÃY ĐỌC BÀI NÀY
Ðây là bài diễn văn của Larry Ellison (Chủ tịch Oracle) tại ÐH Yale vào lễ tốt nghiệp năm 2000 và cũng vì nó, ông bị lôi ra khỏi sân khấu khi đang diễn thuyết.
“Là SV của ÐH Yale, tôi xin lỗi nếu các bạn có thể chịu đựng được phần mở đầu trước, nhưng tôi muốn các bạn làm một điều gì đó cho tôi. Xin hãy nhìn chung quanh bạn. Hãy nhìn người bạn cùng lớp bên trái bạn. Hãy nhìn người bên phải bạn. Bây giờ, hãy xem xét điều này: 5 năm nữa, 10 năm nữa, thậm chí 30 năm nữa, kì quặc là những người bên trái bạn sẽ trở thành người thua cuộc (Loser ). Người ngồi bên phải bạn lúc đó cũng là người thua cuộc. Và bạn, người ở giữa sẽ như thế nào?
Bạn có thể mong mỏi điều gì hơn? Rốt cục bạn cũng sẽ là một gã tồi mà thôi. Tất cả đều thua. Tất cả. Thực tế, khi tôi tìm kiếm trong số những người trước mặt tôi hôm nay, tôi không thấy được hàng ngàn tia hi vọng cho một ngày mai tươi sáng. Tôi không thấy hàng ngàn người lãnh đạo tương lai trong hàng ngàn ngành công nghiệp. Tôi chỉ thấy hàng ngàn kẻ thua cuộc. Bạn lo lắng ư? Dễ hiểu thôi. Sau cùng, tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người bỏ học đại học nửa chừng, cả gan hùng hồn thốt ra những điều trái lẽ phải như thế trước khóa tốt nghiệp của một trong những viện có uy tín nhất đất nước này?
Tôi sẽ nói cho các bạn biết tại sao?
Bởi vì tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người giàu thứ 2 trên hành tinh, là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Bill Gates, người giàu nhất thế giới dù sao đi nữa cũng là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Paul Allen, người giàu thứ 3 trên thế giới, cũng bỏ học ÐH giữa chừng, và bạn thì không làm điều đó. Và cứ tính như thế tiếp tục đi. Cho đến Michael Dell, người giàu thứ 9 trên thế giới và ngày càng đi lên rất nhanh, cũng là một thằng bỏ học giữa chừng và bạn, vâng chính lại là bạn, không như thế. Bạn thấy đảo lộn rồi ư? Có thể hiểu được mà.
Vì vậy hãy để tôi chọc giận cái tôi trong bạn bằng cách chỉ ra, một cách thẳng thắn, là bằng cấp của bạn chẳng có giá trị gì hết. Phần lớn các bạn, tôi tưởng tượng là, đã trải qua 4,5 năm ở đây, bằng nhiều cách bạn cố gắng học và chịu đựng những gì sẽ có lợi cho bạn trong những năm sắp tới. Bạn đã lập ra một thói quen làm việc tốt. Bạn đã thiết lập nên một mạng lưới các quan hệ để có thể giúp đỡ bạn khi bạn vấp ngã trên con đường của mình. Và bạn đã tạo ra những gì có quan hệ suốt đời với từ “cách chữa bệnh”.
Tất cả điều đó đều tốt. Sự thật là bạn sẽ cần đến mạng lưới đó. Bạn sẽ cần những thói quen làm việc chăm chỉ. Bạn sẽ cần “cách chữa bệnh”. Bạn sẽ cần nó vì bạn không bao giờ bỏ học nửa chừng, và chính vì thế, vâng, bạn sẽ không bao giờ ở trong số những người giàu nhất thế giới. Oh, chắc chắn là làm theo cách của bạn sẽ không bao giờ vươn tới số 10, 11 như Steve Ballmer. Nhưng mà, tôi không nói cho bạn biết là thực sự ông ta đang làm cho ai phải không?
Và để có được thành tích đó, ông ta đã bỏ học. Hơi trễ, đó là sai lầm lớn. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, nhiều bạn ở đây, hi vọng là đa số các bạn, tự hỏi rằng ” Tôi có thể làm cái gì đây? Không còn hi vọng cho tôi nữa sao?”
Thật sự là không. Quá trễ rồi. Bạn đã miệt mài quá nhiều, tôi nghĩ là bạn biết là quá nhiều. Bạn sẽ không là người thứ 9. Bạn có một cái mũ dính liền, tôi không ám chỉ đến cái mũ vuông ( trong đồng phục lễ tốt nghiệp) mà bạn đang đội trên đầu. Hmm… Bạn thực sự thấy lo lắng ư ? Dễ hiểu mà. Vì thế đây có lẽ là dịp tốt để nuôi dưỡng niềm hi vọng. Không phải cho các bạn mà là cho khóa mới sắp tới kia. Các bạn là đồ phế thải rồi, vì thế tôi sẽ để các bạn lãnh mức lương thảm hại 200.000 đô la một năm, nơi mà đơn xin vào làm của các bạn sẽ được những thằng bỏ học hai năm trước đây kí.
Thay vào đó, tôi muôn mang lại hi vọng cho những bạn mới vào trường. Tôi muốn nói với các bạn, là tôi nhấn mạnh điều này: nên bỏ học. Hãy xếp đồ đạc và cả những ý tưởng lại và đừng quay trở lại nữa. Bỏ học đi. Ðứng dậy đi. Ðiều tôi muốn nói với bạn là cái mũ và áo choàng tốt nghiệp sẽ kéo bạn xuống chắc chắn như là những người bảo vệ kia sẽ lôi cổ tôi xuống khỏi sân khấu này…
(Ðến lúc này thì chủ tịch của Oracle bị mời xuống khỏi sân khấu)
Bạn hãy tự trả lời: Vì sao như thế?
Nguồn: http://vhv.com.vn/ ;
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC
Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011
Lời thương
DẠY VÀ HỌC. Bẵng một thời gian chưa đến thăm anh (Bulukhin- Nguyễn Quốc Toàn) Hôm nay tôi ghé lại,và chợt lặng người trước bài “Lời thề cỏ may” anh giới thiệu bài viết của cậu con Nguyễn Quốc Tuấn. Mục cảm nhận có bản nhạc “Anh còn nợ em” thấm đẫm tính nhân văn của nhạc sĩ Anh Bằng qua lời ca ngọt ngào Thiên Kim (+Tăng Thanh Hà) do bạn anh post tặng. Anh đã cố tình dùng lại tiêu đề “Lời thề cỏ may” của Trần Đăng Khoa trích trong tuyệt phẩm “Ngày Tết đọc 5 bài thơ lục bát” bình bài thơ cùng tựa đề này của Phạm Công Trứ. Ba góc nhìn đều có những sâu lắng riêng. Xin được chép chung những bài này vào “kho báu” để mọi người cùng đọc.
LỜi THỀ CỎ MAY
Nguyễn Quốc Tuấn
Cậu con trai Bu đang hành nghề kiến trúc và viết báo vặt ở Sài Gòn, cu cậu chỉ có thủy chung với Facebook. Nó thường “vẽ” chân dung bạn bè theo bút pháp cường điệu và lộng ngôn, đọc là cười lăn. Ấy thế mà những thằng bạn được nó “vẽ” lên không tự ái, lại khoái chí nữa. LỜI THỀ CỎ MAY là nó tự vẽ mình cũng một bút pháp trên…Và các cô gái mới lớn ơi, hãy cảnh giác bọn con trai nhé, nhớ đấy.
Thời sinh viên, dù đói khổ mốc cả mỏ, nhưng cái khoản yêu đương thì mình thuộc dạng no đủ, dăm bữa nửa tháng là đau đáu em A, vài tuần lại sang em B, em nào mình cũng nói yêu đương một cách chân thành và đầy trách nhiệm. Cứ như thế, mấy năm đại học, trái tim không biết mệt mỏi. Yêu và yêu thôi, hehe…
Ở ngoài Hà Nội, chỉ nói ” Anh yêu em” là đủ ý, thông tin được gửi đi một cách perfect. Nhưng Sài Gòn…
Vào sài gòn, quen cô gái đầu tiên có tên là Th, một bận, cô ấy hỏi, “Anh thương em không” Mới nghe, thấy lạ tai, cái từ “thương” sao mà sến rện, cải lương. Mình trả lời ngay, anh yêu em chứ thương thì nhằm nhò gì.
Người Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung không dùng mỹ từ “yêu” như các nơi khác. “Ủa, mày thương con nhỏ đó hả?” Ê, thằng đó thương mày thiệt đó nghen”
Phải đến cả năm sau, mình mới “ngộ” ra từ thương của người miền Nam. Thứ nhất, người Nam không màu mè, ái ngữ của họ mộc mạc như suy nghĩ vậy. Từ “yêu” trong đầu người Nam chỉ có ở tiểu thuyết, hoặc trên phim ảnh mà thôi. Nam nữ “thương” nhau, chứ họ không cần yêu, “có lẽ phụ nữ Nam Bộ không biết “yêu” là gì???”
Đúng vậy, Vợ chồng, bồ bịch, có khi chẳng nhất thiết phải yêu nhau say đắm. Chẳng cần phải mượn cái phạm trù bao la rộng lớn như thế để chứng mình tình cảm với nhau, Vợ chồng thương nhau, nam nữ thương nhau, người với người thương nhau là đủ rồi.
Riêng mình, khi cuốn lịch cuộc đời mỏng dần theo năm tháng, thì khái niệm “yêu” trở nên mong manh, và dễ vỡ. Khái niệm đó ngày càng rời xa tâm thức, nó không thuộc vùng cảm xúc trong trái tim mình. Vì yêu là là ràng buộc nhiều thứ, vì điều này vì điều kia, thậm chí là vì…thương nữa, hihihi
Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá…Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối….Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn….là những câu hát đã nhạt phai rất nhiều trong mình, dù trước đây là vũ khí đắc lực. Hễ đưa em nào đến quán ca fe có thêm cây đàn ghita nữa là em ngã đạn, phải dựng em lên nói một câu cho đủ bộ là “Anh yêu em”… Cách đây vài năm, tình cờ gặp lại Th trong quán cafe, Th giờ đã 2 con mà nhan sắc vẫn đang làm mòn con mắt lắm.
Ủa, phải Tuấn hông?
Ừ, Th hả, lâu ngày quá.
…….
Hồi trước Tuấn đâu có thương Th ?
Có chứ. Yêu chết bỏ mà!
Chỉ Yêu thôi đúng hông?
Nhắc lại chuyện này làm gf?
nhắc lại để Tuấn thấy đang nợ Th nhiều lắm
Ví dụ?
“Công viên, ghế đá…nắng chiếu qua tim và cuộc tình đã lỡ”
Ơ, ơ … đó là ông nhạc sĩ Anh Bằng nợ chứ
(Cười)
Giá như hồi đó mình đừng yêu ai cả, mà thương thật nhiều, rồi giá như hồi đó mình trả lời “ừ thương” trong câu chuyện với Th một cách tự nhiên, không thấy sến rện, không thấy cải lương thì bây giờ sao nhỉ? Chắc là không “nợ nần” chi ai cả. Thiết nghĩ, trải nghiệm cuộc sống giống như đi qua những cánh đồng cỏ may, đôi khi phải dừng bước để gỡ những lời thề, văn chương gọi là “lời thề cỏ may” hị hị hị!
LỜI THỀ CỎ MAY
Trần Đăng Khoa
Giữa lúc người ta xuôi về thành phố , thì Phạm Công Trứ lại ngược ra ngoại ô, trở về làng quê, và rồi anh cứ đi mãi , đi hút mãi về xứ dân gian. Ở đó anh gặp Nguyễn Bính, và ngay lập tức anh đã bị ông thi sĩ đồng hương này bắt mất hồn ! Bởi vậy, có một nhà thơ ở bậc đàn anh, đọc xong Trứ bảo: “Đời đã có một Nguyễn Bính rồi. Có nên cần thêm một Nguyễn Bính hạng hai, hạng ba nữa không ?
Nói thế thì oan cho Trứ quá . Anh đâu phải Nguyễn Bính. Dú có khoác tấm áo the, có đội cái khăn xếp xưa của Nguyễn Bính cũng đâu đã phải là Nguyễn Bính. Hãy xem cô gái nhà quê ra tỉnh này về thì rõ. Cái áo chẽn, cái quần bò đã khác xa cái áo the quần lĩnh cổ cài khuy bấm ngày xưa, chí ít cũng là sự khác biệt về một trang phục của thiếu nữ ở hai thời.
Dẫu khác thế, người đọc Phạm Công Trứ vẫn cứ nhớ đến Nguyễn Bính. Giá không có Nguyễn Bính, có lẽ Phạm Công Trứ đã có một cái chiếu giữa làng văn. Nhưng cái chiếu Trứ đang ngồi vào hiện nay, Nguyễn Bính đã ngã bóng mình xuống đó cách đây nữa thế kỷ. Bởi thế, thơ Trứ có chỗ quả cũng cớm nắng, xanh xao. Thiết tưởng, Trứ cũng có thể bắt chước người xưa , ngữa mặt lên trời mà than rằng: Trời đã sinh ra Trứ sao trước đó còn sinh ra Bính?
LỜI THỀ CỎ MAY
Phạm Công Trứ
Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng tuổi ngọc tôi ngờ lời ai
Thủa ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Aó tôi cúc đứt mực rây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi em hỏi hững hờ
Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai?
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may.
Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011
Lời khuyên tốt cho sức khỏe
trong nhịp sống hiện đại

Bấm mũi tên ở giữa để xem video
Answer the phone by LEFT ear
برای صحبت با موبایل از گوش چپ استفاده کن
Nên sử dụng TAI TRÁI để nghe điện thoại

Keep your distance from hand phone CHARGERS
از گوشی موبایل در زمان شارژ شدن دوری کنید.
Nên giữ khoảng cách với BỘ XẠC điện thoại đang hoạt động

Do not use headphones/earphone for LONG period of time
از سمعکهای تلفن ثابت و موبایل برای مدت طولانی استفاده نکنید.
Nên dùng TAI NGHE chỉ trong thời gian ngắn

When battery is down to the LAST grid/bar, do not answer the phone as the radiation is 1000 times
زمانیکه باتری موبایل ضعیف است با جایی تماس
نگیرید و تماس کسی را جواب ندهید چون در این حالت امواجی که گوشی منتشر می کند 1000 برابر است
Nên tránh nghe điện thoại khi pin yếu, vì độ phóng xạ cao gấp 1000 lần cho phép

Do not drink coffee TWICE a day
روزانه بیش از دو فنجان قهوه ننوشید.
Nên uống chỉ MỘT TÁCH CÀ PHÊ mỗi ngày

Do not take pills with COOL water
قرص و داروها را با آب خیلی سرد تناول نکنید
ĐỪNG uống thuốc với NƯỚC LẠNH

Do not have HUGE meals after 5pm
بعد از ساعت 5:00 از خوردن غذای چرب خوداری کنید
Nên ĂN ÍT, NHẸ sau 5 giờ chiều

Reduce the amount of TEA you consume
مصرف چای روزانه را کم کنید
NÊN uống TRÀ vừa phải thôi

Reduce the amount of OILY food you consume
از مقدار غذای چرب و اشباع شده با روغن در وعده های غذایی کم کنید
Nên ăn CHẤT BÉO vừa phải theo khuyến cáo

Drink more WATER in the morning, less at night
در صبح آب بيشتر و در شب آب كمتر بنوشيد.
Nên uống nhiều NƯỚC buổi sáng, ít vào buổi tối

Do not lie down immediately after taking medicine before sleeping
بعد ازخوردن دارو فورا" به خواب نروید.
Sau khi uống thuốc, không nên NẰM NGỦ ngay

Best sleeping time is from 10pm at night to 6am in the morning
بهترین زمان خواب از ساعت 10:00 شب تا ساعت 6:00 صبح است
THỨC DẬY trước 6 giờ sáng và NGỦ lúc 10 giờ đêm là tốt nhất cho sức khỏe



Nguồn: Gia đình dầu dừa (sưu tầm)
Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011
Tinh khôi, góc nhìn cuộc sống
![]() |
| From DẠY VÀ HỌC |
DẠY VÀ HỌC. TA NỢ của Phan Chí Thắng là bài thơ hay " Ta nợ mặt trời chiếc bóng dưới chân/ Ta nợ đêm thu tiếng sáo trong ngần/Ta nợ mẹ già tháng năm tần tảo/ Ta nợ vợ hiền một thời thanh xuân/Ta nợ cuộc đời cúi đầu tạ lỗi/ Ta nợ quê hương núi thẫm ráng chiều/ Ta nợ lòng mình những lần thất hẹn/ Ta nợ cuộc tình khoá lễ cầu siêu." Đó là góc nhìn khác về cuộc sống so với NỢ của Nguyễn Duy. "Nợ người khóe mắt rưng rưng/ nợ sông giọt nước nợ rừng bóng cây/ Nợ em lận đận tháng ngày/ ánh trăng ngọn gió áng mây nợ trời ". Đọc và chiêm nghiệm hai bài thơ này, ta hiểu thêm câu kết xúc động trong BÀI THƠ VIỆT BẮC của Trần Dần "Đi/ Tất Cả/Dù quen tay vỗ nợ/Cũng chớ bao giờ/ vỗ nợ/ NHÂN DÂN , nhớ Tinh khôi "Ta nợ em vần thơ âm thầm / Đăm đắm dõi nhìn từ nơi sâu thẳm / Ta nợ em một tà áo trắng / Đi trọn cuộc đời ơn nghĩa trăm năm " và thấu hiểu câu kinh Phật: "Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm."
TA NỢ
Phan Chí Thắng
Ta nợ mặt trời chiếc bóng dưới chân
Ta nợ đêm thu tiếng sáo trong ngần
Ta nợ mẹ già tháng năm tần tảo
Ta nợ vợ hiền một thời thanh xuân
Ta nợ cuộc đời cúi đầu tạ lỗi
Ta nợ quê hương núi thẫm ráng chiều
Ta nợ lòng mình những lần thất hẹn
Ta nợ cuộc tình khoá lễ cầu siêu
NỢ
Nguyễn Duy
Nợ thương nợ ghét nợ yêu
toác toàng toang vỡ bao nhiêu nợ nần
Nợ đời ngót nghét tấm thân
nợ con đường xác dấu chân chôn vùi
Nợ ly trắng nỗi đầy vơi
nợ bè bạn dốc cuộc chơi tưng bừng
Nợ người khóe mắt rưng rưng
nợ sông giọt nước nợ rừng bóng cây
Nợ em lận đận tháng ngày
ánh trăng ngọn gió áng mây nợ trời
Nợ hương sắc cõi thắm tươi
giấc mơ nợ xứ xa vời thần tiên
Dễ gì quịt nợ đâu em
nợ không trả được bằng tiền mà đau
BÀI THƠ VIỆT BẮC
Trần Dần
(Trích)
Ở đây
Ta mắc nợ
núi rừng
Một món nợ
khó bề trang trãi
Việt Bắc
Cho ta vay
địa thế!
Vay từ
bó củi
nắm tên
Vay từ
những hang sâu
núi hiểm
Cả
trám bùi
măng đắng
đã nuôi ta
Ta mắc nợ
Những rừng sim bát ngát
Nợ
bản Mường heo hút
chiều sương
Nợ
củ khoai môn
nợ
chim muông
nương rẫy
Nợ
tre vầu
bưng bít
rừng sâu
Nợ
con suối
dù trong
dù đục
Nợ
những người
đã ngã
không tên
Ôi
thế kỷ
muôn quên
ngàn nhớ
Nợ này
đâu dễ trả
mà quên!
Đi!
Tất Cả!
Dù quen tay vỗ nợ
Cũng chớ bao giờ
vỗ nợ
NHÂN DÂN!
Ba lần ngập trong nước trong
Ba lần tắm trong máu đỏ
Ba lần nấu trong nước giặt
Ta trong sạch hơn những người trong sạch nhất !
(A. Tonstoy)
Ta nợ em vần thơ âm thầm
Đăm đắm dõi nhìn từ nơi sâu thẳm
Ta nợ em một tà áo trắng
Đi trọn cuộc đời ơn nghĩa trăm năm
Áo em tinh khôi dẫu em phong trần
Viên ngọc trong ngần, tình yêu tỏa sáng
Mùa thu dẫu qua, mùa đông dẫu đến
Tình giữa chúng mình mãi mãi mùa xuân.
Hoàng Kim
Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011
Đặng Nhật Minh: sông An cựu vẫn thao thức chẩy...

DAYVAHOC. Đặng Nhật Minh "Nằm một mình trong đêm yên tĩnh, tôi có cảm giác như đang nằm giữa những ngưòi thân đã khuất. Nhưng họ không ngủ, mà cứ mở mắt chong chong nhìn tôi từ những khung ảnh trên bàn thờ. Trong cái không gian sâu thẳm đó, tôi bỗng nhận ra sự nhiệm mầu của mảnh đất này - xứ Huế. Ngoài kia, sông An cựu vẫn thao thức chẩy........"
Cha mẹ tôi
Đặng Nhật Minh
Cha mẹ tôi là những người Huế. Quê nội tôi ở An Cựu và quê ngoại ở làng Lại Thế. Tôi nghe Bà tôi kể: đám cưới cha mẹ tôi là một đám cưới chạy tang. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều trước khi về nhà chồng để rồi không lâu sau trở lại nhà mình để chịu tang cha. Phải chăng vì sự khởi đầu như vậy nên cuộc sống chung của hai người vui ít buồn nhiều. Chắc chắn cha mẹ tôi đã có những ngày rất hạnh phúc bên nhau, nhưng những ngày ấy rất ngắn ngủi. Sau khi cha tôi quyết định lên đường sang Nhật du học, đi theo tiếng gọi của lý tưởng khoa học, là bắt dầu những chuỗi ngày xa cách chia ly. Tôi thuộc Chinh phụ ngâm trước khi biết Truyện Kiều là do mẹ tôi, bà hay đọc cho tôi nghe từ nhỏ. Lớn lên tôi biết thêm rằng con người ta còn có những lý tưỏng khác nữa như: Giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, không có người bóc lột người v.v.... Lý tưởng nào cũng đòi hỏi sự hy sinh và nỗi cô đơn của người phụ nữ. Về sau tôi hiểu thêm: lý tưởng cũng như tôn giáo, nó còn đòi hỏi một sự sùng tín nữa, hy sinh không chỉ bản thân mình mà cả những người thân xung quanh mình. Cha mẹ tôi là một trong muôn vàn thí dụ về sự hy sinh như thế.
Những năm 40, việc một người phụ nữ trẻ, ôm một nách 3 con, con nhỏ nhất mới hơn một tuổi, vừa nuôi con vừa hầu hạ bố mẹ chồng, sống cô đơn ròng rã suốt 7 năm trời là một chuyện hy hữu. Sau này trong hai cuộc Kháng chiến trường kỳ của dân tộc vợ chồng xa cách nhau, kẻ Bắc người Nam là chuyện thường tình. Có lẽ chưa ở đâu trên thế giới có nhiều phụ nữ chờ chồng như ở ta. Vợ chờ chồng 10 năm, 20 năm, 30 năm..... Mẹ tôi chờ chồng 7 năm, nhưng 7 năm ấy đối vời bà là một chuỗi ngày dài đằng đẵng. Còn đối với tôi 7 năm ấy là cả một miền ký ức vô tận của tuổi thơ.......
Ngày ấy, sau khi cha tôi lên đường du học, mẹ tôi cùng ba anh em chúng tôi về sống trong ngôi nhà nội tôi tại An Cựu. Tôi chỉ còn giữ lại trong ký ức hình ảnh ông nội tôi như một ông đồ nho đầu búi tó củ hành. Quanh vùng người ta gọi ông là ông Khoá. Có nghĩa ông tôi suốt đời vẫn là một anh học trò... chẳng đỗ đạt bằng cấp gì. Dầu sao được gọi như vậy cũng coi như đựơc xếp vào hạng người có học trong xã hội rồi. Nghe nói ông tôi đã nhiều lần đi thi nhưng không thành, phẫn chí quay ra làm giầu bằng con đường phi thương bất phú và rồi... ông tôi giầu thật, giầu nhất vùng An cựu. Ông tôi quyết chí làm giầu cốt để có tiền nuôi con ăn học, sau này đỗ đạt thành người, rửa cái hận thi cử bất thành của mình. Gọi đó là lý tưởng của ông tôi cũng được. Mà khởi đầu có gì đâu? Chỉ là một sạp hàng trong chợ An cựu của Bà nội tôi. Cơ ngơi chỉ có thế: một cái sạp hàng bán vải. Bây giờ mỗi lần về thăm nhà đi qua chợ An cựu tôi không khỏi cười thầm khi nghĩ: kể từ thời bà nội tôi cho đến nay dễ hơn một thế kỷ, gia đình tôi không lúc nào không có một sạp hàng trong chợ đó. Mẹ tôi một dạo cũng từng ngồi bán vải trong đó và bây giờ con gái ông anh con bác tôi đang ngồi trong đó, cũng bán vải. Có cảm tưởng như gia đình tôi có duyên nợ nào đó từ kiếp trước với cái chợ này, để đến bây giờ cái biển đường phố mang tên cha tôi cứ suốt ngày đau đáu nhìn sang phía cổng chợ. Trong cuộc đời đầy dâu bể con người ta đôi khi cũng cần bấu víu vào những cái gì đó bất biến, không đổi thay. Mà những cái đó thì trong gia đình bên nội tôi có nhiều lắm. Đó là nề nếp của một gia đình theo khổng giáo,lấy chữ hiếu làm đầu, tự bao đời nay được coi là nền tảng bất di bất dịch trong cái thế giới thu nhỏ này. Ông nội tôi mất đi, đến lượt Bác tôi, Bác tôi mất đi đến lượt anh cả con Bác tôi.....hết lớp người này đến lớp người khác bền bỉ duy trì nếp sống đó trong gia đình hệt như những vận động viên chạy tiếp sức truyền nhau một ngọn đuốc. Xin đơn cử một việc mà tôi được chứng kiên từ hồi còn nhỏ đó là lệ cúng trà vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều. Từ ngày ông nội rồi bà nội tôi mất,Bác Kế tôi, ngày nào cũng như ngày nào đều đặn đạp xe lên thắp hương cúng trên mộ ông bà tôi rồi mới đến trường Quốc học làm việc (bác tôi là giám thị lâu năm nhất của Trường này). Chiều tan việc xong lại đạp xe lên mộ thắp hương trước khi về nhà. Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông bền bỉ giữ trọn đạo Hiếu đối với cha mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Bây giờ đến lượt anh cả con Bác tôi, và rồi sẽ đến lượt con ông anh tôi....chắc chắn là như vậy. Những ngôi mộ trong nghĩa trang họ Đặng mỗi năm một nhiều thêm và việc hương khói vẫn thế, không hề sao nhãng.
Từ Vỹ dạ rẽ phải đi qua cầu ông Thượng về làng Lại Thế là đến quê ngoại tôi. Ông ngoại tôi làm Thượng thư dưới triều đình Khải Định. Ông tôi đã xây chiếc cầu này nên cầu có tên là cầu ông Thượng. Ông ngoại tôi có bốn bà, nhưng tôi chỉ biết có bà Ba và bà Tư, hai bà trước qua đời khi tôi còn chưa đẻ. Mẹ tôi là con bà Ba. Mỗi lần được về bên ngoại đối với tôi thực sự là những ngày hội. Chúng làm xáo động cuộc sống bình lặng của tôi trong những ngày sống ở bên nội. Tôi được về với đồng quê, được ngửi mùi thơm của rơm rạ, được sống trong một không gian khác hẳn khung cảnh phố phường ở An Cựu. Các dì các cậu tôi nhiều lắm. Chỉ riêng con bà Ba và Bà Tư cũng đã có tới mười ba người. Ai cũng chiều chuộng, yêu thương tôi. Có một điều tôi không cắt nghĩa nổi tại sao xuất thân trong một gia đình đại quan lại và phong kiến như vậy mà các dì các cậu tôi đều tham gia vào các tổ chức bí mật của Việt minh hoạt động trong nội thành. Cứ mỗi lần có dì hoặc cậu nào bị bắt là mẹ tôi lại đến Cung An định xin Bà Từ Cung can thiệp với Sở mật thám Pháp để họ tha cho. Hẳn là mẹ tôi đã bịa ra đủ thứ lý do để làm mủi lòng bà Hoàng Thái hậu vốn còn chút tình nghĩa với gia đình quan thượng thư ngày nào. Rồi các dì các cậu tôi được tha về để lại tiếp tục hoạt động và rồi lại bị bắt. Tôi không biết mẹ tôi đã xin cho các dì cậu tôi bằng cách như vậy được mấy lần rồi thôi. Tôi chỉ nhớ một hôm mẹ tôi mặc quần áo sạch sẽ cho tôi rồi dắt tôi đi theo vào Đại nội. Qua rất nhiều tầng cửa có lính gác, cuối cùng mẹ tôi dắt tôi đi dọc theo một dẫy xà lim dài... dừng lại bên một khung cửa vuông nhỏ. Một gương mặt hốc hác bầm tím hiện ra sau ô cửa. Tôi giật mình nhận ra cậu Long em mẹ tôi. Tôi đau nhói trong tim nhưng không khóc được. Mẹ tôi đưa qua ô cửa những ổ bánh mỳ cùng thức ăn khô, hỏi han cậu tôi. Cậu tôi cố gượng cười để mẹ tôi yên lòng, rồi cúi xuống nhìn tôi. Hơn 50 năm qua ánh mắt ấy, gương mặt sau ô cửa xà lim ngày ấy vẫn còn ám ảnh tôi, theo suốt cả cuộc đời tôi. Đối với tôi đó là gương mặt của Lương tâm, của Phẩm giá và Nhân cách.
Tuổi thơ tôi cứ như vậy trôi đi giữa hai miền nội ngoại - An Cựu và Lại Thế. Hết 4 năm tiểu học ở Trường An cựu tôi vào Trường Khải định, đã bắt đầu biết ngẩn ngơ nhìn sang tường bên kia Trường Đồng Khánh mỗi khi tan trường. Chẳng có gì biến động lớn lao ngoại trừ cái đêm toàn quốc Kháng chiến nổi lửa đốt khách sạn Morin sáng rực cả một góc trời. Rồi những ngày lênh đênh trên thuyền cùng bên ngoại tản cư ra tận phá Tam Giang, mà đối với tuổi thơ vô tư của tôi như một cuộc du ngoạn dài. Mặt trận Huế vỡ, gia đình ngoại tôi lại trở về Lại Thế, trở thành cơ sở bí mật của thành uỷ Thuận hoá, còn mẹ con chúng tôi lại trở về bên nội. Tôi lại tiếp tục đi học. Nhưng cuộc sống tưởng chừng bất biến ấy đã một lần xáo động, xáo động đến nỗi không một ai trong gia đình tôi dù có giầu tưởng tượng đến mấy cũng không thể ngờ tới.
Đó là vào một buổi tối năm 1950.... một người đàn ông đến tìm gặp mẹ tôi tại nhà với vẻ mặt đầy bí ẩn. Tôi nhận ra ngươì đó là bác thợ cạo vẫn ngồi dưới gốc cây đa trước Miễu Đại càng, nơi tôi thường hay ra cắt tóc. Người đàn ông đó gặp mẹ tôi chưa đầy 5 phút rồi cáo lui. Ông đến rồi đi như một cái bóng. Về sau tôi mới biết rằng đêm đó người thợ cắt tóc, một cơ sở bí mật trong thành phố, đã chuyển đến tận tay cho mẹ tôi một bức thư của cha tôi viết từ Chiến khuViệt Bắc. Tôi không được chứng kiến giây phút đó nhưng có thể hình dung hết được sự ngạc hiên mừng rỡ như thế nào của mẹ tôi khi bà nhận ra nét chữ quen thuộc của chồng mình sau hơn một năm bặt vô âm tín. Thì ra ông không còn ở Nhật nữa. Ông đã trở về vùng tự do theo Kháng chiến và bây giờ đang nóng lòng chờ gặp mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi. Điều bất ngờ nhất đối với họ hàng trong gia đình tôi là việc cha tôi, một người chỉ biết có kính hiển vi và phòng thí nghiệm, bỗng nhiên đi theo Việt Minh, theo Kháng chiến. Còn mẹ tôi hẳn không băn khoăn lắm về điều đó. Bà chỉ nóng lòng chờ cơ sở bí mật đến bắt liên lạc để tổ chức vượt thành, đi gặp chồng. Cơ sở bí mật được giao làm việc đó không phải ai khác chính là cậu tôi, người mà mẹ tôi và tôi đã từng đi thăm trong xà lim Đại nội ngày nào. Vậy là vào một ngày đã định, mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi xin phép ông bà cùng họ hàng bên nội, lên một chiếc xe kéo để về quê ngoại ăn kỵ. Thực ra không có kỵ giỗ nào cả. Ngay khuya hôm ấy 3 du kích địa phuơng đến đón bốn mẹ con chúng tôi đi. Tôi và mẹ tôi đi bộ còn hai em gái tôi có ngưòi cõng trên lưng. Trong đêm tối chúng tôi lẳng lặng đi theo sau những người dẫn đường. Một lần chúng tôi phải dừng lại nằm chờ bên một con đường nhựa, cách không xa một lô cốt địch. Chúng tôi giữ im lặng tuyệt đối để rồi lát sau chạy vụt qua đường khi có người ra hiệu. Tảng sáng chúng tôi đã đến bên bờ một con suối rộng. Bên kia là Chiến khu Dương Hoà, vùng tự do của ta. Nhưng từ đây đến Việt Bắc, chỗ cha tôi ở còn xa lắm. Phải 3 tháng sau mới có cuộc trùng phùng. Mẹ tôi được trang bị một giấy giới thiệu của Uỷ Ban Kháng chiến Tỉnh Thưa thiên với nội dung: Bà Tôn nữ thị Cung trên đường đi gặp chồng là Bác sỹ Đặng Văn Ngữ đề nghị các cấp địa phương hết lòng giúp đỡ. Mẹ tôi giữ nó trong người như lá bùa hộ mệnh. Cứ từng chặng giao liên một, mẹ tôi lại chìa lá bùa đó ra. Địa phương lại cử dân quân dẫn đường và địu 2 em gái tôi (một lên 8 và một lên 10) đi tiếp. Tôi sẽ không kể ra đây về những ngày trèo đèo lôi suối qua Liên Khu Ba để ra Khu IV, rồi từ Khu IV ra Việt Bắc của mấy mẹ con chúng tôi vì đó là chuyện quá quen thuộc đối với bất cứ người nào đã qua hai cuộc Kháng chiến. Nhưng đối với mẹ tôi và ba anh em tôi ngày ấy là một chiến công. Tôi còn nhớ như in giây phút khi Cha mẹ tôi gặp nhau bên bờ suối ở Chiêm hoá, Tỉnh Tuyên quang, sau 7 năm xa cách. Cha tôi từ trên đồi chạy xuống còn mẹ tôi thì quay lưng đi, lội dọc theo con suối nhỏ.... Bà đã mong đợi bao lâu giây phút này nhưng khi nó đến thì bà lại không đủ can đảm để đón nhận nó. Bà đã quá mệt mỏi vì đợi chờ, vì lặn lội đường xa....vì đủ mọi gian truân vất vả không thể nào kể xiết trong những ngày xa cách.
Tiếp theo là những ngày hạnh phúc của sum họp, đoàn viên. Cha tôi mải mê với công việc chế tạo ra nước lọc Penicilline để cứu chữa những vết thương cho bộ đội ngoài mặt trận, giảng dậy cho khoá sinh viên 52 của Trường Y khoa Kháng chiến. Để được gần gũi cha tôi nhiều hơn mẹ tôi vào làm xét nghiệm viên trong phòng bào chế Penicilline của cha tôi.
Cha tôi là người Huế, thành phần Tiểu tư sản trí thức. Mẹ tôi là ngươì Huế, thành phần quan lại phong kiến. Cả hai đều đi theo Cách mạng. Khởi đầu do cha tôi trong những ngày du học ở Nhật tình cờ đọc được lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ chí Minh, bèn từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học để về nước tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc. Cha tôi đã từ Nhật bản đáp tầu thuỷ về Thái lan, tìm gặp đại diện của Chính phủ ta ỏ Bangkok để xin về nước tham gia Kháng chiến, chẳng có một tổ chức nào giới thiệu, móc nối. Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên, chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước. Biết bao vinh quang và khổ ải trên con đường đi theo lý tưởng của một người trí thức yêu nước. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người như cha mẹ tôi đã phải tự kiểm điểm những gì trong những cuộc chỉnh huấn trên Việt Bắc vào năm 1954 ? Không biết họ có phải ân hận về xuất thân thành phần giai cấp của mình để được coi là thành khẩn và điêù đó có nhọc nhằn lắm đối với cha mẹ tôi không? Những điều đó tôi hoàn toàn không được biết. Tôi chỉ được nghe kể rằng mẹ tôi chỉnh huấn rất thành khẩn, được biểu dương trong lớp, còn cha tôi thì chỉ im lặng, ít nói. Không lâu sau khi tham dự lớp chỉnh huấn đợt một thì mẹ tôi qua đời. Khi bà hôn mê, cha tôi đang tham dự lớp chỉnh huấn đợt hai. Tôi đã không có trong mặt trong giờ phút lâm chung của mẹ tôi. Lúc đó tôi đang học mãi tận Nam Ninh bên Trung quốc. Sau này tôi nghe Dì tôi kể lại rằng mẹ tôi hôn mê ba ngay ba đêm liền chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Là bác sỹ nhưng ông đành bó tay bất lực vì đã quá muộn. Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm, rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt bắc để về tiếp quản thủ đô. Đó là tổn thất lớn nhất của gia đình chúng tôi trong cuộc Kháng chiến lần thứ nhất. Những ngày sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc công việc chính của cha tôi là tiêu diệt bệnh sốt rét. Cha tôi lại lặn lội trở về với những khu căn cứ địa cũ như Tuyên quang, Thái nguyên, Bắc cạn, Lào cai... để thực hiện một chương trình chống sốt rét toàn diện và quy mô chưa từng có. Sau 10 năm thực hiện chương trình, bệnh sốt rét căn bản đã bị đẩy lùi trên Miền Bắc nước ta. Trong những ngày ấy cha tôi luôn mang trong lòng nỗi nhớ không nguôi về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình - xứ Huế. Ông luôn nuôi hy vọng trở về gặp lại Bà nội tôi, lúc đó đã cao tuổi lắm rồi, dù chỉ một lần. Nhưng đến ngày đất nước thông nhất có thể về được thì ông đã không còn. Ông đã mất trước đó 8 năm trong một trận bom B52 ở phía Tây Phong điền Tỉnh Thừa thiên. Ông cùng đồng nghiệp vào đây để nghiên cứu vacxin chống sốt rét cho bộ đội. Ông chưa tìm ra được vacxin miễn dịch sốt rét cho họ thì ông đã chia xẻ với họ cái chết. Ông nằm trên Trường sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một ngưòi lính vô danh. Người ta đưa di hài ông về Nghĩa trang liệt sỹ xã Phong Mỹ và mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới biết để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình. Sau 46 năm xa cách cha mẹ tôi cuối cùng đã về bên nhau.
Đầu Xuân Nhâm Ngọ nhà văn Nguyễn Khải từ Thành phố Hồ Chí Minh gửi bưu điện ra tặng tôi một cuốn sách mới của anh có tựa đề Sống ở đời. Lật bìa sách ở trang đầu tôi đọc giòng chữ ông viết: Rất quý mến tặng Đặng Nhật Minh một cuốn sách tôi rất thích (nhất là truyện Danh dự). Khỏi phải nói, tôi liền đọc ngay một mạch truyện Danh dự. Chuyện kể về một người hàng xóm trước đây của nhà văn trong Khu tập thể quân đội ngoài Bãi Phúc xá ven sông Hồng. Anh có tên là Quang, Thiếu tá Cục quân báo, người Huế, xuất thân từ tầng lớp thượng lưu. Cha là Bố chánh, ông nội là Thượng thư. Bản thân từng học trường giòng Providence ở Huế cho đến hết bậc tú tài. Quang tham gia cách mạng từ cuối năm 1945 làm công tác quân báo. Nhà văn Nguyễn Khải đã đem mình ra so sánh với nhân vật Quang một cách rất thật thà: ông đi bộ đội chỉ vì một tính toán rất tầm thường: không vào bộ đội sớm thì chết đói! Còn Quang nếu không đi theo Cách mạng thì vẫn là một công tử con ông cháu cha,ăn sung mặc sướng, vẫn có chỗ ngồi đàng hoàng trong xã hội cũ. Đến năm 1962 thì Quang được quân đội cho chuyển ngành sang làm công tác nghiên cứu ở Bộ Ngoại thương (chắc vì gốc gác thành phần không thích hợp cho việc tiếp tục ở lại trong quân ngũ). Nhưng rồi đến năm 1964 Quang lại được trên điều trở về lại quân đội. Anh được cử vào Nam làm nhiệm vụ của một tình báo viên cắm sâu trong lòng địch để khai thác những tin tức bí mật. Với giấy tờ giả mạo Quang vào hoạt động ở Sài Gòn. Giữa nơi đầy hiểm nguy rình rập đó Quang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình bằng sự che chở, tiếp tay của họ hàng bà con xa gần, của bạn học cũ mà tất cả đều xuất thân như anh, từ những gia đình trí thức, quan lại. Rồi Quang bị bắt và những người từng giúp anh cũng bị đưa ra tòa án binh Sài gòn trong vụ án đặc biệt xử nhóm trí thức có liên hệ với cộng sản Bắc Việt. Quang mỉm cười sau khi nghe Toà tuyên án chung thân rồi nói với phóng viên Hãng thông tấn AFP bằng tiếng Pháp: Dans deux ans je reviendrai au Dinh Độc lập (hai năm nữa tôi se trở lại Dinh Độc lập). Đọc xong truyện này tôi ngờ rắng đây là câu chuyện có thật, nhân vật Quang là nhân vật có thật. Tôi biết nhà văn Nguyễn Khải bao giờ cũng chỉ viết về những người và nhũng việc có thật. Ông không bịa được vì như ông từng nói: Thực tình người viết văn chẳng bịa được cái gì lạ hơn những biên hoá của mỗi mỗi gia đình trong hơn mười năm qua...
Tôi đem cuốn sách đến cho dì tôi đọc. Dì Toản là em mẹ tôi, từng là nữ sinh Đồng khánh, cũng thuộc tầng lớp như Quang, cũng hoạt động ở Huế. Đọc xong dì tôi cười bảo tôi: anh Quang này thì dì không biết, chắc tác giả giấu tên. Nhưng những người mà Quang móc nối để hoạt động vì để tên thật nên dì biết, họ đều là bạn của dì cả. Bây giờ họ đều sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một vài người sống ở nước ngoài.
Năm 1985 Quang về hưu, hưởng lương hưu trung tá. Đến đầu năm 1991 thì vào bệnh viện vì bị ung thư hạch. Khi nhà văn Nguyễn Khải vào thăm, ông mỉm cười tâm sự: Phận sự làm người đã xong, danh dự làm người trải qua nhiều thử thách không hề bị hoen ố, con cái đã trưởng thành, chí nguyện một đời nói cho cùng là mãn nguyện. Tiền không cần, danh không cần, còn cần gì nữa nào? Hết! Không còn gì phải tiếc nuối cả. Tôi nghĩ, cha mẹ tôi, và cả cậu tôi nữa (người cậu liệt sỹ bị giam trong xà lim ngày nào) nếu còn sống chắc họ cũng nói như vậy. Cái động lực gì đã thôi thúc những con người ấy trong cả cuộc đời, theo Nguyễn Khải ấy là Danh dự. Ông viết: Người ta sống không chỉ vì sự an toàn, mà còn phải sống trong danh dự. Không nói đén danh dự thật tình không có gì để nói để viết về con người cả, con người của hôm qua và con người của bây giờ. Có thể nói đó là Danh dự hay là Nhân cách cũng đựoc. Bởi vì có Nhân cách con người mới biết sống trong Danh dự. Nhân cách là sản phẩm của văn hoá và giáo dục. Nó không phải là sản phẩm riêng của một giai tầng nào. Nó như một loài hoa chỉ mọc trên mảnh đất được chăm bón bởi những giá trị bền vững của đạo đức.
Cách đây 6 năm có dịp sang Nhật, tôi đã lần tìm lại dấu vết của cha tôi trong những ngày du hoc tại đây. Tôi gặp được một vài người từng quen biết cha tôi như bà Seino, trợ lý cho cha tôi trong phòng thí nghiệm, Kỹ sư Lê văn Quý ở cùng một phòng trong Đông kinh học xá cùng cha tôi trong suốt 6 năm. Tôi được nghe kể rất nhiều mẩu chuyện cảm động về cha mình. Cuối cùng tôi được giơí thiệu đến gặp Giáo sư Tomio Takeuchi, Viện trưởng Viện Hoá vi sinh Tokyo. Trên đường đi bà Seino nói với tôi: Giáo sư Takeuchi là một bác học rất nổi tiếng ở Nhật. Ở Nhật bản này ông được xếp vào hạng người bất tử, nghĩa là được làm việc cho đến hết đời không phải về hưu. Giáo sư Takeuchi ân cần tiếp tôi trong phòng khách của Viện. Ông cho biết đã từng làm việc với cha tôi tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong 3 năm trước khi Nhật đầu hàng đồng minh. Rồi ông nói: Nhưng tôi chỉ là đàn em của cha anh thôi. Hồi đó cha anh đã có nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao trong giới Y học. Có một số công trình tôi viết chung với cha anh, nhưng tên ông bao giờ cũng để trên tên tôi. Ông là bậc đàn anh của tôi. Công việc nghiên cứu của ông đang tiến triển rất thuận lợi, không hiểu sao ông lại bỏ dở tất cả để về nước. Sau này nghe tin ông mất chúng tôi rất thương tiếc..... Giáo sư kể tiếp: Mà cũng lạ. Hồi ấy người Mỹ cũng đã bất đầu biết đến cha anh, mời cha anh cộng tác với họ, nhưng rồi cha anh cũng từ chối. Tôi nghĩ ông có điều gì thôi thúc lắm ở bên trong. Tôi nghĩ thầm: Giáo sư không hiểu tại sao cha tôi lại bỏ tất cả để về nước ư? Thưa Giáo sư, là vì cha tôi không muốn làm nguời đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc mình. Nhân cách của cha tôi không cho phép ông làm như vậy. Ông cũng biết rằng nếu ông tiếp tục ở lại Nhật bản làm việc cùng giáo sư thì con đường khoa học của ông hẳn cũng rực rỡ như của giáo sư bây giờ. Nhưng ông đã chọn cho mình con đường khác, và đó có lẽ là một đặc điểm nổi bật nhất của người trí thức Viêt Nam.
Năm nào tôi cũng về Huế thăm gia đình. Mỗi lần về anh chị tôi đều dành cho tôi cả căn gác trên tầng 2 để nghỉ ngơi. Nơi đó trước đây là nơi ở của ông bà nội tôi, rồi đến vợ chồng ông Bác, anh cả của cha tôi. Căn gác bây giờ chỉ dành làm nơi thờ cúng. Nằm một mình trong đêm yên tĩnh, tôi có cảm giác như đang nằm giữa những ngưòi thân đã khuất. Nhưng họ không ngủ, mà cứ mở mắt chong chong nhìn tôi từ những khung ảnh trên bàn thờ. Trong cái không gian sâu thẳm đó, tôi bỗng nhận ra sự nhiệm mầu của mảnh đất này - xứ Huế. Ngoài kia, sông An cựu vẫn thao thức chẩy........
Đã đăng trên Tạp chí Sông Hương số 161, tháng 7/2002
Theo viet-studies
Đặng Nhật Minh
Đặng Nhật Minh (sinh năm 1938) là đạo diễn nổi tiếng của nền điện ảnh Việt Nam với những bộ phim như Cô gái trên sông, Thương nhớ đồng quê, Mùa ổi... Đặc biệt với phim Bao giờ cho đến tháng Mười được nhiều hãng thông tấn đánh giá là một trong những phim hay nhất châu Á mọi thời đại. Hầu hết các bộ phim do ông làm đạo diễn đã đoạt nhiều giải thưởng tại các liên hoan phim trong và ngoài nước. Ông từng giữ chức vụ tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam và được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Năm 2007, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh chuyên ngành điện ảnh.
Đặng Nhật Minh sinh năm 1938 tại Huế. Thân phụ ông là bác sĩ Đặng Văn Ngữ nên ông đã có ý định theo học ngành y để nối nghiệp cha. Tuy nhiên ông lại chỉ bắt đầu công việc bằng vai trò biên dịch cho các phim nói tiếng Nga, rồi đến phiên dịch cho các lớp đào tạo điện ảnh của Liên Xô dành cho người Việt. Đến năm 1965, ông bắt đầu làm bộ phim đầu tay, một bộ phim tài liệu về các kĩ sư địa chất.Năm 2007, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh chuyên ngành điện ảnh.[1] Trước đó, năm 1996, thân phụ ông cũng được truy tặng Giải thưởng này trong lĩnh vực Y học. Đây là trường hợp rất hiếm có cho đến nay của lịch sử giải thưởng cao quý này.
Năm 2009, phim Đừng đốt do ông đạo diễn nói về liệt sĩ Đặng Thùy Trâm công chiếu tại liên hoan phim quốc tế thường niên lần thứ 19 diễn ra ở Fukuoka, Nhật Bản đã đoạt được giải do khán giả bình chọn. Bộ phim này cũng đã được công chiếu vào cuối tháng 4 tại Việt Nam và liên hoan phim quốc tế ASEM tại Hà Nội vào giữa tháng 5.[2]
Tham khảo
- Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh
- ^ Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật năm 2007, VietNamNet, 13 tháng 2 năm 2007
- ^ Đừng đốt đoạt giải tại LHP Fukuoka trên vnexpress
- Đặng Nhật Minh trên Internet Movie Database
- Đặng Nhật Minh
- NSND Đặng Nhật Minh giản dị mà bí ẩn
