Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ


DẠY VÀ HỌC. Đề nghị có một tảng đá văn hóa đặt ở công viên Tao Đán để ghi ơn ông Alexandre de Rhodes, người phát minh ra chữ Quốc ngữ, báu vật vô giá muôn đời của dân tộc Việt Nam . Ông Alexandre de Rhodes là người gốc Do Thái, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon trong gia đình một nhà buôn tơ lụa. Ông là nhà ngôn ngữ học thông thạo nhiều thứ tiếng nên đã "lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng Việt". Ông cũng là một trong những linh mục dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo công giáo Việt Nam từ năm 1626: Đến nay, đã 66 năm sau ngày chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và vận động toàn dân học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ, 36 năm sau ngày Việt Nam thống nhất . Đây có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong đặt tảng đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ, ông Alexandre de Rhodes

Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ

Theo tiến sĩ Alain Guillemin, Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp, bản dịch của Ngô Tự Lập đăng tại Viet- Studies 2011, Alexandre de Rhodes đến Hội An khoảng tháng 3 năm 1626. Sau đó đã cùng giáo sĩ dòng Tên Pedro Marques đến Thanh Hóa để giúp đỡ giáo sĩ dòng Tên người Ý Giuliano Baldinotti vốn gặp khó khăn trong việc học tiếng địa phương. Việc giảng đạo này chẳng bao lâu bị gián đoạn vì tin đồn rằng họ làm gián điệp. Alexandre de Rhodes bị chúa Trịnh Tráng quản thúc tại Hà Nội vào tháng Giêng 1630, sau đó bị trục xuất vào tháng 5 năm 1630. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes không thể quay lại Nam Kỳ, vì có thể bị nghi là gián điệp của Đàng Ngoài, nên đã trở lại Macao, nơi ông đã dạy thần học gần 10 năm trước. Trong khoảng thời gian 1640 -1645, ông đã dẫn đầu bốn chuyến đi đến Nam Kỳ, hầu hết các chuyến đi này đều trong sự bí mật vì sự thù ghét của chính quyền địa phương. Ông đã bị trục xuất khỏi Nam Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1645, sau đó đến Macao dạy tiếng Việt cho những người kế nhiệm là Carlo della Roca và Metello Sacano trước khi về lại nước Ý.

Khái quát bối cảnh Việt Nam thời đó: Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim , ở Đằng Ngoài, năm đinh mão 1627, chúa Trịnh Tráng nhân khi nhà Minh đang chống nhau với nhà Thanh, họ Mạc ở Cao Bằng thì về hàng, nên đã kiếm cớ xuất quân đánh chúa Nguyễn ở phương Nam lần thứ nhất. Đến năm 1630 chúa Trịnh Tráng xuất quân đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên lần thứ hai sau khi chúa Nguyễn theo kế Đào Duy Từ, trả lại sắc phong cho vua Lê, chiếm nam sông Giang, đắp lũy Trường Dục để chống quân Trịnh . Ở Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã bình định xong Chiêm Thành, đang bảo hộ Chân Lạp. Vùng đất Nam bộ lúc đó nằm trong sự tranh chấp Xiêm Nguyễn. Nước Xiêm La (Thái Lan ngày nay) vua Phra Naroi dòng dõi nhà Ayouthia đang chiếm cứ phần lớn đất Chân Lạp, đã dùng một người Hi Lạp làm tướng. Người này xin vua Thái giao thiệp với nước Pháp, do đó năm 1620 sứ thần của Xiêm La đã sang bái yết vua Pháp Louis XIV ở điện Versailes. Các giáo sĩ người Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng đang tranh giành ảnh hưởng theo ý đồ chính trị của mỗi nước thực dân tìm kiếm thuộc địa. Nhiều thế lực thực dân phương Tây và phong kiến phương Đông chăm chú nhiều đến vùng đất phương Nam ( HK chủ dẫn).

Tại Roma, Alexandre de Rhodes báo cáo tinh hình cho Vatican, đề xuất hỗ trợ thành lập hội truyền giáo và vận động bổ nhiệm giám mục địa phương cho Đằng Ngoài và Đằng Trong. Ông rời Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 đến Thụy Sĩ và Pháp để tìm người và kinh phí cần thiết cho sự truyền giáo ở Việt Nam, Tại đây ông đã gặp giáo sĩ dòng Tên Jean Bagot, vị cha cố có quan hệ rất rộng trong giới cầm quyềnn và là người đã từng làm lễ xưng tội cho vua Louis XIV, Ông tuyển mộ trong số các môn đệ của Cha Bagot một số tình nguyện viên đi Bắc Kỳ và Nam Kỳ, đặc biệt trong đó có François Pallu, người sẽ là một trong ba khâm mạng Tòa thánh được Giáo Hoàng bổ nhiệm năm 1658 cho các sứ mệnh ở châu Á, đây cũng là hành động khởi đầu cho việc thành lập Hội truyền giáo hải ngoại Paris (MEP). Ông cũng xin được kinh phí cho Hội Ái hữu (SS), Do sự bất hòa giữa Giáo Hoàng, vua Bồ Đào Nha và các tổ chức truyền đạo nên ông bị thất sủng và được gửi đến Ba Tư vào tháng 11 năm 1654 và qua đời tại đây vào tháng 11 năm 1660.

Alexandre de Rhodes thông thạo nhiều thứ tiếng . Ông biết 12-13 thứ tiếng: ngoài tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ Provencal Ông thông thạo tiếng Latin, Hy Lạp, Italia, Do Thái, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Canarin, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư và tiếng Việt. Ông rất khiêm tốn và ham học hỏi. Ông nói "Thú thật là khi tôi đến Nam Kỳ và nghe tiếng nói của người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, tôi cảm thấy như nghe tiếng chim hót líu lo và tôi mất hết hy vọng có ngày học được thứ tiếng ấy.". "Tôi ghi lòng tạc dạ việc này: Tôi học hàng ngày chăm chỉ hệt như trước đây học thần học ở Roma,...sau bốn tháng, tôi đã có thể nghe hiểu những lời xưng tội, sau sáu tháng, có thể giảng đạo bằng tiếng Nam Kỳ,...". Chính vì thế ông đã " lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa..." của ngôn ngữ người Việt

Hai cuốn sách của ông xuất bản ở Roma năm 1651 ( Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum” và “Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum) là hai tác phẩm nền tảng, không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc ký âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hình trạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó. Một cuốn sách khác của ông (cuốn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”) có phần tóm tắt ngữ pháp 31 trang ở cuối, đã "đưa ra một tổng quan vắn tắt ...để bàn đến vấn đề từ loại trong tiếng Việt." bao gồm: Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1); Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2); Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3); Đại từ (Chương 4); Các đại từ khác (chương 5); Động từ (Chương 6); Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7); Một số thành tố của cú pháp (Chương 8). Đây là đóng góp đặc sắc của ông.không thể thay thế.

Giáo sĩ Lèopold Cadière, người rất am hiểu vấn đề đã viết về ông: "Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam, phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông... Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục, tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác... Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảm bảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ông hiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp An Nam" (Cadière, 1915, tr. 238-39 được trích dẫn bởi Alain Guillemin ) Alexandre de Rhodes bám rất sát thực tiễn ngôn ngữ của người Việt trong các tầng lớp xã hội khác nhau và đã phát triển hệ thống chữ Việt dùng chữ cái trên cơ sở kế thừa nhiều công trình trước đó, trong đó có cả di sản tiếng Nôm. Trên thực tế sự sáng tạo chữ Quốc ngữ là tinh hoa trí tuệ của rất nhiều người mà công đầu là Alexandre de Rhodes.

Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ

Sau Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ đã nêu ra "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa": "Môt là, nhân dân đang ĐÓI. Vấn đề thứ hai, nạn DỐT. Vấn đề thứ ba TỔNG TUYỂN CỬ. Vấn đề thứ tư giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH. Vấn đề thứ năm: bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, CẤM HÚT THUỐC PHIỆN. Cấn đề thứ sáu tuyên bố TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết." Trong nhiệm vụ cấp bách thứ hai, Bác chỉ rõ: "Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch đế chống nạn mù chữ "

Tiếng Việt và chữ quốc ngữ lại lợi khí quốc gia giúp cho một dân tộc nhỏ yếu vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, đào tạo nên hàng triệu người dân thường gánh vác việc nước. Điều này đã thể hiện rõ trong Võ Nguyên Giáp một cuộc đời khi ông trả lời Alanh-Rut xi ô :"Học thuyết quân sự cổ điển, khoa học quân sự truyền thống dạy rằng muốn giành thắng lợi, phải biết tập trung cùng một lúc ưu thế quân số và ưu thế kỹ thuật. Ông có thể thấy điều đó ở Na-pô-lê-ông. Thế nhưng chúng tôi lại ở vào tình thế phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Chúng tôi phải chấp nhận, nếu không Tổ quốc chúng tôi sẽ bị thôn tính. Vậy đương đầu như thế nào? Đó là chiến tranh toàn dân. Chiến tranh toàn dân là bí quyết của sự chiến thắng của chúng tôi..."

Trên thế giới có lẽ hiếm có nước nào xóa nạn mù chữ toàn dân nhanh đến như vậy, hiếm có một dân tộc nào vùng dậy mạnh mẽ như vậy nên đã làm cho một danh tướng của đối phượng đã phải thốt lên "một quân đội có thể đánh bại một quân đội. Một quân đội không thể đánh thắng một dân tộc. Gần 70 năm nhìn lại, bài học về Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ vẫn nóng hổi tính thời sự (đón đọc loạt bảy bài liên quan: 130 năm thăng trầm chữ Việt). Chữ Quốc ngữ đúng là lợi khí quốc gia "Sinh tử phù" mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, mất gốc. Trên ý nghĩa đó, chúng ta nên gạn đục khơi trong, trả lại sự công bằng cho người đã có công phát minh chữ quốc ngữ
Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ ?

Tháng 5 năm 1941, chính quyền thực dân dựng một đài tưởng niệm tại một góc nhỏ phía Đông Bắc hồ Hoàn Kiếm, cạnh đền Bà Kiệu. Đó là một tấm bia đá cao 1,7m, rộng 1,1m, dày 0,2m, trên có khắc, bằng các thứ chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp, công đức của linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes. Tin này được tờ «Tân Tri», số 13 Tháng 6 năm 1941, thông báo như sau: "…Ông Alexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà Thành trong lễ khánh thành đài kỷ niệm ông. Buổi lễ được tổ chức trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động…Ngày nay, chữ Quốc ngữ được coi là rường cột của tiếng ta, đó là lý do vì sao chúng ta không thể không cảm ơn chân thành người đã phát minh ra nó, ông Alexandre de Rhodes."

Những năm tháng chiến tranh khi đất nước chưa có độc lập và thống nhất toàn vẹn, tấm bia đá đã bị gỡ bỏ như là việc chối bỏ sự lợi dụng khai hóa văn minh để áp đặt sự thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác .Đến những năm 1980, tại khoảng không gian tưởng niệm dành cho Alexandre de Rhodes mọc lên một tượng đài cách mạng trắng tinh khôi tuyệt đẹp, tôn vinh những người yêu nước: ba pho tượng người chiến sĩ cỡ lớn, một trong số đó là phụ nữ. Trên bệ, có dòng chữ: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh." . Đó đã là điều khẳng định lý tưởng:"Không có gí quý hơn độc lập, tự do" Tổ Quốc Việt Nam hồi sinh bởi hàng triệu con dân Việt đã "xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ".

Năm 1993, Giáo sư Nguyễn Lân đã nhắc đến đài tưởng niệm giáo sĩ người Pháp. Theo ông, đáng lẽ không nên gỡ bỏ đài kỷ niệm ấy. “Hành động này cho thấy một nhận thức thiển cận, sự thiếu hiểu biết về lịch sử và, dù sao đi chăng nữa, cũng không xứng đáng với truyền thống của dân tộc ta. Alexandre de Rhodes, chẳng phải là ông đã làm việc cho người Việt Nam hay sao? Chữ Quốc ngữ, thứ chữ dễ học hơn nhiều so với chữ tượng hình, đã giúp phần lớn dân chúng tiếp cận tri thức và thông tin... Và nhà truyền giáo cũng là một nhà nhân văn chủ nghĩa, gần gũi với dân chúng.". Nay có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong đặt hòn đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ: Alexandre de Rhodes




Tôi đề nghị dựng lại bia của ông Alexandre de Rhodes ở công viên Tao Đàn, Hà Nội (theo ý kiến của GS. Nguyễn Lân) và đặt tảng đá tưởng niệm tại công viên Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh (tương tự như tảng đá Bill Clinton tại Quế Lâm - hình trên) và nếu có thể tại vườn đá Huế.

Tài liệu tham khảo chính

1) Alain Guillemin 2011. ALEXANDRE DE RHODES CÓ PHÁT MINH RA CHỮ QUỐC NGỮ? TS. Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Bản dịch của Ngô Tự Lập . Viet-Studies.info
2. Hồ Chí Minh 1945. Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia Hà Nội năm 2002 trang 1-3
3. Trần Trọng Kim 1921 Việt Nam sử lược. Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin 1999 trang 318-320.


Đọc thêm:
Loạt bài liên quan trên báo Tuổi Trẻ
130 NĂM THĂNG TRẦM CHỮ VIỆT

1. Hai thế kỹ và một quyết định (16 12 2011)
2. Ai học chữ Việt đầu tiên? (20.12.2011)
3. Cưỡng bách và phản kháng (21.12.2011
4. Bước ra khỏi giáo hội (22.12.2011)
5. Báo chí tiên phong (23.12.2011)
6. Ngọn lửa Đông Kinh nghĩa thục (24.12.2011)
7. Quốc ngữ của một nước độc lập (25.12.2011)

Trở về trang chính
Dạy và học BlogtiengViet
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Ảnh Gia đình Nông nghiệp



GIA ĐÌNH NÔNG NGHIỆP. Cựu sinh viên khóa hai họp mặt kỷ niệm ba mươi năm sau ngày ra Trường . Xin giới thiệu một chùm ảnh






































































http://dayvahoc.blogspot.com



Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam




- Kính chào quý Thầy Cô Trường Đại Học Nông Lâm và các vị khách quý !
- Kính chào các bạn cựu sinh viên khóa 2 các khoa Trồng trọt, Chăn nuôi Thú y, Kinh tế, Cơ khí, Thủy sản, Lâm nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp 4 tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; kết quả đào tạo đầu tiên của nền giáo dục nông nghiệp Việt Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.
- Kính chào đại gia đình Nông Lâm, nơi ươm mầm xanh của nghề nông!


Ba mươi năm sau ngày ra Trường, chúng ta như những cánh chim bay khắp bốn phương trời, hôm nay đoàn tụ về đây để cùng nhau nhớ về một thời tuổi trẻ, xúc động hướng về mái trường thân yêu, bày tỏ lời tri ân Thầy Cô, trao đổi tâm tình, lưu lại kỹ niệm ngày vui, tặng quà Thầy Cô và bạn hữu, liên hoan văn nghệ và dùng cơm thân mật. Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam!

Trân trọng kính mời Thầy Hiệu Trưởng nói Lời Chào Mừng mở đầu họp mặt!

Anh Hoàng Mạo và chị Thanh Tuyền đã dẫn chương trình cho HỌP MẶT KỸ NIỆM BA MƯƠI NĂM NGÀY RA TRƯỜNG CỦA CỰU SINH VIÊN KHÓA 2 ĐAI HỌC NÔNG NGHIỆP 4. tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Chào mừng quý Thầy Cô, các vị khách quý và các bạn đã về điểm hẹn. Trên ghế danh dự có Thầy Hiệu Trưởng đầu tiên sau ngày Việt Nam hoàn toàn thống nhất cùng với các Thầy Hiệu Trưởng kế tiếp và đương nhiệm cùng đại diện những Thầy Cô trong Ban Giảng Huấn của các Khoa từ những năm 1975-1981. Cám ơn tất cả các bạn. Cám ơn gia đình nông nghiệp. Cám ơn Ban Tổ Chức và toàn thể chúng ta đã chung vui tạo nên buổi họp mặt này.

Thật xúc động tự hào ba mươi năm nhìn lại. Bác Hồ có nói:"Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người". Ba mươi năm sau ngày khởi nghiệp là mốc thời gian hợp lý để chúng ta nhìn lại những việc đã làm sau khi học. Chúng ta là kết quả đào tạo đầu tiên của nền giáo dục nông nghiệp Việt Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Giá trị cao quý của con người là tình yêu thương, sự phúc hậu và thung dung thanh thản. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mầy làm nên.” “Giàu vì bạn, sang vì vợ.” Bill Clinton trong trang nhất của tác phẩm ‘Đời tôi’đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy bạn là lộc xuân của cuộc đời.

Nông nghiệp đất phương Nam có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước. Đây là vùng cây lương thực lúa, bắp, khoai mì và tinh bột lớn nhất nước, vùng trái cây rau hoa quả, cà phê, cao su, tiêu , mía và nông sản hàng hóa chủ lực của Việt Nam. Thủy sản, chăn nuôi thú y, kinh tế nông nghiệp, cơ khí nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh doanh dịch vụ tổng hợp trên nền an sinh xã hội bền vững và khai thác lợi thế cạnh tranh đều có những ưu thế nổi bật. Thành phố Hồ Chí Minh là điểm hội tụ rất thuận lợi. Sự họp mặt 30 năm sau ngày ra Trường của khóa 2 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một sự gợi mở để tiếp nối không chỉ là họp mặt mà là Gia đình nông nghiệp đoàn tụ đất phương Nam

Gia đình nông nghiệp http://giadinhnongnghiep.wordpress.com là sự Nối vòng tay lớn TRƯỜNG ĐAI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH với các khóa anh chị trước ngày Việt Nam thống nhất. Mục đích của trang này nhằm kết nối thông tin THÂY CÔ VÀ CÁC BẠN LỚP, KHOA, TRƯỜNG (số điện thọại , địa chỉ, email, …) để giao lưu học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Trang này liên kết với http://hcmuaf.edu.vn, http://dayvahoc.blogspot.com cùng với các trang web chuyên ngành nông nghiệp và các blog cá nhân (The Gift của Giáo sư Tôn Thất Trình, Ngọc phương Nam, Dạy và học của chủ bút quản trị mạng với những trang khác).

Mọi liên hệ xin gửi về Trưởng ban liên lạc: chị Nguyễn Thị Kim Dung, hiện công tác ở tòa soạn báo Tuổi trẻ (cựu lớp trưởng Trồng trọt A khóa 2), số điện thoại 0903 92 66 55, email kimdung2311@yahoo.com , địa chỉ 60A Hoàng Văn Thụ, thành phố Hồ Chí Minh. Hình ảnh hoặc băng video hoặc bài cần đăng xin vui lòng gửi về hoangkim-vietnam@yahoo.com . Trân trọng cám ơn tất cả.






































































http://www.blogger.com/img/blank.gif



Hoàng Kim

Do điều kiện giới hạn nên trang mạng bước đầu chỉ mới có hình ảnh chụp được từ góc hẹp máy cá nhân. Kính mời Thầy Cô và các bạn gửi thêm hình ảnh, video của các máy khác để có góc nhìn toàn diện hơn.

NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC