Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Vĩnh biệt Thầy Đào Thế Tuấn


DẠY VÀ HỌC. Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011. Lễ viếng ngày 22/1/2011 từ 11h30 đến 13h30 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tôn Hà Nội. Lễ truy điệu vào hồi 13h30 cùng ngày tại Nhà hóa thân hoàn vũ Văn Điển. Xin thành kính thắp nén tâm hương vĩnh biệt người Thầy đầu ngành về phát triển nông nghiệp bền vững, sinh thái nông nghiệp, sinh lý cây lúa, chuyển đổi mùa vụ. Di sàn của Thầy thật xứng đáng với cụ Đào Duy Anh và dòng họ Đào .

Tóm tắt cuộc đời

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh ngày 4 tháng 7 năm 1931 tại TP. Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Giáo sư là con trai trưởng của cụ Đào Duy Anh, học giả bách khoa toàn thư nổi tiếng thời hiện đại, hậu duệ của một dòng họ lỗi lạc trong lịch sử.

Giáo sư  là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.Từ tháng 8/1953 đến cuối năm 1958, Thầy vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học vừa học chuyển tiếp sinh và bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.. Cuối năm 1958 Thầy về nước và làm giảng viên sinh lý thực vật kiêm trưởng phòng khoa học của Học viện Nông Lâm. Sau nhiều năm làm việc miệt mài, với hàng trăm công trình nghiên cứu  về sinh thái nông nghiệp, sinh lí cây lúa, chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng,, giáo sư Đào Thế Tuấn trở thành chuyên gia khoa học hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông thôn. người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông.

Giáo sư Đào Thế Tuấn là Phó Viện trưởng (1976), Viện trưởngViện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1983). Phó Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về Phát triển nông thôn KX-08 (1990). đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên 60 năm tuổi đảng;  giáo sư năm 1985, thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô  (1985); Huân chương Công trạng nông nghiệp hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba, Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng Hai của Pháp (1991); Huân chương Chiến thắng Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Hai. Anh hùng Lao động do Đảng và Nhà nước Việt Nam phong tặng (2000); Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003); Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (2005); Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Chính phủ Pháp trao tặng (2009).
Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là tấm gương mẫu mực của một nhà khoa học chân chính, suốt đời gắn bó với nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

Tác phẩm chọn lọc

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững
An ninh lương thực cần một chiến lược dài hạn
1 triệu ha lúa lai chạy theo số lượng sẽ lĩnh hậu quả xấu
Đào Thế Tuấn 1986. Chiến lược phát triển nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, 115 trang
Đào Thế Tuấn 1984. Hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Khoa học và kỹ thuật, 174 trang
Đào Thế Tuấn, Phạm Đình Vụ 1978. Kỹ thuật trồng ngô vụ đông. NXB Nông nghiệp, 67 trang
Đào Thế Tuấn.1977. Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý. NXB Nông nghiệp, 131tr.
Đào Thế Tuấn 1975. Cuộc cách mạng về giống cây trồng NXB Khoa học và kỹ thuật, 127 trang
Đào Thế Tuấn, 1970. Sinh lí của ruộng lúa năng suất cao. NXB Khoa học và kỹ thuật, 355 trang.
Đào Thế Tuấn 1969. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.NXB Nông thôn,75tr
Đào Thế Tuấn 1969. Đời sống cây trồng. NXB Khoa học, 152 trang.

Tâm hương đưa tiễn 

Vĩnh biệt GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà trí thức của nông nghiệp, nông dân và nông thôn  (VAAS)
Một trí thức lớn đã ra đi (GS. Tương Lai)
Vĩnh biệt GS.VS, anh hùng nông học Đào Thế Tuấn  ( VEF- Vũ Trọng Bình)
Tưởng nhớ GS Đào Thế Tuấn, nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu  (Báo NNVN- TS. Lê Hưng Quốc)
GS. Đào Thế Tuấn - Con Người tuyệt đẹp (Báo Tia Sáng - TS. Đặng Kim Sơn)

Đôi lời tưởng niệm

Cháu tâm đắc với Đặng Kim Sơn , người bạn nghiên cứu sinh thân thiết cùng khoá: " Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn - Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp.".

Kính Thầy.

Hoàng Kim

(*) Lời Thầy nóng hổi tính thời sự

ĐÀO THẾ TUẤN CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY

Mai Văn Quyền, Hoàng Kim

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam, là người bạn thân thiết của nhà nông. Di sản của Thầy là con người và trí tuệ minh triết phát triển nông nghiệp bền vững, sinh thái nông nghiệp, sinh lý cây lúa, chuyển đổi mùa vụ, lời tâm huyết còn mãi với thời gian. Lời của Thầy nhắc chúng ta nhớ lại những quyết sách cực kỳ quan trọng của cụ Đào Duy Từ, và những nhận định tuyệt vời của nhà sử học bách khoa toàn thư Đào Duy Anh. 

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam viết về giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”. Đọc tiếp … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-the-tuan-chan-dung-nguoi-thay/

ĐÀO THẾ TUẤN TÓM TẮT CUỘC ĐỜI

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh ngày 4 tháng 7 năm 1931 tại TP. Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Giáo sư là con trai trưởng của cụ Đào Duy Anh, học giả bách khoa toàn thư nổi tiếng thời hiện đại, hậu duệ của một dòng họ lỗi lạc trong lịch sử. Mẹ của giáo sư là bà Trần Như Mân một nhà giáo và hoạt động xã hội.  Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội.

Giáo sư là tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam được Liên Xô đào tạo.Từ tháng 8/1953 đến cuối năm 1958, Thầy vừa hoàn thành chương trình kỹ sư nông học vừa học chuyển tiếp sinh và bảo vệ thành công luận án tiến sỹ nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.. Cuối năm 1958 Thầy về nước và làm giảng viên sinh lý thực vật kiêm trưởng phòng khoa học của Học viện Nông Lâm. Sau nhiều năm làm việc miệt mài, với hàng trăm công trình nghiên cứu về sinh thái nông nghiệp, sinh lí cây lúa, chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng,, giáo sư Đào Thế Tuấn trở thành chuyên gia khoa học hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông.

Giáo sư Đào Thế Tuấn là Phó Viện trưởng (1976), Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1983). Phó Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về Phát triển nông thôn KX-08 (1990), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên 60 năm tuổi đảng; giáo sư năm 1985, thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô (1985); Huân chương Công trạng nông nghiệp hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba, Huân chương Cành cọ Hàn lâm hạng Hai của Pháp (1991); Huân chương Chiến thắng Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Hai. Anh hùng Lao động do Đảng và Nhà nước Việt Nam phong tặng (2000); Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003); Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (2005); Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Chính phủ Pháp trao tặng (2009).

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là tấm gương mẫu mực của một nhà khoa học chân chính, suốt đời gắn bó với nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

ĐÀO THẾ TUẤN TÁC PHẨM CHỌN LỌC

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững
An ninh lương thực cần một chiến lược dài hạn
1 triệu ha lúa lai chạy theo số lượng sẽ lĩnh hậu quả xấu
Hỗ trợ tổ chức sản xuất nông nghiệp miền Bắc Việt Nam (Nhà xuất bản Nông nghiệp, năm 2000)
Ứng dụng phương pháp mô hình hoá toán học để xây dựng quy trình kỹ thuật trồng lúa cho cấp huyện
Công nghệ sản xuất lúa ở ĐB sông Hồng
Hệ thống nông nghiệp phát triển bền vững
Đào Thế Tuấn 1997. Kinh tế hộ nông dân. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Đào Thế Tuấn 1986. Chiến lược phát triển nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, 115 trang
Đào Thế Tuấn 1984. Hệ sinh thái nông nghiệp. NXB Khoa học và kỹ thuật, 174 trang
Đào Thế Tuấn, Phạm Đình Vụ 1978. Kỹ thuật trồng ngô vụ đông. NXB Nông nghiệp, 67 trang
Đào Thế Tuấn.1977. Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý. NXB Nông nghiệp, 131 trang
Đào Thế Tuấn 1975. Cuộc cách mạng về giống cây trồng NXB Khoa học và kỹ thuật, 127 trang
Đào Thế Tuấn, 1970. Sinh lí của ruộng lúa năng suất cao. NXB Khoa học và kỹ thuật, 355 trang.
Đào Thế Tuấn 1969. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý ở hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.NXB Nông thôn,75 trang
Đào Thế Tuấn 1969. Đời sống cây trồng. NXB Khoa học, 152 trang.
Tâm hương đưa tiễn có chứa đựng nhiều thông tin liên quan
Vĩnh biệt GSVS Đào Thế Tuấn: Nhà trí thức của nông nghiệp, nông dân và nông thôn (VAAS)
GS – VS Đào Thế Tuấn: Nhà tri thức lớn của nông nghiệp, nông thôn (CAND –  PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ)
Vĩnh biệt GS.VS, anh hùng nông học Đào Thế Tuấn ( VEF- Vũ Trọng Bình)
Tưởng nhớ GS Đào Thế Tuấn, nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu (Báo NNVN- TS. Lê Hưng Quốc)
GS. Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp (Báo Tia Sáng – TS. Đặng Kim Sơn)
Vĩnh biệt Thầy Đào Thế Tuấn (Blog Dạy và Học – TS Hoàng Kim)
GS-VS Đào Thế Tuấn: Anh hùng nông học giữa Hà thành (Báo Thể thao và Văn Hóa – Nguyễn Yến)

LỜI TÂM HUYẾT CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững


Đào Thế Tuấn
Viện sĩ, Chủ tịch Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

“Ở nước ta, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có đạt được sự tăng trưởng cao chưa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách thành công được.


1 – Vấn đề nông nghiệp

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nông nghiệp nước ta đã phát triển tương đối tốt. Đặc biệt, chúng ta xuất khẩu được nhiều nông sản trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới đang tăng. Tuy nhiên, thực tế không hẳn là như vậy, vẫn còn nhiều bất cập khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của nông nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm. Thực tế cho thấy, Hoa Kỳ và Pháp, hai nước có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại, các nước Đông Á, vốn được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp song song với công nghiệp hóa, thì hiện nay phải nhập khẩu lương thực và nông sản ngày càng nhiều, vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng(1). Việc các nước đã phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều làm cho các nước đang phát triển gặp không ít khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.
Các nước đang phát triển hiện nay có dư lượng lao động nông thôn quá cao, và ngày càng tăng. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo vào năm 2020, nông nghiệp trong GDP còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%. ở nước ta, theo dự báo của chúng tôi, cũng vào năm ấy, nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%, lao động nông nghiệp vẫn còn 23%. Như vậy, ngay khi đã công nghiệp hóa thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn còn cao, về thực chất vẫn còn là nước công – nông nghiệp. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng việc phát triển nông nghiệp, mà phải coi nó như một trong những mục tiêu trọng tâm của phát triển kinh tế.
Vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta sau thời kỳ đổi mới là chất lượng nông sản còn thấp, vì chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, quy mô sản xuất nhỏ nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng cách phát triển các sản phẩm có xuất xứ địa lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm quốc tế và sản phẩm hữu cơ. Để làm được việc này, cần xây dựng một thể chế quản lý chất lượng nông sản đi đôi với việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản.
Thể chế thị trường nông sản, nếu chủ yếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp theo kiểu hợp đồng nông nghiệp sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông. Nông dân, những người sản xuất trực tiếp vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này, phải phát triển các hợp tác xã bao gồm cả hoạt động chế biến và buôn bán, lưu thông thì việc phân phối thu nhập mới được công bằng. Nhà nước không thể trợ giúp nông dân thông qua các doanh nghiệp nhà nước, vì thu lợi nhuận là mục tiêu chính và trước hết của doanh nghiệp, bởi vậy, phải thực hiện các hỗ trợ của Nhà nước thông qua các dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ công phục vụ phát triển nông nghiệp còn yếu, đặc biệt các hộ nghèo ít được hưởng lợi. Chúng ta đã xây dựng được một số hệ thống cung cấp dịch vụ công do các tổ chức nông dân thực hiện cùng với Nhà nước và thị trường, cho phép nâng cao hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ cho nông dân, tới đây cần nhân rộng các mô hình này.
Một vấn đề khác là, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp đang tăng mạnh, giá nông sản không theo kịp, nông dân không còn hăng hái với sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đang bỏ ra đô thị kiếm việc làm, lao động nông nghiệp đang bị nữ hóa, già hóa và chuyển từ thâm canh sang quảng canh, chăn nuôi và nghề phụ đang bị giảm sút… Giá một số nông sản như lúa mì, ngô, đậu tương đang tăng rất nhanh trên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để phát triển sản xuất trong nước. Nông thôn đang có xu hướng quay trở về độc canh cây lúa, từ bỏ việc đa dạng hóa sản xuất. Trong điều kiện này, chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếu biện pháp để tăng năng suất lao động. Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực và thực phẩm như các nước công nghiệp mới ở Đông á và Đông – Nam á. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, trong thế kỷ XXI, thế giới sẽ thiếu lương thực, đây có phải là một thời cơ cho chúng ta phát triển nông nghiệp không?
Khoa học – kỹ thuật phục vụ nông nghiệp nước ta chưa phát triển. Các câu hỏi của công nghệ nông nghiệp thế kỷ XXI như vấn đề hướng công nghệ sinh học bảo đảm các nguy cơ đối với sức khỏe của con người và môi trường, vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự báo sẽ chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới, vấn đề phòng chống hiện tượng nóng lên của khí quyển, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng – vốn được coi là những vựa lúa của nước ta, vấn đề nông nghiệp chính xác áp dụng công nghệ định vị, vấn đề nông nghiệp thẳng đứng hay không đất để giải quyết vấn đề thiếu đất và bảo vệ môi trường…., hầu hết vẫn chưa tìm được câu trả lời.
Các vấn đề biến đổi khí hậu và rủi ro trong nông nghiệp ngày càng tăng, mà chúng ta chưa có các biện pháp bảo vệ nông nghiệp, chống thiên tai và rủi ro. Hệ thống bảo hiểm chống thiên tai và rủi ro mặc dù phức tạp, nhưng không phải không có cách thực hiện được.
Chúng ta cũng chưa có một chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào trong điều kiện đất ít, người đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp.

2 – Vấn đề nông dân

Một thực tế là, nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn rất cao. Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách cơ bản như: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trường.
Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cư ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử như “công dân loại hai”, mặc dù họ là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới. Chưa có một quy hoạch chuyển đổi cơ cấu lao động, rút lao động ra khỏi nông thôn và nông nghiệp. Nông dân tham gia thị trường lao động nhưng không được đào tạo nghề, không được Nhà nước hỗ trợ như trước kia đã làm trong các chương trình kinh tế mới. Do vậy, cần có một hệ thống biện pháp đồng bộ giúp đào tạo nông dân, đó chính là biện pháp để xây dựng giai cấp công nhân mới. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cho lớp người này không trở thành “vô sản lưu manh”, kéo theo đó là tội phạm và tệ nạn xã hội.
Một điều tối quan trọng là, quyền lợi của nông dân chưa được bảo vệ vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nông dân là bộ phận yếu thế nhất, không có quyền mặc cả trên thị trường, nên quan hệ giữa thương nghiệp với nông dân đang diễn ra thiếu công bằng. Nông dân còn thiếu chủ quyền về đất đai, bị mất đất mà không có ai bênh vực. Việc đầu cơ ruộng đất làm giá bất động sản lên cao một cách giả tạo, nhưng nông dân cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Tình trạng này có nguyên nhân từ sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước. Ngay ở một số nước có sở hữu đất tư nhân, nhà nước vẫn kiểm soát việc sử dụng đất một cách chặt chẽ.
Để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả và năng suất lao động cao, con đường đúng đắn không phải là xóa bỏ kinh tế hộ nông dân, phát triển trang trại, mà là tổ chức hợp tác xã kiểu mới có chế biến nông sản và buôn bán chung nhằm mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện thương nghiệp công bằng. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân xây dựng các hợp tác xã kiểu mới, bắt đầu từ việc xây dựng các tổ hợp tác để tiến lên hợp tác xã. Đây là biện pháp cơ bản để tiếp tục phát triển kinh tế gia đình nông dân, bắt đầu từ “Khoán 10”, chuyển hộ nông dân thành nông trại gia đình như ở các nước tiên tiến.
Thế nhưng, hạn chế cố hữu của nông dân ở nước ta là tính thụ động, chờ đợi sự hỗ trợ, trừ một số vùng đặc biệt có vốn xã hội cao. Hiện nay, có nhiều vùng nông dân rất năng động nhưng chúng ta chưa thực hiện được việc tổ chức nghiên cứu các trường hợp ấy để có thể chuyển giao tính năng động sang các vùng khác.

3 – Vấn đề nông thôn

Trong quá trình đổi mới, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau, do chưa có chiến lược đổi mới hiệu quả.
Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Các vùng phát triển nông nghiệp mạnh thì không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế nông thôn, không tạo thêm được việc làm và không tăng nhanh thu nhập của nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn không thuận lợi cho việc nâng cao năng suất lao động nông thôn và tăng thu nhập của nông dân. Việc để nông dân đi bán sức lao động ở nơi khác với giá rẻ mạt, việc không có quy hoạch lao động, đã dẫn đến nhiều vùng thiếu lao động và giá lao động tăng mạnh.
Mức đóng góp của nông dân, nông thôn cao, phúc lợi cung cấp cho nông dân lại thấp, nông dân còn ít được hưởng lợi về đầu tư kết cấu hạ tầng và các nguồn cung cấp phúc lợi của Nhà nước.
Từ các hộ nông dân đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề, nhưng các doanh nghiệp này không được các chương trình doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ. Nông thôn còn thiếu các thể chế dựa vào cộng đồng như hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân để phụ trách việc cung cấp các dịch vụ công.
Một vấn đề nữa còn gây nhiều bức xúc là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nên có các chương trình bảo vệ môi trường gắn liền Nhà nước, doanh nghiệp và các cộng đồng nông thôn cùng thực hiện việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu giao việc bảo vệ môi trường cho các tổ chức nông dân thì có thể biến việc bảo vệ môi trường trở thành những hoạt động kinh tế tạo việc làm và thu nhập cho nông dân. Việc phát triển du lịch nông thôn cũng góp phần nâng cao được chất lượng môi trường.
Nông thôn còn thiếu mạng lưới an sinh xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảm nhanh. Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội phải gắn liền với hoạt động tương trợ, với các tổ chức nông dân. Ở Pháp, từ một tổ chức bảo hiểm tương trợ đã phát triển lên thành một công ty bảo hiểm quốc tế lớn nhất châu Âu, từ một quỹ tín dụng nông nghiệp thành một ngân hàng giàu nhất châu Âu. Các tổ chức này vẫn là tổ chức tập thể của nông dân.
Các nguyên nhân gây cản trở cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể chỉ giải quyết bằng các biện pháp tình thế, mà có thể phải thay đổi ngay từ trong đường lối cải cách kinh tế – xã hội. Có thể thấy, cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc bị ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa tự do mới, quá đề cao kinh tế thị trường và sớm đồng thuận với sự rút lui của nhà nước trong quản lý, thiếu cải cách xã hội. Đó là lý do chính làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau. Thêm vào đó, chúng ta lại đang dựa vào ưu thế cạnh tranh trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ để thu hút đầu tư nước ngoài là giá lao động rẻ, giá đất rẻ và giá môi trường rẻ. Do đó, mục tiêu của việc tăng trưởng nhanh dựa vào các ưu thế cạnh tranh này đã mâu thuẫn với các mục tiêu của phát triển nông thôn. Việc thu hút quá nhiều đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến sự phụ thuộc chính trị và phát triển không bền vững, gây khó khăn cho các thế hệ sau vì phải gánh nợ tích lũy từ các thế hệ trước. Mặt khác, chúng ta còn thiếu một nền kinh tế mang tính xã hội, và các doanh nhân xã hội thì không thể thực hiện được việc cải cách xã hội. Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện. Cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của quần chúng. Phát triển mạnh xã hội dân sự để huy động quần chúng tham gia vào sự phát triển chính là áp dụng truyền thống quan điểm quần chúng của Đảng.

Để giải quyết các vấn đề trên, cần có một hệ thống biện pháp phát triển nông thôn có hiệu lực, theo chúng tôi, đó là:

– Nhà nước cần có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không chỉ tập trung vào nông nghiệp. Việc phát triển nông thôn là công việc của hầu hết các bộ chứ không phải chỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hiện nay, chúng ta đã có Hội Khoa học phát triển nông thôn để huy động lực lượng quần chúng giúp nhà nước và doanh nghiệp thực hiện công việc này. Chúng ta đang được các tổ chức quốc tế và trên 399 tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc phát triển nông thôn, nhưng chúng ta không biết họ đang làm gì để hợp tác một cách chặt chẽ. Hội Khoa học Phát triển nông thôn đang cố gắng xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển nông thôn và xây dựng một trung tâm cung cấp dịch vụ phát triển nông thôn hoạt động theo nguyên tắc của một doanh nghiệp mang tính xã hội, giống như một mô hình kiểu mới chưa có ở nước ta nhưng rất phổ biến ở các nước…
– Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn. Xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân. Cần tổng kết các sáng kiến mới đang xuất hiện ở nông thôn như việc phát triển các cụm nông nghiệp và công nghiệp, việc hình thành các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn, việc phát triển du lịch nông thôn, việc áp dụng công tác khuyến nông kinh tế xã hội và tư vấn quản lý nông trại, việc đào tạo nông dân, không những để sớm có những “nhà nông” chuyên nghiệp có trình độ sản xuất, kinh doanh tiên tiến, mà còn gắn bó lâu bền với nông thôn…/.”
(1) Phi-lip-pin là một nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã dành quá nhiều diện tích canh tác cho phát triển đô thị và khu công nghiệp, khu chế xuất, nhất là có quá nhiều sân golf, nay đang “đau đầu” vì thiếu lương thực một cách trầm trọng.

Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường

GSVS.Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet, 30/03/2008, Hà Yên thực hiện  “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường”.

“Có một sự hiểu nhầm rằng, phát triển nông nghiệpphát triển nông thôn là một, và Chính phủ giao Bộ NN-PTNT lo về phát triển nông thôn. Trên thực tế, Bộ này chưa làm được gì nhiều cả. Ngày trước, việc phát triển nông thôn do Bộ máy bên Đảng làm, có Ban Nông nghiệp TƯ lo tất cả các vấn đề về nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, xây dựng nông thôn như thế nào…, được cụ thể trong Chỉ thị 100, Nghị quyết TƯ 10… Bây giờ, đưa nông thôn về Bộ NN-PTNT, trong khi Bộ hầu như chỉ lo phát triển sản xuất và phòng chống thiên tai, mà lẽ ra phòng chống thiên tai là do Bộ Tài nguyên – Môi trường phải làm. Nên mỗi lần có thiên tai, Bộ trưởng Bộ NN-PTTN lại phải chạy khắp các địa phương để chỉ đạo, không có thì giờ để lo phát triển nông thôn.

Thứ hai ở Việt Nam có sự hiểu nhầm về chuyện phát triển nông nghiệp tốt thì phát triển nông thôn tốt vì nông nghiệp đi lên kéo theo nông thôn phát triển. Thực tế không phải như vậy. Nông nghiệp là ngành sản xuất còn nông thôn là lãnh thổ. Hầu như tất cả các bộ, ngành của ta đều có bộ phận lo về nông thôn, như Giáo dục, Y tế rồi LĐ-TBXH… Vậy tại sao lại giao cho một bộ phụ trách cả công việc lớn như vậy?… Hiện nay, trong phát triển nông thôn có hai vấn đề lớn: ruộng đất và lao động, nhưng Bộ NN-PTNT lại không được quản lý.”
” Giảm thủy lợi phí và nhiều khoản thuế khác tất nhiên là tốt rồi nhưng cái đó không phải là chính . Ở Trung Quốc, thu nhập của người dân thành thị cao hơn nông thôn 3,6 lần . Họ cho rằng đó là mới tính thu nhập bằng tiền chứ chưa tính phúc lợi là giáo dục và y tế . Nếu cộng cả hai yếu tố này , khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn thành thị Trung Quốc là hơn 5 lần. Con số này ở Việt Nam hiện là 2,6 lần. Nếu tình hình vẫn như hiện nay thì sẽ giống như Trung Quốc. Theo tôi muốn giải quyết được vấn đề phúc lợi không thể làm theo kiểu kinh tế thị trường. Bây giờ Việt Nam đang lẫn lộn giữa xã hội hóa, thị trường hóa và tư nhân hóa . Nếu muốn làm phúc lợi cho nông dân phải xã hội hóa . Xã hội hóa thực chất là bắt dân đóng tiền thôi. Xã hội hóa là cả xã hội phải lo công việc đó”.
Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững . Nếu công cuộc đổi mới của nước ta dẫn đến một sự phân hóa xã hội quá mức , tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững . Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau, song nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể CNH-HĐH đất nước một cách vững chắc được.

“Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn”


Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư.

“Tôi không đồng ý với cách nói “phát triển nông nghiệp vì chúng ta có lợi thế về nông nghiệp”. Nông nghiệp là ngành mà chúng ta phải duy trì và phát triển, không phải vì lợi thế cạnh tranh nào cả, mà vì phát triển nông nghiệp là chuyện bắt buộc phải làm, không là chết, vậy thôi. Người ta đã tính rằng đến năm 2050, thế giới cần lương thực gấp đôi hiện nay, đến cuối thế kỷ thì nhu cầu tăng gấp ba. Nếu cung lương thực cho thế giới thiếu thì giá chắc chắn sẽ tăng lên. Nói cách khác, nếu để mất an ninh lương thực thì sẽ phải nhập khẩu để sống sót, mà nhập khẩu thì càng ngày càng đắt. Việt Nam có 86 triệu dân, con số không hề nhỏ. Phải xây dựng được nền nông nghiệp ít nhất là bảo vệ được an ninh lương thực của nước nhà, còn nếu biết làm tốt hơn thì càng có lợi về kinh tế. Nhìn từ góc độ chính trị – xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế…), thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt. Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”
“Quá trình công nghiệp hóa ở các nước không giống nhau. Thế kỷ 17-19, các nước tư bản dùng nguồn lợi bóc lột từ hệ thống thuộc địa để làm công nghiệp hóa, ví dụ Anh, Pháp là theo cách này. Nước nào không có thuộc địa, như Đức, thì gây chiến để giành lấy thuộc địa. Thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam ta bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó”. Chúng ta tuy không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy đó. Tất cả những câu “nông dân là lực lượng cách mạng”, “nông dân là những người khởi xướng Đổi mới”, “phải biết ơn nông dân”, “phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp”, tôi cho đều là mị dân cả. Trên thực tế, nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Đó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Tôi nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.”
“Từ kinh nghiệm chung của thế giới, tôi thấy là nếu anh làm quản lý ruộng đất tốt thì còn đất nông nghiệp tăng thêm, còn thừa đất ấy chứ. Tình trạng mất đất nông nghiệp ở ta là do đầu cơ mà ra cả. Nói sâu xa hơn thì do cách quản lý của ta là quản lý để đầu cơ. Ngay xung quanh Hà Nội đây này, tôi biết có nhiều nơi, người ta xây những ngôi mộ giả để găm đấy, chờ khi nào chính quyền lấy đất thì sẽ được đền bù.Bây giờ có lắm ý kiến nói tới việc tăng hạn điền cho nông dân. Tôi thì tôi cho rằng nhiều người nói vậy vì họ có quyền lợi liên quan tới việc đầu cơ ruộng đất. Hạn điền ở nước ta không thấp. Ngay Hàn Quốc cũng chỉ có 3 hécta, Nhật Bản 10 hécta. Mở rộng thêm để làm gì, chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm”.
“Vấn đề sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp cũng vậy, đang được đặt ra, nhưng theo tôi là không cần thiết. Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất còn rộng hơn quyền sở hữu đất ở Pháp. Có tập trung ruộng đất trong tay địa chủ thì cũng không đẻ ra sản phẩm. Ở nhiều nước đang phát triển, phải tồn tại nông dân nghèo không ruộng đất thì mới có người làm thuê. Ví dụ như ở Brazil, nông dân biến thành thợ. Họ ở thành phố, hàng ngày về nông thôn làm việc rồi chiều tối lại lên thành phố.”
“Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao. Việc làm cho nông dân là vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam và cũng là vấn đề lớn với thế giới. Nhìn chung, thế giới càng công nghiệp hóa càng thừa lao động, bởi vì công nghiệp và dịch vụ sử dụng lao động ít hơn nông nghiệp. Nói cách khác, công nghiệp và dịch vụ không thể “nuốt” hết số lao động dôi dư. Thừa lao động nông nghiệp là một trong các kết quả của quá trình phát triển. Ở ta, nông thôn thừa khoảng 50% lao động, nhưng lại không phải là kết quả của sự phát triển công nghiệp, mà do họ làm nông nghiệp thì không có đất, không làm nông nghiệp thì chẳng biết dùng họ vào việc gì. Xuất khẩu lao động cũng chỉ là giải pháp tình thế thôi. Hiện giờ Âu châu hạn chế nhận lao động nước ngoài. Trung Cận Đông, Hàn Quốc và Malaysia bình thường vẫn nhận nhiều lao động di cư vì họ đang có nhu cầu phát triển, nhưng nay khủng hoảng, họ cũng gặp khó khăn. Tóm lại, thất nghiệp đang là bài toán không giải quyết được ở nhiều nước. Nông dân đang phải chịu gánh nặng cho toàn xã hội. Tôi nhấn mạnh: Lao động thừa ở nông thôn là vấn đề của toàn xã hội, cho nên cả xã hội phải góp vào mà lo chứ không chỉ Bộ NN&PTNT hay Bộ LĐ&TBXH đâu”.

Có cách nào để nâng thu nhập, từ đó nâng mức sống cho người ở nông thôn không?

Tôi cho rằng đa dạng hóa sinh kế là chìa khóa để tăng thu nhập cho nông dân. Không thể chỉ làm nông được. Nói vui, tôi biết có làng ở Nam Sách (Hải Dương), cả làng bao nhiêu hiệu làm tóc.Thật ra, ở nông thôn, có nhiều việc lắm nhưng không ai giúp nông dân làm, không ai hướng dẫn cho họ cả. Chúng tôi đang tìm cách xây dựng một cơ chế để giúp nông dân đa dạng hóa sinh kế.Du lịch nông thôn chẳng hạn. Việt Nam cũng đã có du lịch nông thôn, nhưng triển khai chưa tốt, trong khi nếu làm tốt, thu nhập của mỗi nông dân có thể tăng gấp đôi. Ví dụ ở Sapa có nhiều các điểm du lịch bán vé, nhưng tiền bán vé chính quyền và doanh nghiệp đầu tư hưởng hết, dân địa phương chẳng được gì. Dân bị coi như kẻ ăn bám vào du lịch ở địa phương, ngày ngày sống nhờ bán đồ lặt vặt cho khách.Họ không được tham gia vào hoạt động du lịch nông thôn ở địa phương, trong khi nếu hoạt động này phát triển và thu hút họ thì sẽ bảo vệ được cả văn hóa lẫn sinh thái, môi trường địa phương.Tôi còn được biết, ở Huế, nhiều nhà vườn đóng cửa với khách du lịch, bởi vì họ chẳng thu được gì, tour du lịch lấy hết rồi.Ở Hội An, tôi hỏi dân sao không tổ chức kinh doanh du lịch bằng cách cho khách thuê nhà dân ở, kiểu “home-stay”, họ bảo không được phép. Chính quyền yêu cầu nếu dân làm “home-stay” thì phải đảm bảo trang thiết bị vệ sinh, máy điều hòa. Như thế, tiền đâu mà nông dân làm? Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), có nhiều vùng cây ăn trái, tour du lịch đưa khách đi thăm, nhưng khách chỉ ngắm thôi chứ có mua về được đâu, làm sao bảo quản được mà mang về. Thế nên dân đem trái cây ra chợ bán còn thu được tiền hơn.

Ở Pháp, doanh nghiệp mua súp lơ của nông dân với giá 1 Franc (đồng nội tệ của Pháp trước khi chuyển sang sử dụng Euro), rồi đến khi vào siêu thị, giá súp lơ đã tăng lên 12 Franc. Như thế là bóc lột nông dân lắm.”Có nhiều việc để làm lắm nhưng không ai hướng dẫn nông dân làm cả”. GS.VS. Đào Thế Tuấn cho rằng phát triển xã hội dân sự chính là cơ chế để hướng dẫn người nông dân đa dạng hóa sinh kế.Nông dân Pháp bèn lập chợ nông thôn ngay giữa thủ đô Paris để bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng, tránh được hệ thống thu mua ở giữa.Tôi thấy các nước tiên tiến bây giờ người ta tẩy chay hệ thống doanh nghiệp buôn bán. HTX chiếm 50% công việc, tư thương chiếm 50% lĩnh vực phân phối nông sản là tốt nhất.Theo tôi, doanh nghiệp chỉ nên thực hiện khâu chế biến cao cấp, còn thu gom, buôn bán, nông dân tự làm được. Có như thế, doanh nghiệp mới mất thế độc quyền.Chứ như bây giờ ở ta, nông dân không có quyền mặc cả với tư thương. ĐBSCL chẳng hạn, nông dân trồng lúa chất lượng cao hơn trước nhưng giá bán ra thì vẫn như thế.

Vậy, tôi xin mượn lời một danh hài, “thế thì người nông dân phải làm gì”? Vấn đề quan trọng nhất của phát triển là phải có sự tham gia của cộng đồng, của người dân. Các tổ chức phi chính phủ đến Việt Nam đều nói rằng nông thôn Việt Nam không có cộng đồng.Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ngày xưa, chúng ta đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm đấy thôi, mà đại diện là những lý trưởng, xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ – ông bí thư, chủ tịch xã, chủ tịch hợp tác xã, bà tổ trưởng phụ nữ… Người dân chẳng được tham gia gì cả.Chúng ta cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội (social entrepreneur). Nhà nước không thu thuế đối với họ. Dĩ nhiên, họ cũng có một mức lãi nào đó, nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện, cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của xã hội, của quần chúng.Tóm lại, điều quan trọng chúng ta cần làm ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự.”


Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa


GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết Anh hùng nông học giữa Hà thànhngày 2.8.2010

“Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”,
GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định…Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế. Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp.

Còn nữa
THẦY TUẤN TRONG MẮT NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI
ĐÀO THẾ TUẤN CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY
đón đọc tại  https://hoangkimlong.wordpress.com/…/dao-the-tuan-chan-dun…/
Mai Văn Quyền (Van Quyen Mai), Hoàng Kim (Hoàng Kim) cùng với To Le Van5 người khác.

                                                                                                          

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Ấn tượng về thành phố hoa Đà Lạt



DẠY VÀ HỌC. Diện tích hoa Lâm Đồng năm 2009 đạt 3200 ha tăng đột biến so với 790 ha của năm 2003. Thành phố hoa Đà Lạt là trung tâm xuất khẩu hoa của tỉnh năm 2009 đạt 2000 ha  với kim ngạch xuất khẩu 12 triệu đô-la. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lâm Đồng, định hướng phát triển sản xuất hoa của tỉnh nhắm tới 3800 ha vào năm 2015. Đà Lạt tiềm năng là trung tâm xuất khẩu hoa lớn nhất nước với khả năng sản xuất hoa chất lượng cao quanh năm và tiềm năng mở rộng diện tích còn lớn. (GS Bùi Chí Bửu, TS. Ngô Quang Vinh - Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam cùng các anh chị Hồ Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Võ Văn Sang -lãnh đạo phường 12 Thái Phiên- thăm ruộng hoa của các hộ nông dân giỏi trong phường; bài và ảnh Hoàng Kim)   


Giáo sư Bùi Chí Bửu rủ tôi cùng lên dự tổng kết hoạt động năm 2010, định hướng nghiên cứu phát triển 2011-2015 của Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa Đà Lạt. Đây cũng là sự khởi  công của  TS. Ngô Quang Vinh vừa được bổ nhiệm làm Phó Viện Trưởng  Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam kiêm Giám đốc Trung tâm tiếp nối TS. Phạm Xuân Tùng đến tuổi nghỉ hưu. .



Không khí vui vẻ, phấn khởi tràn ngập đơn vị vừa gặt hái thành quả nghiên cứu chọn tạo được 12  giống hoa, cà chua, khoai tây, dâu tây mới. Sự hợp lưu của Trung tâm với Bộ môn Kỹ thuật Canh tác thể hiện rõ quyết tâm chuyển mạnh các Phòng Nghiên cứu của Viện gắn sát hơn với thực tiễn sản xuất sau khi Viện vừa được nhận huân chương Độc Lập của Chủ tịch Nước trao tăng. Một luồng sinh khí mới của sự tăng cường gấp đối nguồn lực qua tái cấu trúc để tăng cường nghiên  cứu phát triển rau hoa 


 
Anh Hồ Minh Châu và chị Nguyễn Thị Thu Nguyệt là Bí thư và Chủ tịch phường 12 Thái Phiên,  Đà Lạt hướng dẫn chúng tôi thăm một số hộ nông dân giỏi trong phường. Chúng tôi đến hộ của ông Cao Phát chuyên trồng hoa Ly ly  Concador giống gốc Hà Lan. Nông dân làm chủ công nghệ khá hoàn hảo. Đề xuất của anh là cần giống mới có bản quyền Việt Nam để tăng uy tín thương hiệu, cần giống kháng và cách phòng trị hiệu quả bệnh Phytophthora sp.



Hộ của ông Nguyễn Ân 39 tuổi cũng là một địa chỉ hoa khá nổi tiếng. Hoa cúc, hoa cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.,) , hoa ly ly  khoe sắc rực rỡ trong nắng xuân. Anh Đặng Ngọc Cẩn, giám đốc công ty PEPSICO VIETNAM trao đổi với thạc sỹ Tưởng Thị Lý, đồng tác giả những giống hoa mới với tiến sỹ Phạm Xuân Tùng,  về hiệu quả kinh tế trồng hoa công nghệ cao.  Với một liếp hoa bề rộng 1m-1,2 m dài khoảng 20 m mang lại nguồn thu 2,4 -24 triệu đồng tuỳ loài hoa và kỹ thuật trồng . Đó thật sự là mơ ước của nhiều hộ nông dân.



Anh thanh niên Nguyễn Đăng Hiến còn rất trẻ nhưng đã có thể nói vanh vách về các giống khoai tây mà anh nhân giống bằng cách cắm cánh cùng kỹ thuật trồng khoai tây trong nhà màn. Sự thành thạo nghề khiến chúng tôi thực sự thán phục sự chịu khó tìm tòi học và làm của lớp trẻ.



Chỉ một thời gian ngắn, thành phố hoa Đà Lạt đã bừng hưnơg sắc như một phép lạ. Hiệu quả của trồng hoa công nghệ cao thật rõ nét và tăng đột biến.  Thực tiễn sản xuất sinh động đòi hỏi những nghiên cứu khoa học kịp thời, sâu hơn, xa hơn để thúc đẩy sản xuất  phát triển. Cần nhanh chóng hình thành những đột phá mới về chọn tạo giống, hoàn thiện công nghệ, tiếp thị nông nghiệp, mở rộng thị trường, nhân rộng điển hình, phát triển công nghệ hạt giống, giảng dạy nông nghiệp kết gắn với  nghiên cứu, nông dân sản xuất  và thị trường. Chắc chắn đây sẽ là hướng nông nghiệp công nghệ cao đô thị tốt đẹp song hành với nông nghiệp, nông dân, nông thôn truyền thống để tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân và nâng cao chất lượng cuộc sống.


     Hoàng Kim, Bùi Chí Bửu

Copyright 2011 Hoang Kim


http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
http://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/
http://dayvahoc.blogspot.com/2011/01/tuong-ve-thanh-pho-hoa-lat.html

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

85 năm Viện KHKT NN miền Nam: Thách thức vẫn còn phía trước

DẠY VÀ HỌC Báo Nông nghiệp Việt Nam đăng bài "85 năm Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam : Thách thức vẫn còn phía trước" của nhà báo Quang Ngọc. Tiếp nối những trăn trở và tri ân trong diễn văn của giáo sư Bùi Chí Bửu, bài báo nhấn mạnh: "Năm năm gần đây, Viện đã tiến hành được một số nghiên cứu cơ bản và hiện đại như bảo tồn quỹ gen, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại kỹ thuật PCR, Maker, chuyển nạp gen làm tiền đề cho sự phát triển của Viện trong tương lai nhưng hãy còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu và với thế giới. Thực tế đó buộc Viện phải đưa công tác đào tạo thành “Viện sách” hàng đầu. Lịch sử Viện 85 năm qua, chưa bao giờ công tác đào tạo được chú trọng như hiện nay, chỉ tính riêng cán bộ khoa học của Viện được đào tạo trong 5 năm qua lên tới 26 người ...và hiện đang đào tạo 23 tiến sĩ, 39 thạc sĩ ở trong nước và nhiều nước khác trên thế giới bằng nhiều nguồn vốn khác nhau ...Hy vọng 5-10 năm sau Viện sẽ có đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, chuyên sâu có đời sống vật chất và tinh thần phong phú để vô tư nhiệt tình cống hiến đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, sánh vai với bạn bè đồng nghiệp quốc tế, xứng đáng là một Viện có bề dày lịch sử và cống hiến nhất."

85 năm Viện KHKTNN miền Nam:
Thách thức vẫn còn phía trước

Quang Ngọc

Đôi dòng lịch sử
 Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 20, cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã thu lợi lớn, Nam Bộ đã là nơi sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn nhứt xứ Đông Dương. Năm 1929, Nam Bộ đã có 2,4 triệu ha đất lúa, 20.000 ha vườn cây ăn trái, miền Đông Nam Bộ có 150.000 ha trồng lúa, 85.000 ha cao su, 7.500 ha mía và nhiều cây trồng khác như cà phê, hồ tiêu, bông vải.
So với năm 1873 (năm thành Hà Nội thất thủ, mốc đánh dấu tư bản Pháp bắt đầu đầu tư vào Nam Bộ) diện tích đất nông nghiệp Nam Bộ đã tăng lên 8 lần, dân số 4.500.000 người, tăng 3 lần. Tuy năng suất lúa ở thời kỳ đó chỉ 600 – 800 kg/ha nhưng trong các năm 1875 - 1884, ĐBSCL đã xuất khẩu gạo bình quân 360.000 T/năm, đến các năm từ 1925 – 1929 đã xuất khẩu bình quân 1,45 triệu T/năm. Trong quãng 55 năm liên tục đã có khoảng 45 triệu T gạo được xuất khẩu.
Chỉ riêng tiền thu thuế xuất khẩu gạo được 61 triệu đồng Đông Dương, so với 54 triệu tổng chi phí đào kinh mương trong quãng thời gian đó. Tuy nhiên người Pháp thấy rằng chi phí khai hoang ngày càng đắt, giai đoạn 1880 – 1890, chỉ cần đào 12 m3 đã có 1 ha nhưng đến giai đoạn 1925 đã tăng lên 161 m3, buộc phải nghĩ đến đầu tư chiều sâu, đi vào thâm canh thay cho quảng canh và đấy là lý do để người Pháp thành lập Viện khảo cứu Nông Lâm Đông Dương vào ngày 02/04/1925; năm 1956 viện này đổi thành Nha Khảo cứu và sưu tầm Nông Lâm Súc; năm 1968 đổi thành Viện khảo cứu Nông nghiệp; năm 1975, chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam tiếp quản lấy tên là Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam sau đổi tên thành Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Đông Nam Bộ đến năm 1981 hợp nhất với Cơ sở 2 Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp VN đổi thành Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, năm 1990 đổi thành Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, năm 1998 đổi thành Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam cho đến nay. 
Người Pháp trước và người Mỹ sau đều nhìn nhận địa hình Việt Nam có nhiều chia cắt, thời tiết khác biệt, có nhiều vùng sinh thái, tiểu sinh thái khác nhau nên ngoài việc thiết lập văn phòng, phòng thí nghiệm chính ở Sài Gòn, viện còn tổ chức một mạng lưới trung tâm và điểm thực nghiệm suốt từ vĩ tuyến 17 trở vào: Trung tâm Long Định – Tiền Giang chuyên về lúa; Trung tâm Hưng Lộc – Đồng Nai chuyên về hoa màu; Trung tâm Eakmat – Đaklăk chuyên hoa màu, cao su; Trung tâm Nha Hố - Bình Thuận chuyên hoa màu, chăn nuôi, nho; Trung tâm Bảo Lộc – Lâm Đồng chuyên về chè, cà phê; Trung tâm Đà Lạt chuyên về rau, hoa; Trại Quảng Ngãi chuyên mía; Trại Tuy Hòa chuyên mía; Trại Thừa Thiên chuyên lúa, hoa màu; Trại Bình Đức – An Giang chuyên lúa, hoa màu. Sau giải phóng, do khó khăn về tài chánh, do tầm nhìn nên một số cơ sở đã bị thu hẹp hoặc trả lại cho địa phương.
Những thành tựu nổi bật
Mặc dù được thành lập sớm, quy mô và bài bản nhưng kết quả nghiên cứu khoa học, kỹ thuật của Viện nghiên cứu Nông nghiệp chuyên ngành này từ 1925 – 1975 không nhiều, bởi từ 1929, kinh tế tư bản bước vào khủng hoảng và sau đó là chiến tranh liên miên. Một số kết quả chính trong nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong 50 năm ấy có thể liệt kê: Lập bản đồ thổ nhưỡng cho khoảng 100.000 ha; xây dựng các tiêu chuẩn về đất; phương pháp làm bột giấy từ rơm, cỏ tranh, lục bình; chế tạo vật liệu nhẹ cho xây dựng từ rơm và trấu; biến chế trà bằng máy; bảo quản trái cây; xử lý nước phèn; nhập nội khảo nghiệm một số giống mía, bắp, bò, heo; xây dựng quy trình trồng nho, nấm rơm. 
Với vai trò lịch sử từng là viện quốc gia, được thành lập sớm nhất trên toàn Đông Dương, công việc đầu tiên và hữu ích nhất của viện sau 30/4/1975 là mở cửa thư viện, đón tiếp, giới thiệu, cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu khoa học, nhất là các tài liệu của các nước tư bản mà các đồng nghiệp phía Bắc chưa có dịp tiếp cận, trên tất cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp cho mọi yêu cầu nghiên cứu của đồng nghiệp của 2 miền Nam Bắc, từ đó góp nên góc nhìn tổng quát, toàn diện của hiện trạng về Nông nghiệp của cả nước lúc bấy giờ. Giai đoạn này một số nghiên cứu ứng dụng và triển khai cũng được xúc tiến như khảo nghiệm một số giống lúa nhập nội từ IRRI, tiếp tục xây dựng bản đồ đất. Tuy nhiên công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật chỉ thật sự bắt đầu từ sau năm 1981, khi chức Viện trưởng được giao cho GS.TS Trần Thế Thông (1981 – 1994) và sau đó là GS.TS Phạm Văn Biên (1994 – 2006) và GS.TS Bùi Chí Bửu (2006 đến nay). 
Bằng uy tín cá nhân và tên tuổi của một viện khoa học lâu đời, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là cơ quan đầu tiên thoát khỏi sư bao vây, cấm vận của Mỹ sau giải phóng bằng nhiều chương trình hợp tác với các tổ chức khoa học quốc tế và nước ngoài. Thống kê đến năm 2005 cho thấy đã có 16 tổ chức khoa học quốc tế, 16 tổ chức chính phủ, trường đại học, 3 tổ chức phi chính phủ và rất nhiều doanh nghiệp có quan hệ hợp tác khoa học với Viện. Sự hợp tác quốc tế nhộn nhịp cộng với các đề tài khoa học cấp bách phục vụ ngay cho sản xuất, sự hào hứng của cả dân tộc với khát vọng vươn lên đã tạo nên không khí lao động khoa học sôi nổi, dấn thân của các cán bội khoa học của viện. Ngày ấy TP Hồ Chí Minh còn nhiều diện tích lúa mùa, rất nhiều nông dân ở Củ Chi, Hóc Môn, Long An, Tiền Giang còn nhớ mãi “các thầy nông nghiệp trẻ” cặm cụi trên những chiếc xe đạp lỉnh kỉnh những can chứa mẫu nước phèn, mà có lúc bị bắt vì ngỡ là xăng, những chuyến đi “3 cùng” với nông dân trong các chiến dịch phòng trừ rầy nâu, điều tra chăn nuôi …
Đây cũng là giai đoạn Viện có nhiều tiến bộ kỹ thuật được công nhận phục vụ kịp thời cho sản xuất. Có thể liệt kê một số thành tựu nổi bật như tuyển chọn được 2 giống lúa IR 50404 jasmine 85, lai tạo được giống VND 95-20, đây là 3 giống lúa thuộc hàng “mega” của ĐBSCL; Thu thập, tuyển chọn, lai tạo các giống lúa cạn mà hiện nay vẫn đang được đồng bào Tây Nguyên ưa chuộng. Tương tự, các giống sắn KM 94, KM 98-5. KM 140 đã làm thay đổi diện mạo của cây sắn Việt Nam; Giống ngô lai đơn V 98-1 của Viện cũng nhanh chóng được sản xuất chấp nhận; Các giống điều ghép là nhân tố hồi sinh cho ngành điều; Kỹ thuật canh tác trên đất phèn đã góp phần không nhỏ vào công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười; Phương pháp ghép cà chua không những hạn chế bệnh rễ mà còn thúc đẩy công nghệ làm giống cây con ở Đà Lạt; Kỹ thuật tiêm chủng vi khuẩn trong rễ cây lúa.Giống gà thả vườn BT 2, tủ ấp trứng bằng đèn dầu, các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain thuần chủng VN, công nghệ đánh giá di truyền đã làm nên thương hiệu cho viện nói chung và Bình Thắng nói riêng; Hàng năm Viện cung cấp hàng ngàn lợn cái và đực giống hậu bị, hàng trăm ngàn gà giống và nhiều TBKT trong chăn nuôi cho 35 tỉnh thành trong cả nước. Đặc biệt công trình tập thể nghiên cứu về heo nạc cao sản do GS.TS Trần Thế Thông và PGS.TS Lê Thanh Hải chủ trì đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, cùng một số giải thưởng nhà nước cho các công trình nghiên cứu khác như Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc, Chọn lọc, nâng cao năng suất chất lượng một số giống gà và tạo con lai để phát triển chăn nuôi nông hộ và Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Giai đoạn từ 2006-2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận 40 giống cây trồng, vật nuôi, 9 tiến bộ kỹ thuật (TBKT).
Sự cống hiến của Viện KHKTNN Miền Nam đã được nhân dân và nhà nước ghi công bằng huân chương huân chương Độc lập hạng ba, hạng nhì (2005) và hạng nhất năm nay và rất nhiều bằng khen, cờ thi đua của Thủ tướng, của Bộ NN-PTNT và các địa phương. Tháng 11 vừa qua, GS.TS Bùi Chí Bửu, viện trưởng vinh dự là nhà khoa học ngành nông nghiệp đầu tiên được nhận giải thưởng Nhân tài Đất Việt. 
Điểm khác biệt nhất của viện giai đoạn sau 30/4/1975 so với giai đoạn trước 1975 là trước đây người hưởng lợi là giới điền chủ, còn hiện nay nông dân là người được hưởng lợi trực tiếp từ các thành quả nghiên cứu của viện. Năm 1993, hệ thống khuyến nông mới được hình thành nhưng công tác khuyến nông và chuyển giao TBKT đã được viện tiến hành nhiều năm trước đó mà nòng cốt ban đầu là mạng lưới cộng tác viên nông dân sản xuất giỏi ở khắp các tỉnh thành trên địa bàn. Nhờ làm tốt công tác khuyến nông mà những TBKT nhanh chóng được nông dân áp dụng, góp phần tạo nên sự tăng tốc thần kỳ của sản xuất nông nghiệp thời kỳ đó. 

Thách thức vẫn còn phía trước
Thống kê giai đoạn 2006 – 2010 cho thấy bình quân mỗi năm Viện thực hiện 100 đề tài, dự án với kinh phí hoạt động khoa học công nghệ của Viện tăng dần qua các năm, từ 18,3 tỷ/2006 lên 35,0 tỷ đ/2010 này. Kinh phí này sẽ còn tăng mạnh trong thời gian tới, mà trước hết tăng từ đặt hàng nghiên cứu của nhà nước do có sự chuyển biến trong đầu tư Nông nghiệp theo chính sách tam nông và đối phó với việc biến đổi khí hậu và các nguy cơ khác như thiếu nước, thay đổi chế độ thủy văn của sông Mekong cũng như sự đe dọa ngày càng lớn của các dịch bệnh hại, chênh lệch năng suất và hiệu quả giữa các hộ sản xuất vẫn còn cao. Thực tế sản xuất và phát triển đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp đứng đầu là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) mà Viện KHKTNN Miền Nam là đơn vị thành viên phải tiến hành đồng thời cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai
Tuy nhiên, cũng như tất cả các cơ sở nghiên cứu khoa học nông nghiệp trên toàn quốc, Viện KHKTNN Miền Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng về nhân lực, lớp người được đào tạo cơ bản từ các nguồn trước 1975 đã nghỉ hưu, lớp người được đào tạo và trưởng thành trong thập niên 1980 đã “qua bên kia dốc cuộc đời”, thêm vào đó do nhà nước không cải tiến được phương pháp quản lý khoa học nên hiện tượng “chảy máu chất xám” xảy ra phổ biến, trong lúc đội ngũ bổ sung từ sinh viên giỏi các trường đại học lại rất thưa thớt. Năm năm gần đây, Viện đã tiến hành được một số nghiên cứu cơ bản và hiện đại như bảo tồn quỹ gen, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại kỹ thuật PCR, Maker, chuyển nạp gen làm tiền đề cho sự phát triển của viện trong tương lai nhưng hãy còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu và với thế giới. Thực tế đó buộc Viện phải đưa công tác đào tạo thành “Viện sách” hàng đầu.
Lịch sử Viện 85 năm qua, chưa bao giờ công tác đào tạo được chú trọng như hiện nay, chỉ tính riêng cán bộ khoa học của viện được đào tạo trong 5 năm qua lên tới 26 người (04 tiến sĩ và 26 thạc sĩ) và hiện đang đào tạo 23 tiến sĩ, 39 thạc sĩ ở trong nước và nhiều nước khác trên thế giới bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, từ các hiệp định nhà nước, từ trong các chương trình đề tài hợp tác quốc tế và từ quan hệ và uy tín của lãnh đạo Viện. Hy vọng 5-10 năm sau viện sẽ có đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, chuyên sâu có đời sống vật chất và tinh thần phong phú để vô tư nhiệt tình cống hiến đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, sánh vai với bạn bè đồng nghiệp quốc tế, xứng đáng là một viện có bề dày lịch sử và cống hiến nhất.

Chào mừng 85 năm Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam

DẠY VÀ HỌC. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (IAS) vừa trang trọng kỹ niệm 85 năm thành lập (1925-2010) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất của Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng. Diễn văn chào mừng của giáo sư tiến sỹ Bùi Chí Bửu đã điểm lại chặng đường vẻ vang, thành tựu đáng tự hào của Viện với nhiều trăn trở và tri ân xúc động: "Trong nông nghiệp, khoa học cây trồng và vật nuôi tuy đạt nhiều thành tựu rực rỡ, nhưng nông dân chắc chắn sẽ đối diện gay gắt với quyền sở hữu trí tuệ, thương mại hóa toàn cầu, sự cạnh tranh không cân sức giữa các nước giàu và nghèo trong chính sách trợ giá nông sản bất hợp lý của nước giàu. Nếu chúng ta không có những hợp tác thực sự, những giải pháp khoa học công nghệ sẽ trở nên vô nghĩa với các giải pháp đơn độc, không mang tính tổng thể, đa ngành. Chưa lúc nào, Viện đặt nhiệm vụ đào tạo nguồn lực cấp bách như hiện nay" "Đại văn hào TAGORE của Ấn Độ đã từng nói rằng: Chúng ta biết ơn ngọn đèn cho chúng ta ánh sáng. Chúng ta cũng phải biết ơn giá chân đèn đã âm thầm đứng trong bóng tối để mang ngọn đèn tỏa sáng khắp nơi nơi. Thành quả mà chúng tôi đạt được hôm nay trước hết thuộc hàng triệu người đã hi sinh âm thầm làm giá chân đèn đứng trong bóng tối như vậy, để có một ít các nhà khoa học tên tuổi tỏa sáng. Đó là những nông dân cần mẫn, tiếp thu nhanh kỹ thuật, sáng tạo trên ruộng đồng. Đó là những cán bộ khoa học lăn lộn trong sản xuất, cùng với nông dân, cán bộ khuyến nông, cùng các doanh nghiệp năng động tạo nhiều đột phá mới để nông sản Việt Nam thực sự trở thành hàng hóa..."


LỄ KỶ NIỆM 85 NĂM THÀNH LẬP VIỆN KHOA HỌC KTNN MIỀN NAM

Ngày 10 tháng 01 năm 2011 vừa qua, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã tổ chức một cách trang trọng sự kiện đánh dấu mốc quan trọng trong con đường nghiên cứu phát triển của mình. Ra đời từ năm 1925, Viện đã nhiều lần đổi tên: Từ Viện Nghiên cứu Nông lâm nghiệp Đông Dương (IRAFI), Viện Khảo cứu Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Đông Nam Bộ, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, cho đến nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (IAS).
Chúng tôi đặc biệt cám ơn Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - PGS.TS. Bùi Bá Bổng, đã thay mặt Nhà nước ghi nhận những đóng góp của Viện trong việc phát triển nền nông nghiệp phía Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.
Chúng tôi vô cùng cám ơn các tổ chức, cá nhân đã quan tâm gửi lẵng hoa, quà và tới dự lễ chia vui với Viện:
-         Phó Vụ trưởng Vụ KHCN&MT, Bộ NN&PTNT – PGS.TS. Nguyễn Tấn Hinh
-         Trưởng phòng Thi đua Khen thưởng, Bộ NN&PTNT – Nguyễn Công Tư
-         Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam – GS.TS. Nguyễn Văn Bộ
-         Lãnh đạo Đảng ủy, Văn phòng, công đoàn, Đoàn Thanh niên khối cơ sở Văn phòng Bộ NN&PTNT phía Nam
-         Lãnh đạo các Cục Trồng trọt, Bảo vệ Thực vật, Chăn nuôi, Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia
-         Lãnh đạo Hội KHKT Bảo Vệ Thực Vật Việt Nam, Hội Chăn nuôi Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật TPHCM
-         Lãnh đạo các Sở Khoa học Công nghệ và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An
-         Lãnh đạo các Viện, Trường, các đơn vị đã và đang hợp tác chặt chẽ với Viện
-         Lãnh đạo các Viện bạn trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
-         Lãnh đạo các công ty nông nghiệp – Bạn đồng hành của Viện
-         Phóng viên các báo, đài trung ương và địa phương.
-         Các cá nhân có quan hệ mật thiết với Viện.
Xin chúc sức khỏe các anh chị, chúc một sự hợp tác lâu bền và thành công.


VIỆN KHKTNN MIỀN NAM ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP HẠNG NHẤT
Ngày 10-1-2011, Thứ Trưởng Bùi Bá Bổng thừa ủy quyền của Chủ Tích Nước CHXHCN Việt Nam trao Huân Chương Độc Lập hạng nhất cho Lãnh Đạo Viện, đại diện của Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên, Nữ Công, cán bộ lâu năm của Viện tại Hội Trường lầu 9, 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận I, TP HCM. Báo cáo tổng kết năm 2010 cũng được trình bày vào buổi sáng (chi tiết xem: http://iasvn.org/uploads/files/BC tong ket IAS 2010.pdf)



Diễn văn chào mừng 85 năm thành lập Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam (1925-2010)

Bùi Chí Bửu

Kính thưa: Các vị khách quí, các đại biểu,
                  C
ác bạn đồng nghiệp

            Cách đây 85 năm, Viện Khoa học Nông Lâm nghiệp Đông Dương đã được thành lập trên khu đất này, vào thời điểm nông nghiệp nước nhà chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội thực dân phong kiến. Viện đã không ngừng phát triển, cùng đồng hành với nông dân Việt Nam, người mà lịch sử Việt Nam phải tri ân sâu đậm. Chính họ là lực lựơng đông đảo đã theo Đảng làm cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thành công; đồng thời đã đóng góp xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tạo nên những đột phá liên tục làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển như ngày nay.
            Sau bao lần thay tên, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam vô cùng tự hào với những tên tuổi các nhà khoa học lớn của Việt Nam đã công tác tại đây, làm gương sáng cho hậu thế. Đó là: Lương Định Của, Vũ Công Hậu, R. Dumont, Dương Hồng Hiên, Lâm Văn Vãng, Thái Công Tụng, Nguyễn Văn Mừng, Hoàng Thị Mỹ, Võ Đình Long, Châu Văn Hạnh, Trần Thế Thông, Bùi  Văn Ngạc, Trương Công Tín, Mai Văn Quyền, Phạm Văn Biên, Công Doãn Sắt, Lê Thanh Hải, Lê Xuân Cương và còn nhiều người nữa, đã làm việc và đào tạo đội ngũ kế thừa, tạo nên uy tín khoa học đối với sản xuất nông nghiệp ở miền Nam – nơi có nhiều nông sản hàng hóa, và trở thành vùng sản xuất nông nghiệp năng động bậc nhất của Việt Nam.
            Lịch sử của Viện gắn liền với lịch sử phát triển nông nghiệp của đất nước trong thời chiến cũng như trong thời bình. Sự kiện 2 triệu người chết đói năm 1945 luôn nhắc người Việt Nam rằng, không có độc lập dân tộc, không có khoa học công nghệ, sẽ không có ổn định lương thực cho dù ruộng đất phì nhiêu của Đồng bằng Sông Cửu Long có tiềm năng vô cùng to lớn.
            Lịch sử của Viện cũng là lịch sử của quan hệ hợp tác mật thiết với các tổ chức nông dân, với lãnh đạo địa phương, với các Viện nghiên cứu trực thuộc VAAS và các Trường, Viện khác, với các tổ chức quốc tế; bởi vì khoa học nông nghiệp không thể đứng riêng một mình. Khoa học nông nghiệp phải xem xét cẩn thận các yếu tố kinh tế, môi trường, chính trị; trong đó có thị trường, năng lượng sinh học, thương mại hóa toàn cầu. Đặc biệt,nông nghiệp phải nhấn mạnh đến chất lượng nông sản và an toàn lương thực, thực phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
            Trên cở sở quan hệ hợp tác như vậy, nông nghiệp nước nhà đã tạo ra những bước đột phá ngoạn mục kể từ khi Đảng khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; đặc biệt là sự năng động của sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở phía Nam. Chặng đường dài của nông nghiệp Việt Nam đã được đánh dấu: từ Chỉ thị 100, Nghị Quyết 10 đến Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo vào năm 1989; đến năm 2010 Việt Nam thực sự là nước có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng tốp đầu của thế giới với tổng giá trị xuất khẩu nông sản trên 19 tỷ USD. Giai đoạn 1960-1974: sản lượng lúa gạo cả nước chỉ đạt 9-11 triệu tấn, và 2010 đạt 40 triệu tấn, một bước nhảy khổng lồ (tăng gấp 4 lần, trong điều kiện diện tích canh tác xu hướng giảm). Ba yếu tố cơ bản mang đến thành công ấy là: (1) chính sách; (2) đầu tư thủy lợi; (3) khoa học công nghệ, đặc biệt là giống cải tiến.
            Các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam có thể tự hào vì chính công trình khoa học của mình đã tạo ra những đóng góp đáng kể cho những đột phá lịch sử ấy. Ví dụ: năm 1986-2000, diện tích trồng lúa tăng 34%, năng suất lúa chỉ tăng 102 kg/ha/năm; năm 2000-2008, diện tích lúa giảm 252 nghìn ha, năng suất lúa vẫn tăng 123 kg /ha/năm. Hiện nay, năng suất lúa đạt 5,32 tấn / ha /năm 2010, trong điều kiện ảnh hưởng bất lợi của ElNina, bộc phát rầy nâu và dịch bệnh. Ngần ấy tạo được một kỷ lục mới: xuất khẩu 6,8 triệu tấn gạo. Điều này chứng minh rằng khoa học đã có tác động thực sự, mang lại hiệu quả lớn lao trong sản xuất.
Hôm nay, cán bộ khoa học của Viện có quyền tự hào về Huân Chương Độc lập Hạng Nhất do Nhà Nước trao tặng. Chúng tôi không nghĩ rằng đây là phần  thưởng của riêng mình. Đây chính là đóng góp chung của nhiều nhà khoa học trong ngành nông nghiệp, với biết bao công trình hợp tác quý báu của các đồng nghiệp. Chúng tôi trân trọng sự hợp tác ấy. Thành tích này thuộc về nhiều thế hệ các nhà khoa học nối tiếp nhau xây dựng và phát triển Viện, có người đã không còn nữa.
            Trong nông nghiệp, khoa học cây trồng và vật nuôi tuy đạt nhiều thành tựu rực rỡ, nhưng nông dân chắc chắn sẽ đối diện gay gắt với quyền sở hữu trí tuệ, thương mại hóa toàn cầu, sự cạnh tranh không cân sức giữa các nước giàu và nghèo trong chính sách trợ giá nông sản bất hợp lý của nước giàu.
            Nếu chúng ta không có những hợp tác thực sự, những giải pháp khoa học công nghệ sẽ trở nên vô nghĩa với các giải pháp đơn độc, không mang tính tổng thể, đa ngành.
            Chưa lúc nào, Viện đặt nhiệm vụ đào tạo nguồn lực cấp bách như hiện nay. Hàng loạt chuyên gia đầu ngành sẽ nghỉ hưu trong một vài năm tới. Nguyên tắc tuyển dụng cán bộ khô cứng và chế độ trả lương bất hợp lý sẽ không phù hợp với tình hình mới.
            Đại văn hào TAGORE của Ấn Độ đã từng nói rằng: Chúng ta biết ơn ngọn đèn cho chúng ta ánh sáng. Chúng ta cũng phải biết ơn giá chân đèn đã âm thầm đứng trong bóng tối để mang ngọn đèn tỏa sáng khắp nơi nơi. Thành quả mà chúng tôi đạt được hôm nay trước hết thuộc hàng triệu người đã hi sinh âm thầm làm giá chân đèn đứng trong bóng tối như vậy, để có một ít các nhà khoa học tên tuổi tỏa sáng. Đó là những nông dân cần mẫn, tiếp thu nhanh kỹ thuật, sáng tạo trên ruộng đồng. Đó là những cán bộ khoa học lăn lộn trong sản xuất, cùng với nông dân, cán bộ khuyến nông, cùng các doanh nghiệp năng động tạo nhiều đột phá mới để nông sản VN thực sự trở thành hàng hóa, tiếp cận được những thị trường xuất khẩu nổi tiếng “khó tính”. Nhân dịp này, chúng tôi xin phép được tri ân những người Thầy, nhưng cán bộ lão thành vẫn tiếp tục giúp đỡ thế hệ trẻ cho đến ngày cuối của cuộc đời - như cố GS Vũ Công Hậu.
            Đội ngũ cán bộ khoa học thực sự đã được đào tạo qua thực tiễn sinh động của nông nghiệp Việt Nam, trong chặng đường đổi mới của đất nước. Hôm nay, Huân Chương Độc Lập Hạng Nhất mà Nhà Nước trao tặng sẽ tiếp sức và động viên chúng tôi tiếp tục nâng cao đẳng cấp của một Viện khoa học trong khu vực và thế giới – “Viện đa ngành, chuyên môn sâu”. Chúng tôi xin cám ơn sự quan tâm giúp đỡ của Lãnh Đạo Bộ, sự động viên của nhiều cán bộ lão thành, sự hợp tác của tất cả các bạn đồng nghiệp và đặc biệt của bà con nông dân.
            Kính chúc sức khỏe quí vị.

Nguồn Website của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam http://www.iasvn.org/