DẠY VÀ HỌC. Việc thông hiểu ngôn ngữ và lịch sử văn hóa giữa các dân tộc có giá trị thật to lớn mà thông dịch là chìa khóa mở cửa nhìn ra thế giới. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều bài học quý. Nguyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập “mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao, viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời”, bằng mưu phạt tâm công đã làm khuất phục kẻ địch mạnh. Giáp Hải rất giỏi về văn học và ngoại giao, nhiều lần đi sứ phương Bắc, ông được người Minh kính phục gọi là Giáp Trạng Nguyên. “Bài thơ vịnh bèo” của ông đối đáp với Mao Bá Ôn có giá trị lui được mấy chục vạn quân không dàm vào cướp nước ta. Nguyễn Du với “Bắc Hành tạp lục” có bút lực không hề thua kém thời thịnh Đường. Điều áy đã cho thấy ông cha ta coi trong thông hiểu ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa đến dường nào. Trong thời đại hiện nay vai trò của thông dịch càng rất cần được chú trọng và đầu tư xây dựng đội ngũ dịch thuật đúng mức . Văn Bảy có ba bài viết đáng chú ý Văn học Việt Nam hiện nay ít giao lưu; Phiên dịch nên là quốc sách? Vùng trũng thiếu người san lấp, đăng trên mục Văn hóa toàn cảnh của trang Thể thao &Văn hóa.
Giai thoại "Bài thơ vịnh bèo"
Năm Đinh Dậu, nhà Minh mư¬ợn cớ phò Lê diệt Mạc hòng thôn tính nư¬ớc ta, sai đô đốc Cừu Loan và tư¬ớng Mao Bá Ôn đem quân hùng hổ tiến vào cửa ải Pha Luỹ. Chúng gửi chiến thư¬ cho triều đình Mạc, bảo phải đầu hàng thì mới tránh khỏi hoạ. Kèm theo th¬ư là một bài thơ Bèo thách hoạ, d¬ưới ký tên Mao Bá Ôn.
Tuỳ điền trục thuỷ mạc ¬ương châm
Đáo xứ khan lai thực bất thâm
Không hữu căn miêu không hữu diệp
Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm
Đồ chi tụ sứ ninh chi tán
Đản thức phù thời ná thứ¬c trầm
Đại để trung thiên phong khí ác
Tảo quy hồ hải tiện nan tầm.
(Mọc theo ruộng n¬ước hóp như¬ kim
Trôi dạt lênh đênh chẳng đứng im
Nào có gốc sâu, nào có lá
Dám sinh cành nhánh, dám sinh tim
Tụ rồi đã chắc không tan tác
Nổi đó nào hay chẳng đắm chìm
Đến lúc trời cao bùng gió dữ
Quét về hồ bể hẳn khôn tìm)
Mao Bá Ôn viết Vịnh bèo hàm ý khoa trương thanh thế ví nư¬ớc Nam sức yếu lực nhỏ, không thể địch lại Thiên triều nh¬ư cánh bèo mong manh trôi dạt trên mặt n¬ước lênh đênh, chỉ một cơn gió là tan.Vua Mạc Đăng Dung giao cho Giáp Hải lên tiếp sứ tận biên ải. Trạng nguyên Giáp Hải đã hoạ đáp:
Cẩm lâm mật mật bất dung châm
Đái diệp liên căn khởi kế thâm
Thường dữ bạch vân tranh thuỷ diện
Khẳng giao hồng nhật truỵ ba tâm
Thiên trùng lãng đả thành nan phá
Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm
Đa thiểu ngư¬ long tàng giá lý
Thái công vô kế hạ câu tầm.
(Ken dầy vải gấm khó luồn kim
Rễ lá liền nhau, động vẫn im
Tranh với bóng mây che mặt n¬ước
Chẳng cho tia nắng rọi xuyên tim
Sóng dồi muôn lớp thư¬ờng không vỡ
Gió táp ngàn cơn cũng chẳng chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm).
Mao Bá Ôn và Cừu Loan đọc bài thơ họa thấy lời lẽ sâu sắc và mạnh mẽ, thế lực nước Nam chưa dễ khuất phục nên đã lặng lẽ lui binh.
(Sưu tầm)
Văn học Việt Nam hiện nay ít giao lưu?
Nếu không có giao lưu với Trung Quốc thì Việt Nam khó mà có thơ Đường luật; không giao lưu với Chăm thì khó có quan họ Bắc Ninh và cả thơ lục bát. Và nếu không có giao lưu với Pháp, thì gần như không thể có Thơ Mới – “một thời đại trong thi ca” Việt Nam. Nhưng xem ra, ở thời đại mà hai chữ “giao lưu” đã trở nên vô cùng thông dụng như hiện nay, con đường giao lưu với thế giới của văn học Việt Nam lại đang “tuột dốc” so với thời “các cụ”. Đây là một vấn đề lớn cần nhìn lại thật cẩn trọng và nghiêm túc, nhất là trước thềm Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII sẽ diễn ra tại Hà Nội vào trung tuần tháng Tám tới đây
(Tổ chức chuyên đề: VĂN BẢY)
(TT&VH Cuối tuần) - Với nhiều nền văn hóa và văn chương lớn, dịch thuật (một công cụ bắt buộc của giao lưu) đã làm nên lịch sử và trở thành chính lịch sử ngữ văn của nước đó. Nếu chỉ nhìn văn học thời có chữ viết, thì văn học Việt Nam hiện nay ít giao lưu nhất, so với chính lịch sử của mình.
Giao lưu... một nửa
Giới nghiên cứu văn học chữ Hán đang bất ngờ và xôn xao về bộ sách dày 25 cuốn, có tên Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (tạm dịch: Toàn tập văn chương Hán văn Việt Nam của sứ giả khi sang Yên Kinh) do Viện Nghiên cứu văn sử ĐH Phúc Đán (Thượng Hải, Trung Quốc) và Viện Nghiên cứu Hán-Nôm Việt Nam phối hợp thực hiện, vừa xuất bản tại Trung Quốc vào tháng 5/2010. Bộ sách giá bán 15 ngàn nhân dân tệ (khoảng 40 triệu đồng) là cuộc thu gom và giới thiệu toàn bộ văn, thơ, ký chữ Hán của những sứ giả Việt Nam đã đi sứ đến Trung Quốc từ đời nhà Trần đến nhà Nguyễn, như là cách nhìn lại một thời kỳ dài của văn học chữ Hán Việt Nam trong cuộc giao lưu Đông Á. ĐH Phúc Đán cũng cho biết họ đang tiến hành làm các “Yên hành” (du hành về Yên Kinh, tức Bắc Kinh) của sứ giả Nhật Bản và Triều Tiên.Muốn đọc bộ sách này, độc giả chữ Hán ngày nay (cả ở Trung Quốc và các nước có truyền thống chữ Hán) tất nhiên phải cần đến những chú thích, chú giải thì mới có thể hiểu được ý người xưa. Nhưng rõ ràng, điều này là một chứng cứ quan trọng cho thấy suốt một thời gian dài, cả ngàn năm thời Bắc thuộc, văn học Việt đã có thể giao lưu trực tiếp, mà con đường đi sứ là một chứng tích khó phai mờ. Xưa nay giới nghiên cứu ngữ văn hay nói vui rằng thời Bắc thuộc văn học Việt Nam giao lưu một nửa. Một nửa vì “nghe nói” dù cách biệt, nhưng “đọc viết” lại được chú trọng. Chữ Hán không chỉ là công cụ để học làm quan, mà còn trở thành phương tiện gần như chủ đạo để diễn đạt tình lý (văn học) và là chứng nhân của thời đại (ghi chép lịch sử). Cái thứ chữ Hán trong Kinh thi hay tứ thư, ngũ kinh thời bấy giờ, mỗi nước ở Đông Á có cách đọc khác nhau, nhưng đọc viết thì có thể giống nhau và hiểu nhau được. Tương tự như vậy, với Đại Việt sử ký toàn thư, văn chính luận chữ Hán của Nguyễn Trãi, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát… nếu muốn, các nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… đều có thể tiếp cận được, mà chưa phải thông qua bản dịch.
Giao lưu ba phần tư
Theo vài con số thống kê, thời Pháp thuộc tại Việt Nam có đến hơn 90% dân số mù chữ, phần còn lại, số đông học tiếng Pháp, số ít vẫn theo con đường chữ Hán. Tuy chữ quốc ngữ (Latinh hóa tiếng Việt) không được dạy rộng rãi trong nhà trường, nhưng giai đoạn này vẫn được xem là sự nở rộ của văn học chữ quốc ngữ. Vì nhiều lý do, khó nói hết trong một bài viết ngắn, nhưng hẳn nhiên có một nguyên lý thuộc về giao lưu văn hóa, ngôn ngữ và văn học. Chính sự giao lưu đã thúc đẩy sự hoàn thiện và thăng hoa của chữ quốc ngữ, mà đỉnh điểm là Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới. Thời Pháp thuộc, vấn đề phát triển Việt ngữ và văn học Việt ngữ trong một môi trường giao lưu gần như triệt để đã được rất nhiều báo, tạp chí thời bấy giờ đề cập. Nhiều bài viết có tính cách xiển dương Việt ngữ của Phan Khôi cũng đã nói khá sâu sát về chuyện này. Phan Khôi vốn xuất thân Nho học, nhưng vì tiếp xúc, giao lưu với văn hóa Pháp; với tinh thần đổi mới của nhà văn Lỗ Tấn; người đầu tiên dịch Kinh thánh ra tiếng Việt; nên dần thay đổi bản thân và mở ra phong trào Thơ Mới.Trở lại cái ý chỉ có 10% dân số biết chữ (đầu thế kỷ 20 Việt Nam có khoảng 25 triệu người), và đương nhiên, cũng chỉ một phần nhỏ trong 10% ấy là có làm việc liên quan tới ngữ văn và báo chí. Những nhà làm việc chữ nghĩa thời này đa số xuất thân từ trường Tây, hoặc có giao lưu sâu sát với ngữ văn Pháp, nên được/bị xem là thế hệ giao lưu ba phần tư. Nghĩa là, đa số đều có thể nghe nói đọc viết, nhưng ít viết tiếng Pháp; cộng với một bộ phận chỉ có thể đọc viết; bình quân mà thành ra ba phần tư.Trong bốn chức năng của ngôn ngữ, phần “đọc” của các nhà thơ nhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc là nổi trội nhất. Vì đọc nhiều, dịch nhiều, nhất là văn học lãng mạn Pháp, nên văn học Việt Nam thời đó tỏ rõ sự ảnh hưởng. Mà ảnh hưởng cũng là một biểu hiện rõ nét của giao lưu; để từ đó, sẽ có những tác giả tìm ra lối đi cho riêng mình. Một ít các tác giả thời bấy giờ có sáng tác bằng tiếng Pháp, dù không nhiều người thành công và có thể bị quy ghép là “tay sai”, nhưng rõ ràng, xét về mặt giao lưu, đây là những trường hợp rất cần được nghiên cứu nghiêm túc, dài hơi hơn một bài báo.
Ngoại ngữ xa lạ với giới cầm bút?
Một trong những khẩu hiệu đã trở thành tư tưởng của thời giao lưu ngày nay (toàn cầu hóa) là “suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương”. Mà muốn suy nghĩ toàn cầu thì đương nhiên phải cần đến tới các phương tiện, các công cụ trợ giúp như ngôn ngữ, internet, sách vở. Không cần nhìn vào Hội Nhà văn, cũng dễ dàng để thấy giới cầm bút Việt Nam hiện nay còn khá xa lạ với ngoại ngữ. Có người nói phải đến 95% giới cầm bút là không thể nghe nói đọc viết một bài thơ khác với ngôn ngữ của chính mình. Tôi không muốn tin con số nghe có vẻ bi đát và đáng báo động này, nhưng cũng không biết làm sao để chứng minh ngược lại.Tình trạng này cũng xảy đến với văn học hải ngoại, nơi có sự phân cực về giao lưu rõ nét hơn. Những tác giả khi rời Việt Nam đã biết ngoại ngữ vốn không nhiều, phần đông trong số họ đã trở nên mệt mỏi nên không muốn nỗ lực nhiều cho việc giao lưu. Thế hệ một rưỡi, hoặc thứ hai, thì ít hoặc không còn liên quan tới tiếng Việt, nên nhịp cầu giao lưu cũng không thể mở lối. Còn phần đông những cây bút không hoặc yếu về ngoại ngữ, khi sang nước ngoài định cư, về mặt văn học, họ chỉ muốn co cụm trong cộng đồng nhỏ của mình. Cũng có quan điểm cho rằng dịch thuật phải là nơi tạo nhịp cầu để giao lưu, vì không thể ép tất cả hay phần đông giới cầm bút phải biết ngoại ngữ. Thế giới vốn rộng và có nhiều nền văn học lớn, chẳng lẽ phải biết hết các ngôn ngữ đó. Tuy nhiên, trong 10 năm qua, chỉ cần hỏi qua các nhà xuất bản, các công ty làm sách thì đủ biết số sách văn học, nhất là lịch sử, nghiên cứu văn học và thơ, được dịch ra tiếng Việt là khá ít. Đó là chưa nói không phải dịch giả nào cũng có thể nắm bắt được và đúng các trào lưu mới của văn học; nếu chỉ dịch theo kiểu “cứ tiểu thuyết bán chạy là dịch” thì khó bề nói tới chuyện thông hiểu và giao lưu thực sự Cho nên, giữa cái thời mà ai cũng có thể ra trang mạng riêng, thế giới thành một cái làng, tưởng giao lưu là dễ, nhưng với giới văn học thì gần như ngược lại. Chậm chạp, lệch lạc, hoặc đa phần là khép kín là những mô tả dễ thấy. Đa số các trang mạng văn học chỉ làm “nhiệm vụ” in tác phẩm tiếng Việt, mà ít khi nghĩ đến chuyện theo đuổi một trào lưu văn học của thế giới, hay dịch một cách có hệ thống các tác giả, các trào lưu mới của Việt Nam, ra tiếng Anh chẳng hạn. Trong các cuộc giao lưu trực tiếp, những đại diện văn học của quốc tế thường hỏi Việt Nam có tạp chí, trang web nào dành cho việc giao lưu không? Câu trả lời thường là chưa có; hoặc đang xây dựng – mà thường cũng là xây dựng theo kiểu đối phó – hết tài trợ, hết dự án, rồi thôi.
Nhìn vào các trường quốc tế, các trung tâm ngoại ngữ mọc lên khắp nơi thì đủ biết ngoại ngữ đang giữ vai trò như thế nào trong xã hội Việt Nam. Thế nhưng, hình như ngoại ngữ vẫn còn khá xa lạ với giới cầm bút hiện nay?! Những cây bút sinh trong giai đoạn từ 5X tới hết 8X ở Việt Nam, chẳng có mấy người thông thạo đủ mức để đứng ra làm nhịp cầu dịch thuật, hay sáng tác bằng một ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình. Thành ra, dù quốc tế có muốn giao lưu với Việt Nam, thì trong một khí quyển khép kín như vậy, họ cũng không biết bắt đầu từ đâu.
Vì thế, nếu so với thời Bắc thuộc và Pháp thuộc (dù giao lưu bị động) thì mối tương quan của văn học Việt Nam thời nay với quốc tế, cùng lắm là dừng lại ở mức đọc người ta, chứ yếu kém ở chiều ngược lại.
Phiên dịch nên là quốc sách?
1. Trong suốt một ngàn năm trí thức Việt Nam không nghĩ tới việc dịch kinh điển của Trung Quốc vì ai đi học cũng học chữ Nho. Việc dịch ra chữ Nôm không cần thiết lắm vì muốn học chữ Nôm cũng phải biết chữ Nho. Cho tới thế kỉ 19 ở Á Đông chữ Nho vẫn là văn tự đại đồng của những quốc gia gọi nhau là đồng văn (dùng chung một văn tự để truyền đạt). Cho nên Nguyễn Du ngoài Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh bằng chữ Nôm, thì làm mấy trăm bài thơ chữ Nho, hầu như không làm thơ Nôm. Cũng vậy, Cao Bá Quát làm chỉ có 7 bài hát nói chữ Nôm nhưng làm hơn ngàn bài thơ chữ Nho. Thơ quốc ngữ, quốc âm lúc đó đều viết bằng chữ Nôm cho người đọc trong nước. Còn thơ chữ Nho là tham gia vào mạng trí thức quốc tế lúc bấy giờ và họ nghĩ mãi đến về sau. Việt Nam từ năm 1910 đã bị Pháp bãi bỏ khoa cử chữ Nho và vì thế tầng lớp gọi là trí thức bị cắt với nguồn mạch của vùng khối chữ vuông (chữ Nho) là Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc (cũng như với Đài Loan, Hong Kong, Singapore). Đây là một sự xâm lăng của thực dân về văn hóa, không phải sự tự chọn, tự nguyện của người Việt. Thế hệ nhà Nho như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Phan Bội Châu, Phan Khôi là lớp cuối cùng của truyền thống ngàn năm đó và họ đã ghi lại trong thơ văn, tác phẩm tâm trạng của tầng lớp trí thức dân tộc đầu thế kỉ 20. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc không trải qua sự đoạn tuyệt như Việt Nam. Và vì vậy trí thức Việt Nam từ 1919 đã bị “bật gốc” với di sản của tổ tiên. Sự hoang mang về bản sắc và căn cước của chúng ta ngày nay có một nguồn gốc, một nguyên nhân rất cụ thể như vậy. Chúng ta mất lối về với di sản, với nguồn cội – khác với trí thức ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Chúng ta lại không tiếp cận, thu nhập được tinh hoa thế giới vì hàng rào ngôn ngữ văn tự. Mà dịch thuật thì yếu kém, làm sao nói đến chuyện giao lưu.
2. Người Việt được xem là thông minh và hiếu học, nhưng ngày nay học sinh Việt Nam quá thua thiệt so với thế giới. Nhất là sự thua thiệt về văn hiến, tức là về các thiết chế văn hóa, mà cụ thể nhất là gia tài của chúng ta – kho sách chữ Việt để học sinh có thể học tập tham khảo – trong đó thiếu sót nhất là những sách công cụ tiểu học và những sách kinh điển đại học. Cho dù sách công cụ tiểu học trong vòng thế kỉ vừa qua chúng ta đã làm khá tốt, kể từ 1895 khi Huỳnh Tịnh Của xuất bản cuốn Đại Nam Quấc âm tự vị và từ 1942 khi Hoàng Xuân Hãn xuất bản cuốn Danh từ khoa học. Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, giữa hai văn minh Ấn Độ và Trung Quốc Gần 2.000 năm nay tiếp nhận từ Ấn Độ ở Việt Nam gần như chỉ có đạo Phật và cũng chỉ có một phần nhỏ của đạo Phật Đại thừa/ Bắc tông. Chúng ta thua hầu hết các nước Đông Nam Á là mãi tới năm 2000 chúng ta mới dịch được Đại tạng kinh tiếng Pali của Phật giáo Nguyên thủy/Nam tông và hiện mới bắt đầu xúc tiến việc dịch Đại tạng kinh Đại thừa Trung Quốc, và hầu như chưa động gì đến Đại tạng kinh Tây Tạng. Văn hiến kinh điển của các trung tâm văn minh khác, chúng ta chưa phiên dịch được một phần trăm, phần ngàn. Hiện nay, chúng ta chưa có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa. Vì thế những mảng sách dịch của chúng ta manh mún, chạy theo thời thượng, hoặc ngẫu hứng, tùy tiện. Vừa ít về số lượng, kém về phẩm chất, và nhất là lệch lạc về sự tuyển chọn và phân bố. Có những thời đại, khu vực, và ngôn ngữ quan trọng của thế giới như Hi Lạp cổ đại, châu Âu thời Phục hưng, Trung Âu đương đại, ngôn ngữ Tây Ban Nha… gần như là những khoảng trắng đối với tiếng Việt vì sự dịch thuật quá mỏng.Thời Nho học lấy chữ Nho làm phương tiện truyền đạt, thời Tây học lấy chữ Pháp làm chuyển ngữ nên việc dịch thuật không đặt ra với những tác phẩm nền tảng mà chỉ dành cho những cuốn sách phổ thông, đại chúng, hay giải trí - chủ yếu là tiểu thuyết bình dân. Từ 1945 lấy tiếng Việt làm cơ sở giáo dục trong nhà trường từ mẫu giáo đến đại học là định hướng đúng. Tuy nhiên, với thực trạng là cần tiếp thu văn hóa thế giới chúng ta chưa đặt ra và giải quyết tốt vấn đề học ngôn ngữ văn tự quốc tế cũng như việc dịch thuật quy mô những kinh điển của loài người.Bài học của các quốc gia trên thế giới là phải chọn một hoặc vài ngôn ngữ quốc tế từ lớp 1 để học sinh có thể tiếp cận tinh hoa của cả loài người và giao tiếp với toàn cầu ngay sau khoảng 5 đến 10 năm ở nhà trường. Đồng thời phải tổ chức, hỗ trợ để trong một thời gian ngắn nhất (một thế hệ 30 năm) có thể giải quyết căn bản khoảng 500 đến 1.000 tác phẩm quy điển tối thiểu của nhân loại mà một công dân của thế giới không thể không tiếp cận, ít ra qua tiếng mẹ đẻ của mình. Một sinh viên Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc bây giờ ở trong tình trạng có thể tiếp cận với di sản toàn cầu qua tiếng mẹ đẻ. Bao giờ một sinh viên Việt Nam mới khỏi thua thiệt ngay từ trước khi khởi hành?
3. Kinh nghiệm của thực dân, đế quốc không phải chỉ có mặt tiêu cực, mà còn có mặt tích cực nữa. Ấn Độ có hàng chục ngôn ngữ nên sau khi được Anh trả độc lập năm 1947, họ vẫn giữ tiếng Anh làm chuyển ngữ ở nhà trường để học sinh sinh viên có thể lợi dụng ngay cái ngôn ngữ phổ cập này mà có khối lượng thông tin và công cụ hàng đầu thế giới. Philippines cũng vậy. Các nước nhỏ ở châu Âu và các nước cựu thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin đều không mắc vào chủ nghĩa ái quốc cực đoan đến mức bài trừ tiếng nước ngoài mà trở về trạng thái cô lập của bộ lạc, tiểu quốc khiến cho không biết đến bao giờ mới có thể đua chen trên toàn cầu hay ngày càng tụt hậu.Lịch sử giao lưu thế giới, đặc biệt là giai đoạn tích cực nhất từ 500 năm nay, đặt nền tảng trên sự dịch thuật, từ kinh sách đến tài liệu khoa học kĩ thuật. Một trí thức ngày nay không thể không biết ngoại ngữ để tiếp cận với thông tin toàn cầu. Người ta đã tính rằng cứ 10 năm thì khối lượng thông tin tri thức thế giới tăng gấp đôi. Một người dù có học vị cao nhất ở đại học cũng trở thành lạc hậu nếu vài ba năm không tiếp thu thông tin mới của thế giới trong địa hạt chuyên môn của mình. Đại học Oxford với trên 700 năm tuổi và là một trong vài trường uy tín nhất thế giới chỉ có khoảng 25.000 sinh viên, nhưng là tinh hoa của toàn cầu. Ở đây người ta không mở phân khoa Văn học So sánh (Comparative Literature) mà gọi là Dịch thuật học (Translation Studies).Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật Bản thành công với cuộc Duy tân 1867–1895, vì đã gửi sinh viên đi khắp thế giới với chủ đích là để học hỏi và dịch thuật tầm tri thức mũi nhọn của châu Âu. Và trong hai thập niên 1960–1980 Hàn Quốc đã động viên toàn bộ sinh viên du học và trí thức để dịch thuật hàng ngàn tác phẩm kinh điển cho học sinh và nhân dân trong nước có thể theo kịp với thế giới.Đã đến lúc chúng ta phải biết hổ thẹn
Vùng trũng thiếu người san lấp
(TT&VH Cuối tuần) - Các nhân vật phát biểu trong bài này tuy xuất phát từ điểm nhìn cá nhân, nhưng vì những kinh nghiệm giao lưu thực tế mà họ tích lũy được, đã vẽ nên được một phần diện mạo của giao lưu văn học ở Việt Nam.
Nhà thơ Inrasara: Còn nghi ngại...
Mở cửa, văn chương Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho giao lưu. Giao lưu đúng nghĩa là đến với nhau trong tinh thần mở, bình đẳng và không kiêng dè. Tiếng Việt với nhau, ta vẫn chưa giao lưu. Các tạp chí văn chương quan trọng của người Việt ở nước ngoài vẫn chưa được phát hành chính thức ở trong nước. Các tác phẩm của các tác giả lớn cũng vậy. Chúng ta vẫn còn nghi ngại cái gì đó, thậm chí, còn phân biệt đối xử. Việt Nam là đất nước đa dân tộc, văn chương của các dân tộc thiểu số, cả cổ điển lẫn đương đại, gần như bị coi là ngoại biên. Chúng ta vẫn chưa có sự giao lưu thích đáng như đòi hỏi phải thế. Tạp chí Văn hóa dân tộc của Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam ra mỗi tháng một kì, gồm nhiều bộ môn khác nhau, chứ không dành riêng cho văn học. Mà hầu hết được viết bằng tiếng Việt. Tạp chí Văn nghệ dân tộc và miền núi (sau đó đổi tên là Văn nghệ dân tộc) là phụ trương của báo Văn nghệ, đã chết 3 năm qua, hết cơ may sống lại. Thì lấy đâu cơ hội giao lưu để có thể gọi là hiểu biết lẫn nhau.Nhìn rộng ra Đông Nam Á, dù trên bình diện kinh tế và chính trị chúng ta đã mở, riêng văn học của khối này vẫn cứ đóng. Trong buổi giao lưu với Hội Nhà văn và sinh viên văn chương Thái Lan nhân dịp nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2005, tôi nói: Trong 9 anh chị em được coi là đại biểu xuất sắc nhất của văn chương đất nước mình năm nay, có ai biết đến nhau? – Không ai cả! Không biết tên tuổi hay sáng tác của nhau, thì làm gì có chuyện đọc nhau. Văn học các nước Đông Nam Á tự xem thường mình và xem thường lẫn nhau. Chúng ta có thể đọc các tác giả Tây Âu hay Hoa Kỳ, biết nhiều về văn học Nga hay văn học Nhật Bản, thậm chí Hàn Quốc, nhưng văn học các nước trong khu vực thì không! Văn học Đông Nam Á vẫn còn là vùng trũng của thế giới. Mãi đến hôm nay chúng ta vẫn chưa nỗ lực san lấp vùng trũng đó
.Nhà thơ Mai Văn Phấn: Như “người mù sờ voi”
Dù đã ít nhiều giao lưu với văn học thế giới trong mấy thập niên gần đây (tạm lấy mốc từ sau 1975), thực trạng văn học nước nhà, đặc biệt trên lãnh vực thi ca vẫn trì trệ và lạc hậu so với một số nước trong khu vực, như Thái Lan, Indonesia, Malaysia…, chứ chưa dám so sánh với các “cường quốc thi ca” như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc… Sau hiện tượng Thơ Mới đến nay, chúng ta vẫn chưa có hệ thống lý luận cập nhật, hoàn chỉnh về các hiện tượng văn học trong nước cũng như các khuynh hướng bên ngoài, để nhìn nhận, đánh giá và định hướng cho thơ Việt đương đại. Khuynh hướng thi ca cũ kỹ, cách đây gần một thế kỷ, hiện vẫn thống trị trên văn đàn, định hình quan niệm thẩm mỹ cho bạn đọc, làm khuôn mẫu cho sách giáo khoa từ bậc tiểu học đến đại học và cao hơn nữa… Có thực trạng này là do yếu kém về giao lưu, dịch thuật. Do không có đủ nhận thức lý luận kịp thời, nên đa số bạn đọc Việt Nam hiện nay không phân biệt được “chân - giả” trước những hiện tượng đổi mới. Họ chỉ đưa ra những khái niệm mơ hồ, áp đặt cho tất cả những tác phẩm khác với lối mòn thẩm mỹ của họ, như: tắc tị, rối rắm, phản cảm, đánh đố, làm dáng, xa lạ, dẫm phải “phân Tây”. Internet bùng nổ ở Việt Nam đã mang lại nhiều sắc màu hơn trong giao lưu quốc tế, cả giao lưu văn học. Nhưng các nhà thơ và bạn đọc nước ta vẫn tiếp xúc với thi ca thế giới như những “người mù sờ voi”. Internet cũng như các phương tiện truyền thông giúp chúng ta ra được biển lớn, nhưng nếu không có hệ thống lý luận, chẳng khác gì người không biết bơi bị ném xuống nước. Tôi mong chờ các cơ quan chuyên trách, Viện Văn học… sớm có kế hoạch chiến lược về vấn đề này. Chúng ta nên tổ chức các hội thảo chuyên đề cho từng khuynh hướng, đăng lại các chủ thuyết, nhận định, tuyên ngôn hay tiêu chí, quan trọng hơn là các tác phẩm tiêu biểu cho từng trường phái. Điều đó tạo cho các nhà thơ và bạn đọc tầm nhìn phổ quát mang tính định hướng về thi ca thế giới, tạo cơ hội để phát huy và làm phong phú thêm giá trị của văn học Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thiếu một chiến lược...
Nền văn học chúng ta chưa phải là một nền văn học lớn nhưng lẽ ra nó phải được thế giới biết đến nhiều hơn so với thực tế. Nguyên nhân chính dẫn đến việc văn học Việt Nam xuất hiện một cách rời rạc và không có hệ thống trên thế giới là do chúng ta không có một chiến lược cho việc nà. Hội nghị giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài mà Hội Nhà văn tổ chức đầu năm 2010 nhìn một cách kĩ lưỡng và công bằng mới chỉ là khởi xướng. Bởi thực tế, Hội Nhà văn hay bất cứ tổ chức nào của Nhà nước chưa bao giờ thực thi công việc đó như một chiến lược văn hóa. Hầu hết những tác phẩm văn học có tiếng vang của văn học Việt Nam trên thế giới từ sau 1975 đến nay là do các cá nhân dịch và giới thiệu, mà phần chủ động hầu hết do cá nhân nhà văn và dịch giả nước ngoài chủ động. Tôi nhớ cách đây khoảng mươi năm gì đó, Hội Nhà văn ra mắt tạp chí The Vietnamese Literature bằng tiếng Anh. Tôi đã rất hào hứng tìm đọc số 1 tạp chí đó và thất vọng ê chề. Có quá nhiều trang dịch tiếng Anh sai một cách nghiêm trọng và vô cùng ngớ ngẩn. Điều đó cho thấy những người làm tạp chí này và những người quản lý nó rất kém cỏi và vô trách nhiệm. Việc giới thiệu văn học như kiểu làm tạp chí này vô cùng phản tác dụng.
Dịch giả Cao Việt Dũng: Cần môi trường cởi mở
Nếu xét dịch thuật văn học theo các tiêu chí mức độ đa dạng, chất lượng, sự tham gia tích cực của giới trẻ thì tôi cho rằng chưa bao giờ dịch thuật văn học tại Việt Nam “được mùa” như hiện nay. Sự đa dạng tăng lên đáng kể với rất nhiều Sydney Sheldon và Agatha Christie, một không khí dịch thuật mềm mại hơn chứ không còn căng cứng với toàn là Liên Xô và “các nhà văn có cảm tình với chúng ta”, nhưng chất lượng dịch thì vô cùng đáng bàn với vô số bản dịch không chính xác và bị cắt xén tùy ý, chất lượng in ấn thì nhìn chung là rất tồi tệ. Cho đến gần đây tôi tin là tình hình đã được cải thiện rất nhiều; việc tham gia Công ước Berne cũng là một yếu tố quan trọng.Tôi không nói được nhiều về tình hình dịch thuật văn học Việt Nam ra tiếng nước ngoài vì lĩnh vực này không nằm trong mối quan tâm của tôi, nhưng tôi cho rằng nhà xuất bản và các cá nhân dịch giả là hai thành tố quyết định sự phát triển của dịch thuật và giao lưu văn hóa. Điều tốt nhất mà các thiết chế có thể làm là hỗ trợ, tạo ra một môi trường cởi mở.
Nhà văn Đặng Thân: Chưa đúng diện mạo
Vấn đề dịch và phổ biến văn học Việt Nam ra tiếng Anh chưa phản ánh được diện mạo của văn học hiện nay. Thứ nhất là do đội ngũ dịch thuật. Phần lớn các bản dịch văn học ra tiếng Anh đã có đều kém. Nguyễn Huy Thiệp đã phải kêu giời vì ông được người Ý trao giải thưởng chỉ là nhờ bản dịch hai truyện ngắn do một dịch giả Úc thực hiện, còn lại các bản dịch khác đều vứt đi cả. Các dịch giả ngoại khó mà truyền tải hết được mọi ý của một tác phẩm văn học Việt là chuyện tất nhiên. Các dịch giả nội thì gặp nhiều khó khăn cả về trình độ lẫn điều kiện. Tôi thấy những người dịch tiếng Anh giỏi thực sự ở trong nước đều chưa tham gia vào dịch văn học. Lý do cực đơn giản: những người giỏi thì họ có quá nhiều việc nên không còn thời gian tham gia vào một hoạt động với những đồng “nhuận dịch” rẻ bèo như hiện nay, cộng với cách làm ăn tùy tiện, lật lọng của giới làm sách. Tôi thấy cái Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới vừa rồi rất là phù phiếm và tốn kém. Bỏ ra cả đống tiền để lôi kéo các dịch giả ngoại là điên rồ. Họ không thể nào hiểu hết tiếng Việt và văn hóa, đời sống Việt để dịch cho tốt được. Cách tốt nhất là dùng số tiền đó chi cho các dịch giả nội tài giỏi, đào tạo và nâng cao trình độ các dịch giả văn học, tổ chức các hội thảo dịch thuật… Muốn có các bản dịch tốt chỉ có thể dựa vào sự tinh thông của các dịch giả trong nước.Thứ hai là hầu hết các tác phẩm được dịch đều không gây được sự chú ý đối với độc giả ngoại. Văn chương Việt đương đại rất phong phú nhưng lại đang nằm ngoài sự chú ý của các giới chức sắc. Tôi được biết có một số nước quan tâm đến văn học Việt Nam, thế nhưng khi các dịch giả của họ đến tìm hiểu các tác giả Việt Nam thông qua Hội Nhà văn giới thiệu thì họ đều lắc đầu chán ngán. Không tạo điều kiện cho các tác phẩm văn học thực sự được ra đời thì lấy cái gì để mà dịch ra cho thiên hạ đọc?
Nguyễn Tiến Văn
Tất cả văn minh của loài người đều nhờ cậy vào chữ viết mà lưu truyền. Cho nên học nói là trách nhiệm của mẹ cha, còn học chữ để đọc được kinh sách là trách nhiệm của nhà trường qua thầy cô. Người xưa phân biệt bậc tiểu học là học chữ nghĩa và bậc đại học là học đạo lí. Xét như thế thì mọi tự điển, từ điển, bách khoa thư, sách giáo khoa, tuyển tập, ngữ pháp, tập làm văn… là thuộc tiểu học. Chỉ kinh điển, thánh thư, triết học, khoa học, mĩ học, văn học mới là thuộc đại học. Nhà xuất bản từ thư và sách giáo khoa lớn nhất của Nhật Bản vì vậy mới lấy tên chính xác là Tiểu học quán (Shogakkukan). Giáo dục ở Việt Nam không huấn luyện cho học sinh và cả thầy cô sử dụng từ điển, bắt đầu từ ngay cấp cơ sở làm quen với việc tra cứu độc lập để tự học tiếng mẹ đẻ, là một thiếu sót lớn. Học sinh Việt Nam thường chỉ biết đến những tự điển và từ điển song ngữ khi bắt đầu học tiếng nước ngoài và cũng thường ngừng lại không tham khảo được những từ điển định nghĩa bằng bản ngữ (từ điển tiếng Anh định nghĩa bằng tiếng Anh; tiếng Pháp bằng tiếng Pháp…). Ngay từ khi bước khởi đầu như thế không tạo cho học sinh cách hiểu sâu xa bằng chính tinh thần của ngôn ngữ muốn học mà chỉ biết đại khái qua tiếng Việt gần tương đương và thường không chuẩn xác. Đó là một trong những nguyên nhân khiến học sinh sau 7 năm ở trung học tuyệt đại đa số vẫn không có được kĩ năng sử dụng thông thạo về tất cả các mặt: nói, nghe, đọc và viết.
Văn Bảy (thực hiện)
- Hoàng Kim
- Nhà sách HOÀNG GIA
- Ngọc phương Nam
- Chào ngày mới
- Thung dung
- Dạy và học
- Dạy và học BLTV
- Dạy và học ĐHNL
- Cây Lương thực
- Food Crops News
- Food Crops.vn
- Food Crops
- Green Super Rice
- Cassava Viet
- Cassava News
- Gardening Tips
- Học mỗi ngày
- Danh nhân Việt
- Tin Nông nghiệp Việt Nam
- Tình yêu cuộc sống
- Kim on Twitter
- KFB
Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010
Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010
Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam
DẠY VÀ HỌC. Tại sao Việt Nam đến nay chưa có thương hiệu riêng cho gạo xuất khẩu mặc dù đã tham gia xuất khẩu gạo nhiều thập niên? Làm sao xây dựng một thương hiệu cho lúa gạo VN theo tiêu chuẩn quốc tế? Từ Cali (Mỹ), Tiến sỹ Trần Văn Đạt , nguyên chánh chuyên gia FAO, Rom đã gửi về bài viết :" Vài ý kiến về xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam"
Vài ý kiến về
XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO LÚA GẠO VIỆT NAM
TS. Trần Văn ĐạtNguyên Chánh Chuyên Gia FAO, Rome
Từ thế kỷ 19 hoặc hơn, Việt Nam (VN) đã xuất khẩu gạo rất sớm đến các nước láng giềng như Hồng Kông, Trung Quốc, Nhựt Bổn, Philippines, Indonesia, Malaysia...; nhưng hầu hết là loại gạo có chất lượng thấp. Trong thời thực dân Pháp, gạo thơm cũng được xuất khẩu từ Miền Bắc qua Hồng Kông, sau đó vào Trung Quốc rồi tái xuất khẩu qua Nhựt Bổn với số lượng đáng kể (Dumont, 1995), nhưng không có được thương hiệu nổi tiếng trong vùng Đông Á này, vì thiếu chủ trương xây dựng thương hiệu của nhà nước bấy giờ!
Vào đầu thế kỷ 20, gạo xuất khẩu VN cũng có thương hiệu khá nổi tiếng một thời; đó là gạo Cà Đung Gò Công. Các thương gia Pháp rất thích giống lúa này vì hạt gạo tròn lớn gần giống với loại gạo Japonica được giới tiêu thụ ưa chuộng đến nay. Họ mua lúa Cà Đung đem xay chà ở Tây Ban Nha, rồi pha trộn với gạo tốt của xứ nầy để đem vào bán ở Pháp với số lượng khá lớn, khoảng 100.000 tấn mỗi năm (Service des affaires économiques, 1916). Sau vài thập niên, Việt Nam không còn xuất khẩu loại lúa này qua Châu Âu nữa, do chất lượng không đạt chuẩn quốc tế: lẫn lộn nhiều giống lúa khác, có nhiều hạt cỏ, chất lạ, gạo vàng và tồn trữ kém. Thương hiệu lúa Cà Đung không tồn tại lâu dài! (Trần Văn Đạt, 2005).
Từ bài học nêu trên, xây dựng thương hiệu cho một loại nông phẩm đã là khó, và làm sao để giữ thương hiệu đó lâu dài lại càng khó hơn, như Basmati của Pakistan và Ấn Độ hiện diện từ thập niên 1930 đến nay. Để có một thương hiệu cho lúa gạo xuất khẩu, Việt Nam cần phải có một chương trình phổ biến và nội lực thật sự, nghĩa là gạo Việt phải là đặc sản, chất lượng phải đạt chuẩn mực yêu cầu, năng suất tương đối cao, môi trường sản xuất bền vững và được đông đảo giới tiêu thụ ưa thích. Ngoài ra, thương hiệu cần được tích cực bảo vệ và phổ biến liên tục.
Tuy nhiên, đến nay gạo xuất khẩu VN chỉ biết đến là loại gạo trắng bình thường, nên chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường thế giới. Trong khi đó, Thái Lan có gạo nổi tiếng khắp nơi như Khaw Dawk Mali, Hom Mali, Jasmine 85; Ấn Độ và Pakistan có gạo Basmati; Âu Châu (Ý) có gạo Arborio, Thaibonet (M101 của Mỹ); Úc Châu có Amaroo... Hơn 3 thập niên qua, Việt Nam đã phóng thích nhiều giống lúa cải thiện, nhưng chưa có giống nào lai tạo trong nước được trồng đại trà như các giống nhập nội từ Viện Lúa quốc tế IRRI, Philippines (IR 64, IR 50404, CR 203), Thái Lan (Hương lài, Khao Dawk Mali), Đài Loan (VD 10, VD 20), Trung Quốc (Khang Dân, Q5).
Vài nguồn thông tin cho rằng giá gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế luôn thấp hơn gạo Thái Lan từ 50 đến 100 Mỹ kim mỗi tấn cho cùng một chủng loại do thiếu thương hiệu nổi tiếng. Điều này chỉ đúng một phần, ngoài ra còn do chất lượng kém (trong quá trình trồng trọt, thu mua và biến chế gạo cho thị trường), giá thành cao, cộng thêm điều kiện tiếp thị, quản lý xuất khẩu của các doanh nghiệp nhà nước.
Đồng bằng sông Cửu Long đã triển khai kế hoạch 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, nhưng vẫn còn bị giới hạn, chủ yếu do giá mua lúa chất lượng cao chưa phân biệt với chất lượng thấp, và thiếu các giống lúa chất lượng tốt năng suất cao mà nông dân và thị trường đòi hỏi. Hơn nữa, các thương lái có khuynh hướng mua lúa không phân biệt nhiều giữa lúa có chất lượng cao và thấp. Trong thời gian qua, Việt Nam trồng lúa nhằm xuất khẩu gạo với đặc biệt quan tâm đến số lượng hơn là chất lượng, trong khi quên đi thị trường nội địa đòi hỏi chất lượng cao. Cho nên, gạo tốt của Thái Lan, Cambodge có cơ hội xâm nhập dễ dàng ở các tỉnh biên giới và đô thị lớn trong nước.
Tóm lại, Việt Nam đến nay chưa có thương hiệu nổi tiếng lâu dài do các lý do sau đây:
(1) Chưa có chương trình và nổ lực thực sự hữu hiệu để xây dựng và phổ biến thương hiệu cho lúa gạo VN, và thiếu điều hợp cho mục tiêu này,
(2) Chưa có nội lực hay chưa có giống lúa chất lượng bản xứ được trồng đại trà, và môi trường sản xuất bền vững,
(3) Thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, thương lái, nông dân và khảo cứu,
(4) Thiếu tên thương hiệu hấp dẫn để quảng bá trong và ngoài nước.
Làm sao xây dựng một thương hiệu cho lúa gạo VN theo tiêu chuẩn quốc tế?
Bảy bước để tiến đến thành công xây dựng thương hiệu lúa gạo VN:
Bước 1: Trước hết cần thiết lập Chương trình Quốc gia Xây dựng Thương hiệu cho Lúa gạo VN, nhằm tăng thêm giá trị gạo Việt trên thị trường quốc tế và quốc nội, đồng thời khuyến khích tăng gia sản xuất lúa gạo chất lượng cao trong nước.
Hiện nay đã có vài hoạt động xây dựng thương hiệu như thương hiệu Một bụi đỏ Hồng Dân (gạo vàng sẫm có ánh hơi đỏ) ở Bạc Liêu, thương hiệu gạo thơm ST ở Sóc Trăng, thương hiệu Agrimex-Kitoku (hợp tác với Nhựt)..., nhưng còn riêng rẽ, thiếu chiến lược phối hợp và hỗ trợ đắc lực của nhà nước trong kế hoạch hóa công tác xây dựng thương hiệu lúa gạo cho VN. Cần nhớ rằng giới tiêu thụ trong nước cũng như thế giới đều ưa chuộng loại gạo có thương hiệu dù giá cao hơn.
Bước 2: Chọn tên thương hiệu hấp dẫn cho gạo xuất khẩu VN để tránh xuất khẩu gạo trắng không có tên thương hiệu như hiện nay. Thương hiệu có thể do từ tên một giống lúa nổi tiếng được nhiều người ưa thích, như Basmati 370, Khaw Dawk Mali, Jasmine 85; hoặc dùng một tên tổng quát cho nhiều loại gạo xuất khẩu, như gạo Basmati, gạo Jasmine. Khi gặp gạo Jasmine người ta nhận ra đó là gạo Thái Lan. Gạo Basmati là của Pakistan hay Ấn Độ.
Việt Nam trước hết có thể chọn những tên như Perfume rice, Aroma, Fragrance, Scent, Nàng hương, Lúa thơm… cho các loại gạo thơm, loại thượng hạng (0% tấm) với hình dáng, kích thước, mẫu mã ưa thích, có tính cách bản địa; và phải có chiến lược tiếp thị tốt để phổ biến thương hiệu rộng rãi trong và ngoài nước.
Bước 3: Phải nổ lực nhiều hơn nữa trong công tác khảo cứu: thu thập, tuyển chọn và lai tạo các giống lúa chất lượng tốt cho xuất khẩu. Mặc dù có nhiều giống lúa thơm được tiêu thụ trong nước, nhưng chỉ có một vài giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mà thôi. Đây là công tác đầu tiên và quan trọng của một Chương trình Xây dựng Thương hiệu. VN đã phóng thích nhiều giống lúa cải tiến, nhưng chưa có giống lúa nào nổi bật được trồng đại trà, ngoại trừ một số giống lúa có nguồn gốc nước ngoài.
Đối tượng lúa xuất khẩu để nghiên cứu cần bao gồm (i) các loại lúa thơm bản xứ, (ii) loại lúa thượng hạng (ăn ngon, với hạt có kích thước, hình dáng, độ dẽo và ít mùi thơm thích hợp giới tiêu thụ), (iii) loại lúa hữu cơ (không dùng chất nông hóa), (iv) loại lúa gạo tốt và an toàn cho sức khoẻ (có hàm lượng vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khoẻ), và (v) loại lúa gạo GAP.
Để tạo một ấn tượng tốt về thương hiệu cho gạo Việt lâu dài, giống lúa phải hội đủ tối thiểu 4 tiêu chuẩn:
1) Giống lúa kháng một số sâu bệnh chủ yếu, được nông dân canh tác rộng rãi để xuất khẩu,
2) Chất lượng được giới tiêu thụ chấp nhận ở nhiều thị trường nội địa và thế giới,
3) Loại gạo chỉ sản xuất ở VN hay đặc sản bản địa, và
4) Môi trường trồng lúa bền vững.
Bước 4: Hướng dẫn nông dân sản xuất lúa xuất khẩu với hợp tác tích cực của cấp Tỉnh. Những người trồng lúa trong những vùng được khoanh cho xuất khẩu cần được hướng dẫn sản xuất lúa giống thuần mỗi năm và quản lý sản xuất từ gieo hạt đến thu hoạch, tồn trữ cho đúng tiêu chuẩn gạo xuất khẩu. Họ cần được giúp tín dụng nông thôn để trang trải chi phí sản xuất. Các nhà xuất khẩu cần hợp tác trực tiếp với nông dân để sản xuất gạo có chất lượng cao, đồng thời xây dựng thương hiệu và bành trướng thị trường xuất khẩu.
Bước 5: Cần tổ chức lực lượng thương lái, giới xay chà, biến chế để đảm bảo chất lượng cao cho lúa gạo thu mua và chế biến. Khâu này rất quan trọng vì hạt gạo phải trải qua nhiều tầng bậc: Lúa được thương lái nhỏ đến mua tại nhà, tại ruộng, rồi chuyển đến hàng xáo và các nhà máy xay xát, sau đó đến các doanh nghiệp biến chế, cung ứng rồi cuối cùng tới các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu! Khâu này sẽ làm tăng thêm hoặc hạ thấp chất lượng hạt gạo, tùy theo lương tâm và lợi tức của giới trách nhiệm. Một số luật lệ cần được thiết lập quản lý các công đoạn này để tránh sự pha trộn làm ăn kém lương thiện hiện đang hoành hành, làm cho giới tiêu thụ không biết gạo chất lượng thật sự có chất lượng hay không. Họ cần được tổ chức, hướng dẫn và theo dõi.
Đề nghị các doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức kết nối các đội ngũ thương lái- giới xay chà, biến chế này với hoạt động xuất khẩu của mình. Sự độc lập của thương lái hiện nay gây thiệt thòi quyền lợi cho nông dân. Đây là khâu ảnh hưởng nhiều nhứt đến chất lượng và giá cả ngoài thị trường. Chẳng hạn, gạo Nàng thơm Chợ Đào có nhiều giá từ cao xuống thấp, tùy theo thương gia pha trộn với ít hay nhiều gạo thường! Do đó, cần phải có những cố gắng nâng giá gạo thơm cho đúng giá trị thật sự để khuyến khích giới sản xuất trong nước và đạt mục tiêu xuất khẩu.
Bước 6: Các doanh nghiệp xuất khẩu không những bảo đảm chất lượng cao và giá cả hợp lý giữa doanh nghiệp và nông dân, không để người sản xuất bị ép giá như từ trước đến nay; mà còn phụ trách phổ biến tích cực thương hiệu gạo và tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ thế giới cho gạo thương hiệu, nhứt là tại các nước Âu Mỹ và khối Á Rập, nơi đòi hỏi gạo chất lượng cao cấp. VN cần phải đầu tư nhiều hơn nữa vào thị trường, đóng gói bao bì và dịch vụ thương mại, trong lãnh vực này Thái Lan chứng tỏ tay nghề rất cao, VN cần bắt chước. Hiện nay các doanh nghiệp lớn chỉ “ngồi không hưởng lợi” và kém khả năng linh hoạt kinh doanh quốc tế. Các doanh nghiệp cần tổ chức các hệ thông thu mua lúa gạo hữu hiệu, từ ruộng nông dân đến nơi xuất khẩu để tránh bớt giới trung gian, thương lái làm ăn độc lập gây thiệt hại quyền lợi nông dân và tổn thương uy tín của thương hiệu gạo VN.
Bước 7: Cần có sự điều hợp hữu hiệu của nhà nước cho 4 thành phần tham gia chương trình xây dựng thương hiệu: nhà khảo cứu lúa gạo, nông dân trồng lúa, thương lái-giới xay chà-biến chế và doanh nghiệp xuất khẩu trong khung Chương trình Quốc gia Xây dựng Thương hiệu cho Lúa gạo VN.
Tóm lại, công tác xây dựng thương hiệu cho một loại nông sản đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực của nhiều giới, với sự liên kết hữu hiệu giữa 4 thành phần trách nhiệm liên hệ, dưới sự điều hợp của nhà nước (Hiệp hội Lương thực VN). Nếu không bắt đầu từ bây giờ sẽ không bao giờ có được kết quả mong muốn. Một khi đã có Chương trình Xây dựng Thương hiệu rồi, nếu một trong 4 thành viên hợp tác trên không hoàn thành trách nhiệm sẽ kéo dài thêm công tác xây dựng thương hiệu. Do đó, vài trò điều hợp, hướng dẫn và hỗ trợ của nhà nước, Hiệp hội Lương thực VN là tối cần thiết để thành công.
Trần Văn Đạt, Ph. D.
Tài Liệu Tham Khảo
1) Dumond, R. 1995. La culture du riz dans le delta de Tonkin. Printing House in Bangkok, Thailand, pp 592.
2) Service des affaires économique, 1916. Bulletin économique de l’Indochine, No. 117, Jan-Fev. 1916, imprimerie d’Extrême-orient, Hanoi-Haiphong.
3) Trần Văn Đạt. 2005. Tiến Trình Phát Triên Sản Xuất Lúa Gạo Tại Việt Nam: từ thời nguyên thủy đến hiện đại. NXB Nông Nghiệp, Sài Gòn, pp 316.
4) www.toquoc.gov.vn/ Gạo Việt cần một cái tên (5/2/2010).
5) VietNamNet/VOV: Building a trademark for Mekong Delta Rice. Viet Nam Business News (30-11-2009) (http://vietnambusiness.asia/building-a-trademark-for-mekong-delta-rice/).
(Sử dụng bài viết do tác giả gửi)
Mời các bạn tham gia diễn đàn CÂY LƯƠNG THỰC tại http://foodcrops.ning.com/
Đọc bài FOOD CROPS, LÚA GẠO, CASSAVAVIET, CROPSFORBIOFUEL
Vài ý kiến về
XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO LÚA GẠO VIỆT NAM
TS. Trần Văn Đạt
Tại sao Việt Nam đến nay chưa có thương hiệu riêng cho gạo xuất khẩu mặc dù đã tham gia xuất khẩu gạo nhiều thập niên?
Từ thế kỷ 19 hoặc hơn, Việt Nam (VN) đã xuất khẩu gạo rất sớm đến các nước láng giềng như Hồng Kông, Trung Quốc, Nhựt Bổn, Philippines, Indonesia, Malaysia...; nhưng hầu hết là loại gạo có chất lượng thấp. Trong thời thực dân Pháp, gạo thơm cũng được xuất khẩu từ Miền Bắc qua Hồng Kông, sau đó vào Trung Quốc rồi tái xuất khẩu qua Nhựt Bổn với số lượng đáng kể (Dumont, 1995), nhưng không có được thương hiệu nổi tiếng trong vùng Đông Á này, vì thiếu chủ trương xây dựng thương hiệu của nhà nước bấy giờ!
Vào đầu thế kỷ 20, gạo xuất khẩu VN cũng có thương hiệu khá nổi tiếng một thời; đó là gạo Cà Đung Gò Công. Các thương gia Pháp rất thích giống lúa này vì hạt gạo tròn lớn gần giống với loại gạo Japonica được giới tiêu thụ ưa chuộng đến nay. Họ mua lúa Cà Đung đem xay chà ở Tây Ban Nha, rồi pha trộn với gạo tốt của xứ nầy để đem vào bán ở Pháp với số lượng khá lớn, khoảng 100.000 tấn mỗi năm (Service des affaires économiques, 1916). Sau vài thập niên, Việt Nam không còn xuất khẩu loại lúa này qua Châu Âu nữa, do chất lượng không đạt chuẩn quốc tế: lẫn lộn nhiều giống lúa khác, có nhiều hạt cỏ, chất lạ, gạo vàng và tồn trữ kém. Thương hiệu lúa Cà Đung không tồn tại lâu dài! (Trần Văn Đạt, 2005).
Từ bài học nêu trên, xây dựng thương hiệu cho một loại nông phẩm đã là khó, và làm sao để giữ thương hiệu đó lâu dài lại càng khó hơn, như Basmati của Pakistan và Ấn Độ hiện diện từ thập niên 1930 đến nay. Để có một thương hiệu cho lúa gạo xuất khẩu, Việt Nam cần phải có một chương trình phổ biến và nội lực thật sự, nghĩa là gạo Việt phải là đặc sản, chất lượng phải đạt chuẩn mực yêu cầu, năng suất tương đối cao, môi trường sản xuất bền vững và được đông đảo giới tiêu thụ ưa thích. Ngoài ra, thương hiệu cần được tích cực bảo vệ và phổ biến liên tục.
Tuy nhiên, đến nay gạo xuất khẩu VN chỉ biết đến là loại gạo trắng bình thường, nên chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường thế giới. Trong khi đó, Thái Lan có gạo nổi tiếng khắp nơi như Khaw Dawk Mali, Hom Mali, Jasmine 85; Ấn Độ và Pakistan có gạo Basmati; Âu Châu (Ý) có gạo Arborio, Thaibonet (M101 của Mỹ); Úc Châu có Amaroo... Hơn 3 thập niên qua, Việt Nam đã phóng thích nhiều giống lúa cải thiện, nhưng chưa có giống nào lai tạo trong nước được trồng đại trà như các giống nhập nội từ Viện Lúa quốc tế IRRI, Philippines (IR 64, IR 50404, CR 203), Thái Lan (Hương lài, Khao Dawk Mali), Đài Loan (VD 10, VD 20), Trung Quốc (Khang Dân, Q5).
Vài nguồn thông tin cho rằng giá gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế luôn thấp hơn gạo Thái Lan từ 50 đến 100 Mỹ kim mỗi tấn cho cùng một chủng loại do thiếu thương hiệu nổi tiếng. Điều này chỉ đúng một phần, ngoài ra còn do chất lượng kém (trong quá trình trồng trọt, thu mua và biến chế gạo cho thị trường), giá thành cao, cộng thêm điều kiện tiếp thị, quản lý xuất khẩu của các doanh nghiệp nhà nước.
Đồng bằng sông Cửu Long đã triển khai kế hoạch 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, nhưng vẫn còn bị giới hạn, chủ yếu do giá mua lúa chất lượng cao chưa phân biệt với chất lượng thấp, và thiếu các giống lúa chất lượng tốt năng suất cao mà nông dân và thị trường đòi hỏi. Hơn nữa, các thương lái có khuynh hướng mua lúa không phân biệt nhiều giữa lúa có chất lượng cao và thấp. Trong thời gian qua, Việt Nam trồng lúa nhằm xuất khẩu gạo với đặc biệt quan tâm đến số lượng hơn là chất lượng, trong khi quên đi thị trường nội địa đòi hỏi chất lượng cao. Cho nên, gạo tốt của Thái Lan, Cambodge có cơ hội xâm nhập dễ dàng ở các tỉnh biên giới và đô thị lớn trong nước.
Tóm lại, Việt Nam đến nay chưa có thương hiệu nổi tiếng lâu dài do các lý do sau đây:
(1) Chưa có chương trình và nổ lực thực sự hữu hiệu để xây dựng và phổ biến thương hiệu cho lúa gạo VN, và thiếu điều hợp cho mục tiêu này,
(2) Chưa có nội lực hay chưa có giống lúa chất lượng bản xứ được trồng đại trà, và môi trường sản xuất bền vững,
(3) Thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, thương lái, nông dân và khảo cứu,
(4) Thiếu tên thương hiệu hấp dẫn để quảng bá trong và ngoài nước.
Làm sao xây dựng một thương hiệu cho lúa gạo VN theo tiêu chuẩn quốc tế?
Bảy bước để tiến đến thành công xây dựng thương hiệu lúa gạo VN:
Bước 1: Trước hết cần thiết lập Chương trình Quốc gia Xây dựng Thương hiệu cho Lúa gạo VN, nhằm tăng thêm giá trị gạo Việt trên thị trường quốc tế và quốc nội, đồng thời khuyến khích tăng gia sản xuất lúa gạo chất lượng cao trong nước.
Hiện nay đã có vài hoạt động xây dựng thương hiệu như thương hiệu Một bụi đỏ Hồng Dân (gạo vàng sẫm có ánh hơi đỏ) ở Bạc Liêu, thương hiệu gạo thơm ST ở Sóc Trăng, thương hiệu Agrimex-Kitoku (hợp tác với Nhựt)..., nhưng còn riêng rẽ, thiếu chiến lược phối hợp và hỗ trợ đắc lực của nhà nước trong kế hoạch hóa công tác xây dựng thương hiệu lúa gạo cho VN. Cần nhớ rằng giới tiêu thụ trong nước cũng như thế giới đều ưa chuộng loại gạo có thương hiệu dù giá cao hơn.
Bước 2: Chọn tên thương hiệu hấp dẫn cho gạo xuất khẩu VN để tránh xuất khẩu gạo trắng không có tên thương hiệu như hiện nay. Thương hiệu có thể do từ tên một giống lúa nổi tiếng được nhiều người ưa thích, như Basmati 370, Khaw Dawk Mali, Jasmine 85; hoặc dùng một tên tổng quát cho nhiều loại gạo xuất khẩu, như gạo Basmati, gạo Jasmine. Khi gặp gạo Jasmine người ta nhận ra đó là gạo Thái Lan. Gạo Basmati là của Pakistan hay Ấn Độ.
Việt Nam trước hết có thể chọn những tên như Perfume rice, Aroma, Fragrance, Scent, Nàng hương, Lúa thơm… cho các loại gạo thơm, loại thượng hạng (0% tấm) với hình dáng, kích thước, mẫu mã ưa thích, có tính cách bản địa; và phải có chiến lược tiếp thị tốt để phổ biến thương hiệu rộng rãi trong và ngoài nước.
Bước 3: Phải nổ lực nhiều hơn nữa trong công tác khảo cứu: thu thập, tuyển chọn và lai tạo các giống lúa chất lượng tốt cho xuất khẩu. Mặc dù có nhiều giống lúa thơm được tiêu thụ trong nước, nhưng chỉ có một vài giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mà thôi. Đây là công tác đầu tiên và quan trọng của một Chương trình Xây dựng Thương hiệu. VN đã phóng thích nhiều giống lúa cải tiến, nhưng chưa có giống lúa nào nổi bật được trồng đại trà, ngoại trừ một số giống lúa có nguồn gốc nước ngoài.
Đối tượng lúa xuất khẩu để nghiên cứu cần bao gồm (i) các loại lúa thơm bản xứ, (ii) loại lúa thượng hạng (ăn ngon, với hạt có kích thước, hình dáng, độ dẽo và ít mùi thơm thích hợp giới tiêu thụ), (iii) loại lúa hữu cơ (không dùng chất nông hóa), (iv) loại lúa gạo tốt và an toàn cho sức khoẻ (có hàm lượng vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khoẻ), và (v) loại lúa gạo GAP.
Để tạo một ấn tượng tốt về thương hiệu cho gạo Việt lâu dài, giống lúa phải hội đủ tối thiểu 4 tiêu chuẩn:
1) Giống lúa kháng một số sâu bệnh chủ yếu, được nông dân canh tác rộng rãi để xuất khẩu,
2) Chất lượng được giới tiêu thụ chấp nhận ở nhiều thị trường nội địa và thế giới,
3) Loại gạo chỉ sản xuất ở VN hay đặc sản bản địa, và
4) Môi trường trồng lúa bền vững.
Bước 4: Hướng dẫn nông dân sản xuất lúa xuất khẩu với hợp tác tích cực của cấp Tỉnh. Những người trồng lúa trong những vùng được khoanh cho xuất khẩu cần được hướng dẫn sản xuất lúa giống thuần mỗi năm và quản lý sản xuất từ gieo hạt đến thu hoạch, tồn trữ cho đúng tiêu chuẩn gạo xuất khẩu. Họ cần được giúp tín dụng nông thôn để trang trải chi phí sản xuất. Các nhà xuất khẩu cần hợp tác trực tiếp với nông dân để sản xuất gạo có chất lượng cao, đồng thời xây dựng thương hiệu và bành trướng thị trường xuất khẩu.
Bước 5: Cần tổ chức lực lượng thương lái, giới xay chà, biến chế để đảm bảo chất lượng cao cho lúa gạo thu mua và chế biến. Khâu này rất quan trọng vì hạt gạo phải trải qua nhiều tầng bậc: Lúa được thương lái nhỏ đến mua tại nhà, tại ruộng, rồi chuyển đến hàng xáo và các nhà máy xay xát, sau đó đến các doanh nghiệp biến chế, cung ứng rồi cuối cùng tới các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu! Khâu này sẽ làm tăng thêm hoặc hạ thấp chất lượng hạt gạo, tùy theo lương tâm và lợi tức của giới trách nhiệm. Một số luật lệ cần được thiết lập quản lý các công đoạn này để tránh sự pha trộn làm ăn kém lương thiện hiện đang hoành hành, làm cho giới tiêu thụ không biết gạo chất lượng thật sự có chất lượng hay không. Họ cần được tổ chức, hướng dẫn và theo dõi.
Đề nghị các doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức kết nối các đội ngũ thương lái- giới xay chà, biến chế này với hoạt động xuất khẩu của mình. Sự độc lập của thương lái hiện nay gây thiệt thòi quyền lợi cho nông dân. Đây là khâu ảnh hưởng nhiều nhứt đến chất lượng và giá cả ngoài thị trường. Chẳng hạn, gạo Nàng thơm Chợ Đào có nhiều giá từ cao xuống thấp, tùy theo thương gia pha trộn với ít hay nhiều gạo thường! Do đó, cần phải có những cố gắng nâng giá gạo thơm cho đúng giá trị thật sự để khuyến khích giới sản xuất trong nước và đạt mục tiêu xuất khẩu.
Bước 6: Các doanh nghiệp xuất khẩu không những bảo đảm chất lượng cao và giá cả hợp lý giữa doanh nghiệp và nông dân, không để người sản xuất bị ép giá như từ trước đến nay; mà còn phụ trách phổ biến tích cực thương hiệu gạo và tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ thế giới cho gạo thương hiệu, nhứt là tại các nước Âu Mỹ và khối Á Rập, nơi đòi hỏi gạo chất lượng cao cấp. VN cần phải đầu tư nhiều hơn nữa vào thị trường, đóng gói bao bì và dịch vụ thương mại, trong lãnh vực này Thái Lan chứng tỏ tay nghề rất cao, VN cần bắt chước. Hiện nay các doanh nghiệp lớn chỉ “ngồi không hưởng lợi” và kém khả năng linh hoạt kinh doanh quốc tế. Các doanh nghiệp cần tổ chức các hệ thông thu mua lúa gạo hữu hiệu, từ ruộng nông dân đến nơi xuất khẩu để tránh bớt giới trung gian, thương lái làm ăn độc lập gây thiệt hại quyền lợi nông dân và tổn thương uy tín của thương hiệu gạo VN.
Bước 7: Cần có sự điều hợp hữu hiệu của nhà nước cho 4 thành phần tham gia chương trình xây dựng thương hiệu: nhà khảo cứu lúa gạo, nông dân trồng lúa, thương lái-giới xay chà-biến chế và doanh nghiệp xuất khẩu trong khung Chương trình Quốc gia Xây dựng Thương hiệu cho Lúa gạo VN.
Tóm lại, công tác xây dựng thương hiệu cho một loại nông sản đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực của nhiều giới, với sự liên kết hữu hiệu giữa 4 thành phần trách nhiệm liên hệ, dưới sự điều hợp của nhà nước (Hiệp hội Lương thực VN). Nếu không bắt đầu từ bây giờ sẽ không bao giờ có được kết quả mong muốn. Một khi đã có Chương trình Xây dựng Thương hiệu rồi, nếu một trong 4 thành viên hợp tác trên không hoàn thành trách nhiệm sẽ kéo dài thêm công tác xây dựng thương hiệu. Do đó, vài trò điều hợp, hướng dẫn và hỗ trợ của nhà nước, Hiệp hội Lương thực VN là tối cần thiết để thành công.
Trần Văn Đạt, Ph. D.
Tài Liệu Tham Khảo
1) Dumond, R. 1995. La culture du riz dans le delta de Tonkin. Printing House in Bangkok, Thailand, pp 592.
2) Service des affaires économique, 1916. Bulletin économique de l’Indochine, No. 117, Jan-Fev. 1916, imprimerie d’Extrême-orient, Hanoi-Haiphong.
3) Trần Văn Đạt. 2005. Tiến Trình Phát Triên Sản Xuất Lúa Gạo Tại Việt Nam: từ thời nguyên thủy đến hiện đại. NXB Nông Nghiệp, Sài Gòn, pp 316.
4) www.toquoc.gov.vn/ Gạo Việt cần một cái tên (5/2/2010).
5) VietNamNet/VOV: Building a trademark for Mekong Delta Rice. Viet Nam Business News (30-11-2009) (http://vietnambusiness.asia/building-a-trademark-for-mekong-delta-rice/).
(Sử dụng bài viết do tác giả gửi)
Mời các bạn tham gia diễn đàn CÂY LƯƠNG THỰC tại http://foodcrops.ning.com/
Đọc bài FOOD CROPS, LÚA GẠO, CASSAVAVIET, CROPSFORBIOFUEL
Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010
Tam nông là hướng đi cho thịnh vượng nông thôn, nếu ...
T.S. Trần Văn Đạt
(Nguyên Chánh chuyên gia FAO, Rome)
DẠY VÀ HỌC. “Nông thôn vẫn hiền hòa như thuở nào, nhưng phải tiến bộ đồng thời với đô thị, vì đó là yêu cầu xã hội đứng đắn của một nước văn minh. Cần phát triển hệ thống giao thông và hạ tầng cấu trúc nông thôn. Cần mang các công nghiệp nhỏ và vừa về xã ấp, đặc biệt công nghệ thông tin, công nghiệp năng lượng xanh và công nghiệp chế biến thích ứng nông thôn. Cần đẩy mạnh nhiều hơn nữa hiện tượng đô thị hóa hoặc thị trấn hóa nông thôn và thành lập các nông thôn mới với các tiêu chí đã đề ra để sớm đưa làn sóng văn minh hiện đại về thôn ấp.” TS. Trần Văn Đạt, nguyên Chánh chuyên gia FAO đã trao đổi…
Tại các nước phát triển, ngành nông nghiệp tiến bộ không ngừng nên sản xuất lương thực dư thừa đối với nhu cầu trong nước. Thành phần nông dân thường là giới giàu có, với từ hàng chục đến hàng ngàn hecta ruộng vườn, và có cả tiếng nói chính trị riêng để bênh vực quyền lợi mình. Nông thôn dù không còn làng ấp, nhưng là những môi trường xanh thân thiện mà các du khách thường muốn thăm viếng vãng lai. Đất nông nghiệp ngày càng hẹp lại, được thay thế dần bằng các đô thị hay thị trấn nhỏ cả nước. Số nông dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp cũng giảm bớt theo thời gian và tỉ trọng nông nghiệp đóng góp vào phát triển kinh tế quốc gia sút giảm không ngừng, mặc dù tổng sản lượng thực phẩm tiếp tục tăng gia. Vào đầu thế kỷ 20, lao động Hoa Kỳ đóng góp vào GDP 41%, năm 1945 chỉ 16%, 2000 1,9%, 2008 dưới 1%, nhưng vẫn có khả năng nuôi cả nước và một phần thế giới. Tương tự, hiện tượng này cũng xảy ra ở các nước Châu Âu. Đó là nhờ vào cải tiến hiệu năng sản xuất dưới sự bảo hộ lớn lao của chính phủ. Nhưng lợi tức kinh tế của ngành này không được hấp dẫn, các nước tiến bộ đã có chính sách chuyển đổi nông nghiệp qua các lãnh vực khác, như công nghiệp, dịch vụ, tài chính, tin học, du lịch…
Trong khi đó, tại các nước đang phát triển chậm, nông nghiệp vẫn còn hiện diện đậm nét trong đời sống hàng ngày của đại đa số và là thành tố quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Đối với các nước đang phát triển nhanh như Việt Nam, giai cấp nông dân vẫn còn chiếm đến 73% dân số cả nước, và tỉ trọng nông nghiệp góp phần vào kinh tế quốc gia giảm dần từ 40,2% trong 1984 xuống 22,2% trong 2008; trong khi Nhựt Bổn còn 1,6%, Đại Hàn 3%, Malaysia 8,7%, Thái Lan 10%, Trung Quốc 11,9%, Indonesia 13,3%, Philippines 14,2%, và Ấn Độ 19,9%.
Trong bối cảnh hội nhập thế giới và xu hướng toàn cầu hóa - khu vực hóa, đất nước chủ trương cải cách đồng bộ cả 3 lãnh vực: nông nghiệp, đời sống nông dân và nông thôn là định hướng đứng đắn để đưa dân tộc cùng tiến bộ và nông thôn có được nếp sống văn minh thịnh vượng như các nước láng giềng đã đi trước.
Về nông nghiệp, trong thế kỷ 21, trình độ nông dân đã cao hơn một bậc, tiến bộ nhiều trong suy nghĩ và sử dụng kỹ thuật mới. Họ cảm nhận luật cung cầu thị trường điều khiển kinh tế, và giá cả nông sản chi phối khâu sản xuất và đời sống gia đình họ. Họ biết nắm bắt ngay các kỹ thuật tân tiến vì chúng mang đến nhiều lợi ích thiết thực. Công tác khuyến nông trở nên dễ dàng hơn cho bất kỳ kỹ thuật mới nào chứng tỏ hữu ích. Công việc tăng gia sản xuất không còn khó khăn, miễn giá cả hấp dẫn, các quy hoạch hữu hiệu và có sẳn đầu ra. Do đó, đối với các nước xuất khẩu lúa gạo chẳng hạn, vấn đề an ninh lương thực không còn tùy thuộc khâu sản xuất nữa để tăng số lượng, mà phải có nhiều nỗ lực hơn ở khâu tồn trữ và phân phối để đáp ứng nhu cầu đúng lúc khi cần.
Đầu thiên kỷ mới, công tác phát triển nông nghiệp phải đặc biệt chú ý đến chất lượng, hiệu năng, giá thành và môi trường, nhằm vào mục tiêu sản xuất bền vững, cải thiện quyền lợi nông dân và làm tốt đẹp hơn nếp sống nông thôn. Để hiện đại hóa ngành nông nghiệp, điều kiên tiên quyết là sớm có chính sách tích tụ đất đai, tăng gia diện tích nông trại gia đình đáp ứng yêu cầu cơ giới hóa. Có lẽ nên noi theo kinh nghiệm thành công tại các nước tiền tiến, nhưng tránh bắt chước nông nghiệp tiểu điền Nhựt Bổn, Đại Hàn vì nước ta không có khả năng bảo hộ lớn.
Đối với nông dân: Trong các nước đang phát triển, họ luôn là thành phần chịu ảnh hưởng nhiều nhứt trong các chính sách, quy hoạch và quản lý các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp đề ra. Ngay từ thời phong kiến, các nhà nước luôn đưa ra chính sách trọng nông, chỉ nhằm tăng gia sản xuất để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ nội địa, an ninh lương thực, mục tiêu xuất khẩu kiếm ngoại tệ, và đặc biệt thu thuế cho ngân sách quốc gia. Từ triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến Nhà Nguyễn và thực dân Pháp, người dân quê chỉ là giới sản xuất để phục vụ cho các tầng lớp cai trị và giàu có. Họ là thành phần luôn ở thế yếu, bị chèn ép từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ chiếm đa số trong xã hội, nhưng lại bị bỏ quên ở các nước nghèo, chỉ do nhà nước còn nghèo quá nên không thể hỗ trợ đầy đủ cho thành phần này như đã làm ở các nước công nghiệp tiến bộ!
Giới nông dân tại các nước đang phát triển còn thiếu tiếng nói tập thể chính trị để bênh vực, bảo vệ quyền lợi tối thiểu của mình. Vì thế, đa số nông dân vẫn còn chịu kiếp nghèo khó, an phận trong giai cấp xã hội thấp cho đến ngày nay, ngoại trừ lúc “Nhứt sĩ nhì nông, hết gạo chạy rong, nhứt nông nhì sĩ!”. Cho nên, chủ trương tam nông là định hướng đúng đắn để nhà nước không bỏ quên thành phần nông dân và nông thôn trong thời kỳ đất nước đang phát triển kinh tế, tạo nên bước tiến đồng bộ từ thành thị đến thôn ấp. Nghĩa là họ cần được hỗ trợ thực sự trong quá trình sản xuất để tăng cường lực cạnh tranh, đối diện với các đại gia bên ngoài và các ngành nghề khác trong nước. Đặc biệt nông dân cần được đảm bảo lợi tức hợp lý cho sức lao động đầu tư và sản phẩm của mình, nhứt là giá cả nông sản tại sân nhà không bị giới trung gian (doanh nghiệp và lái buôn) bốc lột trên mồ hôi họ.
Nông thôn sẽ thịnh vượng khi nông dân hàng năm thu được nhiều lợi tức tương xứng, dưới sự hỗ trợ của nhà nước, đời sống của họ sẽ ngày càng sung túc, phát đạt hơn. Từ đó, vùng đồng quê sẽ vươn lên để trở thành nông thôn mới, tiến bộ và văn minh hơn, một hình thức “thị trấn nông thôn” từng thấy tại các nước công nghiệp, xuất hiện khắp nơi. Nếp sống nông thôn đã chuyển mình qua năm tháng để trở thành các khu đô thị và thị trấn nhỏ mà mọi người được hưởng đầy đủ tiện nghi tối thiểu cần có của nếp sống văn minh đô thị.
Ở các nước đang phát triển, người ta luôn cổ võ văn minh miệt vườn hay miệt ruộng, nhưng đó chỉ là một nếp sống an phận trong xã hội đa cực, trong khi bảo thủ, lo ngại tiến trình đô thị hóa làm mất đất đai nông thôn.
Ở Mỹ, khu đô thị hàng năm chiếm độ 400.000 ha đất nông trại. Trung Quốc đã bị mất gần 1 triệu ha đất ruộng mỗi năm trong thời gian từ 1987 đến 1992. Vào 1975, Trung quốc trồng độ 37 triệu ha lúa để nuôi dân, nay chỉ còn trồng 29 triệu ha lúa; nhưng họ không những đã nuôi dân sống khá đầy đủ mà còn có thể xuất khẩu gạo, nhờ cải tiến năng suất và chương trình trồng lúa lai. Như thế, việc chuyển đổi đất ruộng nông thôn cho các ngành phát triển khác có lợi nhuận nhiều hơn không phải là vấn đề đáng lo ngại, nếu được qui hoạch kỹ lưỡng và có quản lý xây dựng tuân theo luật lệ đô thị để khuyến khích phát triển công nghiệp và kinh tế quốc gia.
Mỗi năm các chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thị trấn hóa nông thôn lan rộng là dấu hiệu của tiến bộ và phát triển đất nước; nhưng chương trình chuyển đổi đất này phải hội đủ các đòi hỏi tối thiểu sau: (i) Khuyến khích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp hoặc có giá trị nông nghiệp thấp kém, (ii) Bảo tồn những khu thiên nhiên có ảnh hưởng đến môi trường cả vùng và bảo tồn văn hóa, (iii) Bảo tồn nguồn cung cấp nước ngầm dùng để cung cấp nguồn nước ngọt cho con người và nông nghiệp, (iv) Bảo tồn khoảng trống không gian cần thiết nhằm tạo thông thoáng, bớt ô nhiễm trong khu đô thị hoặc công nghiệp trong tương lai (v) Cần có qui hoạch khoanh vùng hợp lý và quản lý xây dựng hữu hiệu để tránh các ảnh hưởng tiêu cực, và (vi) Cần có giải pháp kinh tế-xã hội ổn thỏa cho sử dụng đất đai ngoài mục tiêu nông nghiệp để tránh xáo trộn đời sống người dân cư ngụ lâu đời.
Nông thôn vẫn hiền hòa như thuở nào, nhưng phải tiến bộ đồng thời với đô thị, vì đó là yêu cầu xã hội đứng đắn của một nước văn minh. Cần phát triển hệ thống giao thông và hạ tầng cấu trúc nông thôn. Cần mang các công nghiệp nhỏ và vừa về xã ấp, đặc biệt công nghệ thông tin, công nghiệp năng lượng xanh và công nghiệp chế biến thích ứng nông thôn. Cần đẩy mạnh nhiều hơn nữa hiện tượng đô thị hóa hoặc thị trấn hóa nông thôn và thành lập các nông thôn mới với các tiêu chí đã đề ra để sớm đưa làn sóng văn minh hiện đại về thôn ấp.
Trần Văn Đạt, Ph. D.
(Bài viết do tác giả gửi)
Tài Liệu Tham Khảo:
1. Economic Research Service (ERS/USDA). 2006. Land use, value, and management: urbanization and agricultural land (http://www.ers.usda.gov/Briefing/Land Use/urbanchapter.htm).
2. GDP: http://www.phrasebase.com/english/countries/fin_gdpofag.php?variable=fin_gdpofag
3. Lê Hồng Nhu. 1999. Rice production in Viet Nam and policies to promote its development. In Proceedings of the 19th session of the IRC. Int. Rice Comm., Cairo, Egypt, 7-9 September 1998, Rome, p 162-165.
4. Nature Gallery (Global Trends. Urbanization and cities) . 2005. (http://www.pacificislandtravel.com/nature_gallery/urbanization).
5. People’s Daily Online. 2005. China to push forward urbanization steadily (05-12-2005) (http://english.people.com.cn).
Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010
Xây dựng nông thôn mới
GSTS. Nguyễn Văn Luật
DẠY VÀ HỌC. Xây dựng nông thôn mới trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới (MH-NTM) là cách làm hợp lý nhằm thực hiện Nghị quyết VII của Đảng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân có hiệu quả thiết thực hơn. Chính phủ cùng địa phương đã chọn 11 xã điểm thực hiện MH- NTM với 19 tiêu chí . Ngay sau khi có QĐ số 491/2009/QĐ TTg về xây dựng NTM, nhiều nơi nằm ngoài phạm vi 11 xã được CP chọn đã tự chọn xã điểm cho địa phương mình để xây dựng MH- NTM với tiêu chí và bước đi thích hợp.
Kết quả của việc xây dựng MH- NTM toàn diện chỉ có thể từ những kết quả tổng hợp của nhiều ngành nhiều cấp, có sự đầu tư thỏa đáng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào xây dựng MH- NTM đang nhen lên lần này là có ưu thế tuyệt đối so với nhiều loại mô hình khác ở nông thôn, kể cả những mô hình NTM từ trước đến nay, như mô hình xã Định Công tỉnh Thanh Hóa ở thập kỷ 60 thế kỷ trước.
Tôi có dịp được đi tham quan học tập về NTM ở một số nước và trong nước. Tôi cũng có cơ hội tham gia, hoặc trực tiếp chỉ đạo xây dựng mô hình sản xuất ở nông thôn, tất nhiên chỉ về khoa học và công nghệ, như mô hình sản xuất vụ lúa xuân đầu tiên vào năm 1966 trên diện tích cả hợp tác xã Tân Hưng Hòa, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Và, mấy thập kỷ gần đây là mô hình sản xuất bằng các loại giống mới ở ĐBSCL, nhất là những giống dưới 90 ngày có tên chung là OMCS. So với MH- NTM đang được xây dựng, những mô hình chúng tôi làm được, kể cả mô hình về kinh tế xã hội mà các viện bạn làm được, chỉ là những viên gạch, và cũng mong trở thành một trong những viên gạch xây dựng MH- NTM. Là vì, cách đặt vấn đề cũng như cách tiếp cận vấn đề xây dựng MH- NTM hiện nay là rộng lớn và sâu sắc hơn nhiều, có cơ sở là NQ VII. Xin được chứng minh bằng tóm lược ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài nước:
Bối cảnh chung hiện nay như TS Rudengre (CTA- MSCP- TA) khảng định, Việt Nam đang đạt được sự phát triển chưa từng có trong lịch sử với bước phát triển nhanh và mạnh, tỷ lệ nghèo đói ở một mức độ nào đó giảm mạnh, nhất là trong khu vực hơn 73% dân số sống ở nông thôn..
Mặt khác, cũng theo tác giả này và nhiều nhà khoa học, và tổ chức QT như Nhóm hỗ trợ QT (ISG- Internertional Support Group); Diễn đàn các nhà tài trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.., thì song song với bước phát triển ấn tượng trên đang nẩy sinh nhiều bất cập mới ngày một phức tạp, như tốc độ CNH nhanh nẩy sinh sự bất bình đẳng đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị về thu nhập cũng như về hạ tầng cơ sở như giao thông, điện, nước, và các dịch vụ như y tế, giáo dục, những công trình phúc lợi khác... Những khó khăn vĩ mô đang cản trở phát triển khu vực nông thôn.
Các giải pháp về chính sách, thể chế, theo như b/c phát triển nông nghiệp thế giới năm 2008 của WB, và một số b/c khác về chính sách phát triển nông nghiệp châu Á; cách tiếp cận vào các khu vực phát triển nông nghiệp..,có thể được tóm lược vào những điểm chính như sau:
1./ Phương pháp tiếp cận về chính sách và thể chế, trước hết cần nhận thức về TN trên cơ sở NQ VII về TN của Đảng, trong đó người nông dân là trọng tâm, là chủ thể của phát triển nông thôn và nông nghiệp. Vấn đề này không chỉ liên quan đến hàng chục triệu nông dân, mà còn liên quan đến các khu vực phi nông nghiệp, đến toàn thể xã hội.
Nếu coi người nông dân là trọng tâm của phát triển nông thôn và nông nghiệp (thực sự đã và luôn luôn sẽ là chủ thể), mà không tập trung cải thiện đời sông cho nông dân trong phạm vi rộng thì việc xây dựng nông thôn mới không còn ý nghĩa nữa. Có một thời vào khoảng thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc cải thiện hệ thống xuất khẩu gạo như thế nào để mang lợi ích nhiều hơn cho người sản xuất còn rất coi nhẹ. Tổ chức quốc tế Unctad hợp tác với Escap, đều thuộc LHQ, đã tổ chức Hội nghị ở Bangkok từ 3 – 5/ tháng 4 năm 2001, với nội dung xuất khẩu nông sản hướng tới lợi ích của người nghèo, trong đó đại đa số là nông dân. Cách tổ chức của hội thảo này, có lẽ đúng nghĩa với hội thảo, mỗi đề tài được báo cáo và trao đổi thảo luận ở hội trường khoảng 1 giờ rưỡi, thời gian b/c khoảng hơn 1/3, còn lại dành cho thảo luận, chứ không như chỉ làm sao có nhiều báo cáo mà không có thảo luận. Tôi cũng được mời báo cáo về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam hướng tới tăng thu nhập cho nông dân. Thời gian báo cáo và thảo luận vượt quá mức quy định, chủ tịch đoàn khuyến khích, vì thảo luận khá sôi nổi, trao đổi kinh nghiệm khá phong phú.
2./ Vấn đề lớn nhất của toàn cầu là: (i) an ninh lương thực trong tình hình nhu cầu ngày càng tăng mà đất ruộng lại ngày một thu hẹp do phát triển đô thị, khu công nghiệp và sân golt; (ii) biến đổi khí hậu toàn cầu, ngày càng diễn biến phức tạp vừa làm giảm diện tích sx lúa, vừa tạo ra điều kiện ngày một khó khăn cho sx lúa; và (iii) cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính vừa qua. Tất cả đều không phải nông dân gây ra, nhưng người nông dân phải hứng chịu hậu quả sớm nhất, nhiều nhất, và nặng nề nhất.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho rằng an ninh lương thực nói riêng và nông nghiệp nói chung ở Việt Nam ta đã làm giảm tối thiểu tác hại đến Việt Nam từ khủng hoảng kinh tế TG từ phố Wall bên Mỹ. Các nhà khoa học và giới quan chức cùng có nhận thức đúng đắn như trên, đã thể hiện bằng những bài phát biểu và bài viết với nội dung là người nông dân đều phải hứng chịu sớm nhất và nhiều nhất những hậu quả do các nước phát triển, do tầng lớp những người có thu nhập cao ngất gây ra. Thế nhưng, quá trình khắc phục những hậu quả trên lại do những người nông dân đứng hàng đầu.
3./ Mặc dầu đã có NQ VII của Đảng ta rõ ràng và công bằng đối với nông dân, nhưng vẫn còn có những nhận thức và việc làm không theo tình thần NQ VII. Sau khi NQ VII trên ban hành, một số ký giả và chuyên gia kinh tế cho rằng cần gì phải bắt nông dân VN oằn mình làm để tăng sản lượng lúa cho xuất khẩu đến 6 triệu tấn gạo, mình đâu có chức năng lo an ninh lương thực cho toàn thế giới! Sao không đầu tư phát triển các ngành khác thu lời nhiều mà đầu vào ít, như du lịch, sản xuất phần mềm máy tính... TS Trần Văn Đạt chuyên gia của FAO ở Italia, nay hưu ở Mỹ, sau khi tìm hiểu tình hình ở quê nội ở Tiền Giang và quê ngoại ở Vĩnh Long thuộc ĐBSCL cũng nhận thấy ở nhiều nơi hiện ta chưa chưa có hoạt động kinh tế nào hơn tăng năng suất và tăng vụ lúa gạo, giảm sx lúa gạo ở ĐBSCL là giảm thu nhập của nông dân vốn đã rất nghèo khó, vì làm mầu thì vừa khó bán, vừa khó bảo quản.
4./ Vai trò của “4 nhà –Nhà nước, nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông là trung tâm” có lẽ cũng là cách làm tốt nhất. Được biết, tỉnh Kiên Giang và Hậu giang được chọn xã điểm ở vùng sâu vùng xa, vùng có nhiều người dân tộc, vùng còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống. Trung ương cho vốn khoảng 30 tỷ/ xã, tỉnh đóng góp thêm gấp khoảng 4 lần. Trao đổi với một số cán bộ thực hiện ở địa phương, thì việc tranh thủ được số vốn lớn cho MH- NTM đã rất khó, sử dụng vốn đó cho có hiệu quả càng khó hơn nhiều, ngay cả trong việc chọn bước đi thích hợp với tính khả thi cao nhằm đạt hiệu quả cao, nếu không lại rơi vào tình trạng duy lý trí và hình thức.
Tại xã điểm ở Gò Quao, Kiên Giang, Viện Lúa ĐBSCL tham gia một khâu sản xuất lúa, tuy chưa thu hoạch vụ đầu, nhưng có tác dụng, vì là bước đi và người thực hiện thích hợp.
19/07/2010
(Bài do tác giải gửi)
DẠY VÀ HỌC. Xây dựng nông thôn mới trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới (MH-NTM) là cách làm hợp lý nhằm thực hiện Nghị quyết VII của Đảng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân có hiệu quả thiết thực hơn. Chính phủ cùng địa phương đã chọn 11 xã điểm thực hiện MH- NTM với 19 tiêu chí . Ngay sau khi có QĐ số 491/2009/QĐ TTg về xây dựng NTM, nhiều nơi nằm ngoài phạm vi 11 xã được CP chọn đã tự chọn xã điểm cho địa phương mình để xây dựng MH- NTM với tiêu chí và bước đi thích hợp.
Kết quả của việc xây dựng MH- NTM toàn diện chỉ có thể từ những kết quả tổng hợp của nhiều ngành nhiều cấp, có sự đầu tư thỏa đáng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào xây dựng MH- NTM đang nhen lên lần này là có ưu thế tuyệt đối so với nhiều loại mô hình khác ở nông thôn, kể cả những mô hình NTM từ trước đến nay, như mô hình xã Định Công tỉnh Thanh Hóa ở thập kỷ 60 thế kỷ trước.
Tôi có dịp được đi tham quan học tập về NTM ở một số nước và trong nước. Tôi cũng có cơ hội tham gia, hoặc trực tiếp chỉ đạo xây dựng mô hình sản xuất ở nông thôn, tất nhiên chỉ về khoa học và công nghệ, như mô hình sản xuất vụ lúa xuân đầu tiên vào năm 1966 trên diện tích cả hợp tác xã Tân Hưng Hòa, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Và, mấy thập kỷ gần đây là mô hình sản xuất bằng các loại giống mới ở ĐBSCL, nhất là những giống dưới 90 ngày có tên chung là OMCS. So với MH- NTM đang được xây dựng, những mô hình chúng tôi làm được, kể cả mô hình về kinh tế xã hội mà các viện bạn làm được, chỉ là những viên gạch, và cũng mong trở thành một trong những viên gạch xây dựng MH- NTM. Là vì, cách đặt vấn đề cũng như cách tiếp cận vấn đề xây dựng MH- NTM hiện nay là rộng lớn và sâu sắc hơn nhiều, có cơ sở là NQ VII. Xin được chứng minh bằng tóm lược ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài nước:
Bối cảnh chung hiện nay như TS Rudengre (CTA- MSCP- TA) khảng định, Việt Nam đang đạt được sự phát triển chưa từng có trong lịch sử với bước phát triển nhanh và mạnh, tỷ lệ nghèo đói ở một mức độ nào đó giảm mạnh, nhất là trong khu vực hơn 73% dân số sống ở nông thôn..
Mặt khác, cũng theo tác giả này và nhiều nhà khoa học, và tổ chức QT như Nhóm hỗ trợ QT (ISG- Internertional Support Group); Diễn đàn các nhà tài trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.., thì song song với bước phát triển ấn tượng trên đang nẩy sinh nhiều bất cập mới ngày một phức tạp, như tốc độ CNH nhanh nẩy sinh sự bất bình đẳng đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị về thu nhập cũng như về hạ tầng cơ sở như giao thông, điện, nước, và các dịch vụ như y tế, giáo dục, những công trình phúc lợi khác... Những khó khăn vĩ mô đang cản trở phát triển khu vực nông thôn.
Các giải pháp về chính sách, thể chế, theo như b/c phát triển nông nghiệp thế giới năm 2008 của WB, và một số b/c khác về chính sách phát triển nông nghiệp châu Á; cách tiếp cận vào các khu vực phát triển nông nghiệp..,có thể được tóm lược vào những điểm chính như sau:
1./ Phương pháp tiếp cận về chính sách và thể chế, trước hết cần nhận thức về TN trên cơ sở NQ VII về TN của Đảng, trong đó người nông dân là trọng tâm, là chủ thể của phát triển nông thôn và nông nghiệp. Vấn đề này không chỉ liên quan đến hàng chục triệu nông dân, mà còn liên quan đến các khu vực phi nông nghiệp, đến toàn thể xã hội.
Nếu coi người nông dân là trọng tâm của phát triển nông thôn và nông nghiệp (thực sự đã và luôn luôn sẽ là chủ thể), mà không tập trung cải thiện đời sông cho nông dân trong phạm vi rộng thì việc xây dựng nông thôn mới không còn ý nghĩa nữa. Có một thời vào khoảng thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc cải thiện hệ thống xuất khẩu gạo như thế nào để mang lợi ích nhiều hơn cho người sản xuất còn rất coi nhẹ. Tổ chức quốc tế Unctad hợp tác với Escap, đều thuộc LHQ, đã tổ chức Hội nghị ở Bangkok từ 3 – 5/ tháng 4 năm 2001, với nội dung xuất khẩu nông sản hướng tới lợi ích của người nghèo, trong đó đại đa số là nông dân. Cách tổ chức của hội thảo này, có lẽ đúng nghĩa với hội thảo, mỗi đề tài được báo cáo và trao đổi thảo luận ở hội trường khoảng 1 giờ rưỡi, thời gian b/c khoảng hơn 1/3, còn lại dành cho thảo luận, chứ không như chỉ làm sao có nhiều báo cáo mà không có thảo luận. Tôi cũng được mời báo cáo về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam hướng tới tăng thu nhập cho nông dân. Thời gian báo cáo và thảo luận vượt quá mức quy định, chủ tịch đoàn khuyến khích, vì thảo luận khá sôi nổi, trao đổi kinh nghiệm khá phong phú.
2./ Vấn đề lớn nhất của toàn cầu là: (i) an ninh lương thực trong tình hình nhu cầu ngày càng tăng mà đất ruộng lại ngày một thu hẹp do phát triển đô thị, khu công nghiệp và sân golt; (ii) biến đổi khí hậu toàn cầu, ngày càng diễn biến phức tạp vừa làm giảm diện tích sx lúa, vừa tạo ra điều kiện ngày một khó khăn cho sx lúa; và (iii) cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính vừa qua. Tất cả đều không phải nông dân gây ra, nhưng người nông dân phải hứng chịu hậu quả sớm nhất, nhiều nhất, và nặng nề nhất.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho rằng an ninh lương thực nói riêng và nông nghiệp nói chung ở Việt Nam ta đã làm giảm tối thiểu tác hại đến Việt Nam từ khủng hoảng kinh tế TG từ phố Wall bên Mỹ. Các nhà khoa học và giới quan chức cùng có nhận thức đúng đắn như trên, đã thể hiện bằng những bài phát biểu và bài viết với nội dung là người nông dân đều phải hứng chịu sớm nhất và nhiều nhất những hậu quả do các nước phát triển, do tầng lớp những người có thu nhập cao ngất gây ra. Thế nhưng, quá trình khắc phục những hậu quả trên lại do những người nông dân đứng hàng đầu.
3./ Mặc dầu đã có NQ VII của Đảng ta rõ ràng và công bằng đối với nông dân, nhưng vẫn còn có những nhận thức và việc làm không theo tình thần NQ VII. Sau khi NQ VII trên ban hành, một số ký giả và chuyên gia kinh tế cho rằng cần gì phải bắt nông dân VN oằn mình làm để tăng sản lượng lúa cho xuất khẩu đến 6 triệu tấn gạo, mình đâu có chức năng lo an ninh lương thực cho toàn thế giới! Sao không đầu tư phát triển các ngành khác thu lời nhiều mà đầu vào ít, như du lịch, sản xuất phần mềm máy tính... TS Trần Văn Đạt chuyên gia của FAO ở Italia, nay hưu ở Mỹ, sau khi tìm hiểu tình hình ở quê nội ở Tiền Giang và quê ngoại ở Vĩnh Long thuộc ĐBSCL cũng nhận thấy ở nhiều nơi hiện ta chưa chưa có hoạt động kinh tế nào hơn tăng năng suất và tăng vụ lúa gạo, giảm sx lúa gạo ở ĐBSCL là giảm thu nhập của nông dân vốn đã rất nghèo khó, vì làm mầu thì vừa khó bán, vừa khó bảo quản.
4./ Vai trò của “4 nhà –Nhà nước, nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông là trung tâm” có lẽ cũng là cách làm tốt nhất. Được biết, tỉnh Kiên Giang và Hậu giang được chọn xã điểm ở vùng sâu vùng xa, vùng có nhiều người dân tộc, vùng còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống. Trung ương cho vốn khoảng 30 tỷ/ xã, tỉnh đóng góp thêm gấp khoảng 4 lần. Trao đổi với một số cán bộ thực hiện ở địa phương, thì việc tranh thủ được số vốn lớn cho MH- NTM đã rất khó, sử dụng vốn đó cho có hiệu quả càng khó hơn nhiều, ngay cả trong việc chọn bước đi thích hợp với tính khả thi cao nhằm đạt hiệu quả cao, nếu không lại rơi vào tình trạng duy lý trí và hình thức.
Tại xã điểm ở Gò Quao, Kiên Giang, Viện Lúa ĐBSCL tham gia một khâu sản xuất lúa, tuy chưa thu hoạch vụ đầu, nhưng có tác dụng, vì là bước đi và người thực hiện thích hợp.
19/07/2010
(Bài do tác giải gửi)
Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010
Hoàng Ngọc Hiến như tôi đã biết…
DẠY VÀ HỌC. Phan Hồng Giang đăng trên Viet-Studies bài "Hoàng Ngọc Hiến như tôi đã biết". Ông viết "Thi sĩ Nga S. Êxênhin từng viết: "Điều trọng đại phải nhìn xa mới thấy". Với Hoàng Ngọc Hiến, tôi nghĩ có lẽ không cần phải lùi xa mới thấy tầm vóc sự nghiệp của anh. Dù yêu hay không ưa anh, chúng ta không thể không thừa nhận dấu ấn khó lẫn của anh trong đời sống văn hóa, văn học Việt Nam mấy thập niên qua.Có thể nhận thấy ở anh một Phan Khôi, một Đào Duy Anh, hay một Nguyên Ngọc? Và rồi có cần phải so sánh anh với một ai khác không? Có lẽ là không cần. Bởi đơn giản - trước hết và sau hết - anh là Hoàng Ngọc Hiến, đã là và chỉ là Hoàng Ngọc Hiến (GS. Hoàng Ngọc Hiến, ảnh tanvien,net).
HOÀNG NGỌC HIẾN NHƯ TÔI ĐÃ BIẾT ...
Phan Hồng Giang
Đời người trôi qua thật nhanh. Mới ngày nào chiều chiều còn mải mê chạy theo trái bóng cùng bạn bè và anh Hiến trên bãi cỏ đồi Lênin bên dòng sông Maxcơva đến nay đã gần nửa thế kỷ. Lúc ấy cả cuộc đời gần như còn mở ra phía trước chúng tôi và bây giờ là… sắp khép lại! Dạo đó chúng tôi ở lứa tuổi 20, còn anh Hiến ngoài 30. Và hôm nay - mừng anh thượng thọ 80! Thật là khó tin bởi cảm xúc và suy nghĩ của anh còn sôi nổi, tươi mới lắm…
*
Nếu đường đời mỗi người phần nào giống sự hỗn độn bất định trong chuyển động Brown thì cái phần định hướng tất yếu của nó ít ra là phụ thuộc vào 2 yếu tố: 1/ tính cách cùng sự hiểu biết của người đó và 2/ tác động của ngoại cảnh, của những con người cụ thể mà anh ta đã gặp - tình cờ hoặc không tình cờ. Ngẫm lại đời mình, tôi vui mừng nhận thấy anh Hiến - người thầy, người bạn vong niên, đã có mặt bên tôi ở các khúc rẽ của cuộc đời.
*
Tháng 8 - 1960, chuyến tàu liên vận đặc biệt từ Hà Nội qua Bắc Kinh sau 12 ngày rong ruổi đã đưa mấy trăm lưu học sinh chúng tôi đến Thủ đô Maxcơva, thời đó là miền đất hứa đối với mỗi người Việt Nam.
Chúng tôi - những người may mắn nhất trong số những người may mắn - được vào học Trường danh tiếng nhất của Liên Xô - Trường Đại học Tổng hợp quốc gia mang tên Lômônôxốp.
Là sinh viên năm thứ nhất khoa Ngữ văn, chúng tôi ở ký túc xá thuộc vùng Xôcônnhiki phía Bắc thành phố, ngày ngày vào trung tâm, quảng trường Manhej, để học ở tòa nhà cổ thuở Trường mới thành lập. Ít lâu sau chúng tôi tới ký túc xá ở cực Nam thành phố trên đồi Lênin để dự buổi gặp mặt với các lưu học sinh Việt Nam đã theo học khoa Ngữ văn từ trước. Và đó là lần đầu tiên chúng tôi được biết các anh chị lớn tuổi hơn - các anh Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Tôn Gia Ngân, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Hàm Dương…, những người sau này đã là những nhà khoa học nổi trội trong chuyên ngành của mình. Khác biệt về tuổi tác, trình độ, khiến chúng tôi chỉ dám ngước nhìn các anh như nhìn… núi Thái, không dám mon men đến gần…
Sang học kỳ 2 năm thứ nhất, trong cuộc đời sinh viên tưởng chừng xuôi chèo mát mái của tôi bỗng xảy ra sự cố. Bên cạnh khoảng 10 sinh viên vốn là học sinh phổ thông, có một anh lớn tuổi là cán bộ đã qua trường Bổ túc công nông. Anh là đảng viên duy nhất trong số các sinh viên, là chi ủy viên chi bộ Khoa Ngữ văn. Anh hay tự hào mình là "thành phần cơ bản", là xuất thân vô sản. Anh có ác cảm với tôi và anh bạn đồng khoa với tôi là Phạm Vĩnh Cư, (sau này là Phó Hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du, nhà Nga học hàng đầu ở nước ta). Hồi đó, thật lạ lùng, chúng tôi là hai lưu học sinh duy nhất không phải đoàn viên (!) và mặc nhiên được xếp vào hàng "cá biệt", "chậm tiến"! Chúng tôi không lọt "vào mắt xanh" của Đoàn có lẽ do nhược điểm cố hữu có từ hồi học phổ thông là "thiếu tinh thần tập thể", không "hòa mình với quần chúng" (!), chỉ lo học, lo "chuyên" mà coi nhẹ "hồng"… Trước vẻ tự đắc luôn khoe mình là vô sản của vị chi ủy viên nọ, chúng tôi đã trót dại đốp chát lại: "Vô sản gì anh, là vô sản lưu manh - lumpel-proletariat thì có!". Anh ta giận tím mặt và rắp tâm lập kế trả đũa chúng tôi như những "kẻ thù giai cấp" (!). Mãi sau này anh họ tôi là Nguyễn Đức Nam mới kể cho tôi nghe sự tình diễn ra thế nào.
Trong một phiên họp chi bộ, với tư cách là chi ủy viên phụ trách sinh viên, anh ta báo cáo về tình trạng "vô tổ chức (?) của Phạm Vĩnh Cư và tôi, đồng thời đề xuất hình thức kỷ luật đuổi hai chúng tôi về nước! Vốn là các tri thức nhạy cảm, các anh Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Văn Hạnh…, tuy không gần gũi quen biết chúng tôi, nhưng linh cảm có điều gì thiếu minh bạch trong báo cáo của vị đảng viên - vô sản nọ. Anh Hiến hỏi vị chi ủy viên kia: "Kết quả học tập của hai cậu ấy thế nào?". Vị ấy đành phải nói thật: "Chúng nó thi học kỳ đạt điểm 5 (điểm xuất sắc) cả!". Anh Hiến cùng các anh khác liền bày tỏ phản ứng gay gắt: "Sao lại nhè những đứa học giỏi nhất mà đuổi! Chúng nó còn trẻ người non dạ, có gì không hay, không phải thì nhắc nhở, bảo ban nó, sao lại hành xử thế!". Ý định kỷ luật chúng tôi của anh đảng viên - vô sản nọ thế là bị đổ bể. Nếu không có sự phản đối kịp thời mạnh mẽ của anh Hiến và các anh khác thì cuộc đời tôi (và Phạm Vĩnh Cư) có thể đã rẽ sang một lối khác. Với vết nhơ lý lịch "bị đuổi từ Liên Xô về" chắc chúng tôi khó ngóc đầu lên được và chắc đã trở thành - trong trường hợp may mắn (!) - chuyên gia "làm bánh quy xốp" hay "lộn cổ áo sơ mi" - những nghề khá phát đạt thời bao cấp nghèo khó…
(Đoạn "vĩ thanh" của câu chuyện vừa rồi kể cũng khá tẻ nhạt và không quá bất ngờ: Hơn 20 năm sau, vị đảng viên - vô sản nọ đã leo lên tới chức Vụ trưởng ở một Bộ quan trọng rồi bị bãi chức, bị khai trừ lưu Đảng vì một khuyết điểm chẳng hề liên quan đến ý thức hệ giai cấp (!) là đã trót nổi lòng tham chiếm đoạt nhiều bàn là, nồi áp suất (!) của bạn gửi nhờ vào thùng hàng biển của anh ta!).
*
Đến cuối năm thứ hai (1961) thì đám sinh viên chúng tôi được ưu ái vào ở mỗi người một phòng 8m2 trong ký túc xá trên đồi Lênin - tòa nhà chọc trời quen thuộc với ngôi sao hồng ngọc trên đỉnh tháp. Từ thời gian ấy tôi có dịp được gần gũi hơn với anh Hiến, anh Hạnh, anh Nam…
Anh Hiến dạo ấy đang làm luận án phó tiến sĩ về đề tài "Những tìm tòi về thể loại trong một số trường ca của V. Maiacốpxki". Anh sống giản dị, tiết kiệm như hầu hết các lưu học sinh Việt Nam. Anh ham mê thể thao, chiều chiều vẫn thường đá bóng cùng các sinh viên chúng tôi - Hồ Anh Dũng (sau này là Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam), Nguyễn Trí Quang (sau này là Vụ trưởng Vụ Tây Á - Phi Châu), Hồ Hải Học (sau này là Giám đốc Sở Văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng)…
Làm nghiên cứu sinh, anh Hiến không quên theo dõi sát sao đời sống văn học xô viết đương đại. Anh đọc tập thơ "Trái lê hình tam giác" (1963) của nhà thơ trẻ, một kiến trúc sư ở thành phố nhỏ Vladimir tên là A. Vôznhexenxki. Hào hứng với ý tưởng khác lạ, những tìm tòi phá cách của A.Vôznhexenxki, anh Hiến đã viết thư cho tác giả với những lời lẽ khen ngợi hết lòng. Và thật bất ngờ, không lâu sau, anh nhận được tập thơ "Trái lê…" của tác giả với mấy hàng chữ phóng khoáng mà gần nửa thế kỷ sau tôi còn thấy như hiển hiện: "Thân tặng Hoàng Ngọc Hiến, từ Vôznhexenxki. Trái đất, Thế kỷ XX".
Xin lưu ý: Thay vì ghi rõ địa danh và ngày tháng cụ thể của việc đề tặng, nhà thơ đã tự coi việc mình làm là thuộc về cả hành tinh và thế kỷ 20! Đùa giỡn chăng, cao ngạo quá chăng hay chỉ là sự tự tin đáng ngạc nhiên về thiên chức của mình trong làng thơ? Xem ra ở một số vĩ nhân cũng ít khi có sự "khiêm tốn giả vờ". Tài năng và đóng góp thực sự của họ trong nhiều trường hợp có thể biện minh cho tính cao ngạo ấy.
A.Vôznhexenxki đã không tự đánh giá nhầm mình. Ông vừa qua đời tháng trước ở tuổi 77. Cả nước Nga đã thương tiếc một nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, một ngọn cờ trên thi đàn Nga nửa thế kỷ qua. Ở Việt Nam, ông được biết với tư cách là tác giả lời thơ của bài hát nổi tiếng "Triệu bông hồng", về câu chuyện tình bi thương của một chàng họa sĩ…
Vôznhexenxki còn nổi tiếng với khí phách trung thực, ngang tàng của mình. Trong một lần gặp gỡ các văn nghệ sĩ Xô viết, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Nhikita Khơrutsốp, bực bội với những bài thơ lộ rõ tính phê phán hiện thực xã hội Liên Xô thời ấy, đã nói với nhà thơ: "Này, ông Vôznhexenxki , ông có thể cầm hộ chiếu mà cuốn xéo khỏi đất nước này rồi đó!". Trước đông đảo văn võ bá quan, nhà thơ trẻ mới nổi điềm tĩnh đáp: "Thưa ngài Bí thư, tôi và người thầy tinh thần của tôi là Maiacôpxki đều là người ngoài Đảng và đều khát khao chia sẻ tâm tư của mình với nhân dân!". Và nhà thơ vẫn ở lại đất nước Liên Xô, để làm trọn sứ mệnh cao cả của mình, bất chấp sự kỳ thị của các nhà cầm quyền (cho đến khi họ không thể cầm quyền được nữa trước xu thế tất yếu của lịch sử!).
Tôi thấy ở đây, trong câu chuyện thoáng qua về Vôznhexenxki, có sự giao thoa nào đó giữa nhà thơ và Hoàng Ngọc Hiến. Không phải ngẫu nhiên mà anh Hiến ca ngợi Vôznhexenxki. Phải chăng sự nhạy cảm, năng lực thiên phú phát hiện cái mới, cái độc đáo "phá rào", cái vượt ra ngoài mọi phép tắc giáo điều xơ cứng thường trực trong con người Hoàng Ngọc Hiến khiến anh ngay từ đầu đã tìm được sự đồng điệu với Vôznhexenxki, một nhà thơ "phá cách" cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật biểu hiện?
Dõi theo bước đường đi sau này của Hoàng Ngọc Hiến, tôi không hề thấy bất ngờ chút nào khi biết chính anh là một trong số những người đầu tiên phát hiện và hết mực đề cao tài năng của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh…
*
Từ năm 1963, giữa bộ máy tuyên truyền khổng lồ của hai Đảng Cộng sản lớn nhất, đứng đầu hai Nhà nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh Liên Xô - Trung Quốc bắt đầu diễn ra màn đấu khẩu công khai về đường lối cách mạng. Liên Xô công kích Trung Quốc là "tả huynh", là coi rẻ sự tồn vong của cả nhân loại, sẵn sàng chấp nhận thảm họa hạt nhân để tiến tới xác lập chủ nghĩa xã hội trên… tro tàn trái đất… Trung Quốc mạt sát Liên Xô là "hữu khuynh" xét lại, sẵn sàng quỳ gối hòa hoãn trước "con hổ giấy" đế quốc Mỹ, dội nước lạnh vào nhiệt tình cách mạng đang dâng trào của giai cấp vô sản thế giới…
Trong bối cảnh cuộc đấu tranh vũ trang của đồng bào miền Nam ngày càng mở rộng, trước nguy cơ nhỡn tiền của một cuộc đối đầu trực diện với Mỹ ở cả hai miền đất nước, không khó hiểu khi những luận điểm của phía Trung Quốc dễ lọt tai người Việt Nam hơn. Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khuynh hướng coi Liên Xô là xét lại, hữu khuynh thắng thế, dẫn đến quyết định cân nhắc việc có nên để các lưu học sinh Việt Nam tiếp tục theo học các ngành khoa học xã hội ở Liên Xô nữa không.
Mùa hè 1964, hàng trăm lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô được triệu hồi về nước để tham dự khóa chỉnh huấn tập trung 1 tháng tại Trường Đại học kinh tế Quốc dân ở Ngã tư Vọng - Đại La. Chúng tôi được sắp xếp học cùng lớp chính trị với anh Hiến.
Cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa quên những "lời có cánh" từ miệng các vị giảng viên cao cấp: "với ông anh cả Liên Xô, ta vẫn có thể ôm hôn, nhưng tuyệt đối không được hít (!?); "ta cương quyết đánh Mỹ, đồng nghĩa ta là trung tâm cách mạng, ta là người nắm chân lý, thiên hạ có cắp sách đến ta mà học thì đến, chứ việc gì ta phải đi học đâu! Cần có bằng tiến sĩ à? Thì ta cứ ngồi mà phong cho nhau cũng được, có sao đâu!"… (Kết quả của những lời này là hầu hết các học viên khóa chỉnh huấn nọ đều ở lại Việt Nam, mặc dù đồ đạc tư trang của họ vẫn để ở Liên Xô.).
Chính trong lớp chỉnh huấn này, tôi có dịp được cảm nhận tính cách ngang tàng, trung thực đến dại dột (?) của anh Hiến. Có người đã hăng hái chỉ trích anh Hiến bị ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa xét lại Khơrútsốp. Đáp lại lời phê phán "chết người" này, anh Hiến thật thà nói: "Anh nói như vậy là hoàn toàn sai. Tôi không hề chịu ảnh hưởng của Khơrútsốp, bởi tôi đã tự mình nghĩ ra trước những điều mà sau này mới nghe thấy Khơrútsốp nói!". Thật là thành thực hết biết! Như vậy thì chỉ còn có thể kết luận rằng cái anh Hoàng Ngọc Hiến này là một kẻ "xét lại" thâm căn cố đế, "xét lại" từ trong máu và tội của anh tăng nặng gấp đôi!
Lệnh cấm trở lại học tập Liên Xô không ảnh hưởng gì đến anh Hiến; đơn giản vì tới lúc đó, anh đã bảo vệ thành công luận án về Maiakốpxki. Trước khi đi học Liên Xô, anh vốn là cán bộ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau khi thành đạt trở về, với cái án bị ảnh hưởng xét lại nặng nề, anh bị (hay được?) chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, ngôi trường sẽ còn gắn bó với anh nhiều năm sau…
*
Kết thúc đợt chỉnh huấn, trước khi đi Vinh nhận công tác, anh Hiến có những ngày vui vẻ ở Hà Nội. Cùng với Nguyễn Văn Niêm, anh bạn học ngôn ngữ ở Rôxtốp - na - Đônu, anh mua tour đi nghỉ mát ngắn ngày ở Tam Đảo (xin nhớ lúc này Mỹ đã ném bom miền Bắc từ 5 - 8 - 1964 sau cái gọi là "sự kiện Vịnh Bắc Bộ" mà phía Mỹ tạo dựng lên - chiến hạm Maddox bị tấn công…). Khách đi nghỉ lên tàu hỏa tới ga Phú Thọ rồi được Công ty du lịch đón tại ga đưa lên Tam Đảo bằng xe commăngca "đít vuông" với hai băng ghế dọc xe chở được 12 người.
Vốn không phải là người lạnh nhạt với vẻ đẹp khác giới, anh Hiến để ý thấy trên xe có một thiếu nữ trạc ngoài 20 với gương mặt xinh xắn, thanh tú. Điều làm anh ngạc nhiên nhất là cô gái đó đi nghỉ mát một mình, trái với lệ thường, không bạn bè, không người thân cùng đi. Anh đánh giá cao tính cách tân kỳ, hiện đại - modern như anh nói - của cô gái. Anh biết chị đang làm việc ở Nhà máy dệt Kim Đông Xuân và anh đã làm quen, đã trò chuyện, dạo chơi cùng suốt mấy ngày ngắn ngủi trên Tam Đảo.
Về Hà Nội, anh lại hẹn hò đi chơi cùng cô gái ở Công viên Thống nhất. Dạo ấy nhà tôi ở phố Nguyễn Thượng Hiền, cách Công viên không xa. Một buổi tối, trời nổi cơn mưa như trút nước, kéo dài cả tiếng đồng hồ. Khi cơn mưa vừa ngớt, bất ngờ tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Ngoài hành lang, anh Hiến đứng bên cô gái, cả hai đều ướt sũng nước mưa. Mẹ tôi mời hai người vào nhà và lấy quần áo của mình cho cô gái mặc. Khi chia tay anh chị ở dưới sân, anh Hiến ghé tai tôi nói nhanh: "Mình mới tìm được người yêu đấy!". Đó chính là cô gái cùng đi Tam Đảo ít ngày trước. Tình yêu đến khá nhanh, có thể nói là "chớp nhoáng" theo đúng tính cách của anh.
Theo cảm nhận của tôi, hình như anh Hiến không phải - hay chủ yếu không phải - là người "duy cảm". Anh là người thiên về lý trí, tôn thờ vẻ đẹp hài hòa, hợp lý của trí tuệ và chắc là ít khi bị làm con tin của tình cảm. Trong tình yêu chắc anh không bao giờ rơi vào cảnh ngộ chàng Werther của đại thi hào J.W.Goethe hay Romeo, Juliet của W.Shakespeare…
Viết đến đây, tôi bỗng nhớ đến một giai thoại (chắc nhiều phần là có thật) về một "chuyện tình" của anh thời kỳ ở trên đồi Lênin đầu những năm 1960. Dạo đó ở Khoa Ngữ văn có một trang tài sắc vẹn toàn là cô sinh viên L.H từng khiến bao chàng tơ tưởng. Anh Hiến không là ngoại lệ. Một hôm, anh đến phòng L.H và tỏ tình cảm với cô gái mà không cần rào đón. Cô gái ngỡ ngàng xuýt bật cười với màn tỏ tình lạ lẫm bất ngờ. Cô gái ngạc nhiên hơn nữa khi thấy anh hẹn giờ cụ thể chờ nghe câu trả lời của cô. Đương nhiên là không có câu trả lời nào ngoài sự từ chối trong im lặng. Anh Hiến chắc cũng không quá buồn trước kết cục được báo trước này. Chắc anh sẽ quên đi rất nhanh chuyện đó để rồi tiếp tục làm những việc khác mà anh đã "lên kế hoạch"… Giai thoại này khiến tôi nhớ đến chuyện tỏ tình khác người của một số nhà bác học như Edison, P.Curie…
Vài tháng sau cái buổi tối đi chơi gặp mưa ấy, anh Hiến gửi cho tôi giấy mời dự đám cưới của anh với cô gái Tam Đảo ngày nào tổ chức tại Nhà ăn tập thể Nguyễn Công Trứ…
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua. Làm vợ một người viết văn chẳng dễ dàng, làm vợ một học giả, một trí thức lớn dường như lúc nào cũng theo đuổi những ý tưởng trên gió trên mây, chẳng mấy khi chạm chân xuống mảnh đất đời thường - càng chẳng dễ dàng. Ấy vậy mà chị Tố Nga - tên người con gái modern năm xưa, đã cùng anh gánh trọn những "năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương" (chữ của Ma Văn Kháng), giúp anh làm nên một sự nghiệp đáng nể phục trong đời…
*
Rời Hà Nội, để lại người vợ trẻ mới cưới, Hoàng Ngọc Hiến vào Vinh nhận công việc mới. Hàng năm những lúc không phải đứng lớp, anh vẫn mang xe đạp lên tàu ra Hà Nội đọc sách, nghiên cứu, thăm gia đình. Thời kỳ này, tôi phải đi sơ tán ở Hiệp Hòa, Hà Bắc nên cũng không được gặp anh Hiến nhiều.
Vài lần gặp anh, nhớ câu chuyện anh kể, thật đúng chất Hoàng Ngọc Hiến. Năm 1968, sau mấy năm tạm đình chỉ nâng bậc lương, Nhà nước lại cho phép tăng lương cho 10% cán bộ. Trong một cuộc họp của Trường, anh Hiến đứng dậy phát biểu: "Tôi thấy ở Trường ta có ít nhất 2 người xứng đáng được tăng lương đợt này - đó là anh Nguyễn Đăng Mạnh và tôi!". Mọi người ngỡ ngàng trước đề xuất không khách sáo, không úp mở của anh. Nhưng rồi lãnh đạo Trường cũng chấp nhận "lời đề nghị khiếm nhã" của anh Hiến. Vì đằng thẳng mà nói thì về mặt chuyên môn, trong Trường khó có ai vượt được hai anh - cặp bài trùng mà trong nhiều năm sau còn nổi đình đám hơn nữa trong đời sống văn học nước nhà… Một lần nữa ta lại gặp ở đây, nơi Hoàng Ngọc Hiến nét tính cách "không khiêm tốn giả vờ" như của nhà thơ Nga A.Vôznhexenxki đã nhắc ở phần trên…
Anh cũng tâm sự với tôi về nguy cơ bị cùn mòn, mai một vì một thứ "chủ nghĩa tỉnh lẻ" vô hình. Anh nói về thầy giáo L.H.N. khả kính vốn là một sinh viên xuất sắc, một nhà nghiên cứu đầy triển vọng, khi được tín nhiệm điều về quản lý Trường ĐHSP Vinh, rời xa không khí học thuật của Thủ đô, bị cuốn vào vô số sự vụ không tên, đã dần dần mất hào hứng khoa học, biến thành "vĩ nhân tỉnh lẻ" lúc nào không hay… Anh sợ mình một ngày nào cũng có thể biến thành như thế, bị "chủ nghĩa tỉnh lẻ" gậm nhấm. Và anh ấp ủ một dự định tìm đường "Bắc tiến", trở lại Hà Thành thân thuộc, gần gũi với anh…
*
Năm 1974, lại thêm một khóa bồi dưỡng người viết văn trẻ ở Trường Quảng Bá, khóa 7, kết thúc. Đây được coi là khóa cuối cùng bởi từ đây, cấp trên nhận thấy việc bồi dưỡng, đào tạo người viết văn trẻ dường như là quá sức đối với một đoàn thể quần chúng là Hội Nhà văn và quyết định giao việc này cho Bộ Văn hóa, một cơ quan quản lý Nhà nước bề thế hơn nhiều. Người lãnh đạo trực tiếp cao nhất lĩnh vực văn hóa - văn nghệ thời đó là đồng chí Hà Huy Giáp: ông vừa là Bí thư Đảng đoàn Bộ Văn hóa vừa kiêm nhiệm Bí thư Đảng đoàn Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ở Bộ Văn hóa ông còn trực tiếp làm Hiệu trưởng Trường Lý luận nghiệp vụ. Ý định tất yếu tiếp theo là chuyển nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng người viết văn trẻ về Trường Lý luận nghiệp vụ, thành lập tại trường này một khoa hoàn toàn mới - đó là Khoa Viết văn. Và người đầu tiên ông Hà Huy Giáp nghĩ tới để gửi gắm trọng trách là anh Hoàng Ngọc Hiến, người đồng hương Hà Tĩnh quê ông.
Và thế là anh Hiến nhanh chóng được chuyển về Hà Nội, trở thành người thừa hành sáng lập Khoa Viết văn, sau này sẽ là Trường Viết văn Nguyễn Du nổi tiếng một thời…
*
Năm 1974 là một năm khó quên trong đời sống văn học miền Bắc nước nhà. Không biết từ đâu, người ta báo động (thật hay giả?) về cái gọi là tình trạng tư tưởng lộn xộn đang lan truyền trong giới cầm bút. Các vị "lính gác" mẫn cán trên địa hạt phê bình đua nhau phát hiện các vấn đề tư tưởng trong kịch "Hoa và Ngần" của Nguyễn Đình Thi, trong hồi ký "Nhớ gì ghi nấy" của Nguyễn Công Hoan, trong bài viết về anh cá nhân chủ nghĩa của Nguyễn Khải, về sự nguy hại của độc quyền của nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi, về chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam của Lê Đình Kỵ, về các tác phẩm của Ngô Tất Tố của Nguyễn Đức Đàn, bài thơ "Vòng trắng, vòng đen" của Phạm Tiến Duật, bài thơ "Sẹo đất" của Ngô Văn Phú… và thậm chí cả các bài giới thiệu tiểu thuyết "Con đường đau khổ" của A.Tônxtôi và "Xi măng" của F.Glátcốp do tôi viết cũng bị đưa vào tầm ngắm. Thời gian này, cuốn "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" (vốn là Báo cáo của đồng chí Trường Chinh tại Đại hội Văn hóa toàn quốc năm 1948) được tái bản. Nhiều nhà phê bình danh tiếng trên các diễn đàn có uy tín đã nhân việc giới thiệu cuốn sách của đồng chí Trường Chinh mà tiện thể phê bình cảnh báo, răn đe giới nhà văn trước các biểu hiện "tư tưởng lệch lạc nghiêm trọng" của họ.
Trong không khí căng thẳng đó, tạp chí Tác phẩm mới, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam thấy cần phải lên tiếng, ít ra là để tự bào chữa. Thời gian này, người phụ trách trực tiếp tạp chí là nhà thơ Chế Lan Viên và nhà thơ Hoàng Trung Thông. Thời kỳ đó tôi đang là biên tập viên phần lý luận, phê bình của tạp chí. Với tâm thế của một kẻ "điếc không sợ súng", tôi đã hăng hái nhận viết bài về cuốn sách của đồng chí Trường Chinh. Sau khi đọc xong bài viết của tôi, nhà thơ Hoàng Trung Thông cẩn thận chuyển lên đồng chí Trường Chinh xin ý kiến. Đồng chí Trường Chinh đã đọc rất kỹ, tự tay sửa từng câu, từng chữ, từng dấu phẩy, dấu nối trong bài viết dài hơn 20 trang đánh máy của tôi, cho gọi tôi đến trụ sở Quốc hội 35, Ngô Quyền làm việc hơn 2 tiếng đồng hồ và cuối cùng đồng ý cho đăng trên tạp chí Tác phẩm mới số 3 + 4 năm 1974.
Sau này nhà thơ Chế Lan Viên kể lại cho tôi nghe về cuộc họp Đảng đoàn Văn nghệ mà ông là một ủy viên. Trước chủ tọa là đồng chí Hà Huy Giáp, nhà thơ Chế Lan Viên, với giọng bộc trực thường có, nói đến cái gọi là "công trạng" của tạp chí Tác phẩm mới mà ông phụ trách: "Trong khi các báo mượn việc giới thiệu cuốn sách của đồng chí Trường Chinh để "đánh" các nhà văn thì Tác phẩm mới làm ngược lại: Tạp chí đăng bài của Phan Hồng Giang được đích thân đồng chí Trường Chinh thông qua để "bênh vực" các nhà văn. Đó là bài viết chừng mực, nghiêm túc nhất trong các bài đã đăng về cuốn sách của đồng chí Trường Chinh…".
Thời gian qua đi, làn sóng phê phán các nhà văn tắt dần, "mọi sinh hoạt trở lại bình thường". Có lẽ tên tôi đã lọt vào "bộ nhớ" của ông Hà Huy Giáp nên ít lâu sau, ông cho gọi tôi tới nhà để trao nhiệm vụ chấp bút cho ông bài viết về vấn đề đào tạo cán bộ văn hóa nghệ thuật. Ông nêu ra các ý chính và tôi viết lại thành bài. Tôi đã hoàn thành tốt việc này và "lấy điểm" trong mắt ông.
Kể lể dài dòng những chuyện trên là cốt để nói tới việc gặp nhau trong ý tưởng bổ sung nhân sự của Khoa Viết văn giữa chủ nhiệm khoa Hoàng Ngọc Hiến và vị Hiệu trưởng Hà Huy Giáp. Cả hai đều nhất trí sẽ đưa tôi về Khoa Viết văn từ Hội Nhà văn Việt Nam.
Phần tôi, sau 6 năm làm việc ở Hội, tôi đã muốn "xê dịch". Tôi đã nghiệm ra rằng với các nhà văn lớn có lẽ chỉ nên làm quen trên tác phẩm, chớ nên tiếp xúc quá gần gũi trong đời thường mà dễ dẫn đến thất vọng; ánh hào quang bao quanh họ trước đó dễ bị phai mờ… Tôi vui vẻ nhận lời về làm việc cùng anh Hiến. Với sự "bật đèn xanh" từ cấp lãnh đạo cao nhất cả của Bộ và của Hội, các thủ tục chuyển cơ quan vốn thường rất rắc rối, đã diễn ra chóng vánh. Tôi trở thành "cư dân" của vùng ô chợ Dừa, Đê La Thành, là "đệ tử" trực tiếp của anh Hiến từ đó…
*
Đến năm 1974, lệnh miệng đình chỉ việc cử lưu học sinh đi học các ngành khoa học xã hội ở Liên Xô - Đông Âu cũng tự nhiên hết hiệu lực. Các nhà phê bình văn học Từ Sơn, Huỳnh Khái Vinh là những người đầu tiên được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Đức. Cửa đã mở lại. Bộ Đại học bắt đầu tổ chức thi tuyển nghiên cứu sinh. Một lần nữa anh Hiến lại trở thành ân nhân của tôi: Anh đã thành công trong việc đề cử tôi với Trường, với Bộ để tôi được trở lại Liên Xô làm nghiên cứu sinh.
Năm 1977, cùng với mười mấy anh chị em khác, tôi dự kỳ thi tuyển. Ngoài môn Triết học, Lý luận văn học, các thí sinh được tự chọn môn chuyên ngành. Tôi chọn chuyên ngành "Văn học xô viết". Anh Hiến trở thành người thầy trực tiếp kiểm tra kiến thức của tôi. Một lần nữa anh Hiến đã ưu ái dành cho tôi điểm khá cao và nhờ đó tôi lọt vào số 2 người trúng tuyển để rồi năm 1978, sau 1 năm học thêm chuyên tu tiếng Anh, tôi đã được về lại Khoa Ngữ văn, Trường Tổng hợp Lômônôxốp.
Từ Maxcơva, tôi vẫn thường xuyên theo dõi việc anh Hiến làm với Khoa Viết văn. Báo chí trong nước vẫn sang Liên Xô đều đặn. Giữa năm 1979 tôi được đọc bài của anh "Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua", trong đó anh chỉ ra sự bất cập của cái anh gọi là "chủ nghĩa hiện thực phải đạo". Tôi thích thú với cách anh khái quát vấn đề, cách dùng từ găm vào trí nhớ, "bắt mạch kê đơn" cho nền văn học mấy chục năm qua - một nền văn học theo anh chủ yếu hướng về mô tả cái hiện thực phải - là - cái cao cả - chứ không mấy quan tâm tới hiện thực đang - là… (Gần đây, tôi tìm thấy trong cuốn Văn chương và hành động xuất bản năm 1936 của Hoài Thanh có những dòng viết tương đồng. Phàn nàn về khiếm khuyết bao trùm của nền văn chương Việt Nam đương thời, Hoài Thanh đi đến kết luận: "Nhà văn chỉ lo viết thế nào cho đúng với lẽ phải của xã hội mà không cần đúng với sự thật tự nhiên. Văn chương thành ra một cách dễ dối mình và dối người".).
Bài báo của anh Hiến liền sau đó đã bị phê phán gay gắt. Anh viết thư cho tôi bình thản thông báo: "Những ngày qua tôi bị phê bình dữ lắm. Nhiều người đến gặp an ủi tôi, sợ tôi buồn. Họ không biết rằng tôi không hề buồn, ngược lại còn cảm thấy thích thú là đằng khác: Bài báo của tôi đã bửa đôi dư luận, nửa khen - khen rất mực, nửa chê - chê hết mức". Xem ra anh Hiến vẫn là anh với niềm tin khó lay chuyển vào sự lý giải của mình. Hơn 8 năm sau, khi đất nước đã bước vào đổi mới, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có 2 ngày gặp gỡ cởi mở với các văn nghệ sĩ (tháng 10/1987), thẳng thắn thừa nhận "lãnh đạo văn nghệ còn thiếu dân chủ, trói buộc văn nghệ, nhiều khi độc đoán, sát phạt" (Báo Văn nghệ, ngày17/10/1987). Hai tháng sau sự kiện đáng nhớ đó, Nguyễn Minh Châu rành rẽ đọc "lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa". Đến lúc ấy thì những ý kiến có "hạt nhân hợp lý" và giá trị khai phá của anh Hiến dần được tiếp nhận một cách từ tốn hơn.
Cùng năm 1979 đáng nhớ ấy, mong ước về Trường Viết văn của anh Hiến đã trở thành sự thật. Khóa I được khai giảng với những học viên đầy tài năng ít năm sau đã thành lực lượng chủ chốt của Hội Nhà văn Việt Nam.
Vì nhiều lý do, sau khi đi học trở về, tôi tiếc rằng mình không được cùng làm việc với anh. Từ những cơ quan khác, tôi vẫn dõi theo những việc anh làm, những bài anh viết về văn học "dương tính" và "âm tính", về văn học "bước qua lời nguyền"… với sự nể phục và trân trọng. Những năm gần đây, anh bỏ công dịch những cuốn sách uyên thâm, làm công việc của một người khai sáng. Anh để tâm sức tìm hiểu minh triết Việt và có nhiều kiến giải thú vị, độc đáo… Dường như sức làm việc, sức nghĩ của anh chưa bao giờ vơi cạn…
*
Cách đây vài năm, tôi ngồi gần anh trong một bữa liên hoan vui vẻ. Câu chuyện tầm phào bất ngờ rẽ sang chủ đề người cao tuổi. Có vị khách cao giọng ngợi ca người già, nào là kho kiến thức uyên thâm, nào là kinh nghiệm sống ê hề, "thầy già, con hát trẻ"… Anh Hiến ngừng đũa, ngẩng lên, thủng thẳng nói: "Theo tôi, nên định nghĩa già là thế này: Già là một sự đốn mạt toàn diện - đốn mạt về thể lực, về tâm lực và trí lực!". Các vị thực khách, phần lớn đều già, mới đầu hơi chưng hửng vì sự thật đắng chát được ném ra, rồi liền đó đành cười xòa chấp nhận…
Còn tôi, tôi ngầm thán phục anh Hiến… Phải là người trên thực tế đứng cao hơn, cao hơn rất nhiều cái già mà anh thản nhiên tự diễu là "đốn mạt" ấy, để thấy rằng trong tâm hồn và trí lực anh còn bao sự tươi trẻ và thâm thúy!
Mừng anh thượng thọ 80, tôi tin chắc rằng sự nghiệp của anh về lâu dài sẽ còn mời gọi các học giả tìm tòi, mổ xẻ. Thi sĩ Nga S. Êxênhin từng viết: "Điều trọng đại phải nhìn xa mới thấy". Với Hoàng Ngọc Hiến, tôi nghĩ có lẽ không cần phải lùi xa mới thấy tầm vóc sự nghiệp của anh. Dù yêu hay không ưa anh, chúng ta không thể không thừa nhận dấu ấn khó lẫn của anh trong đời sống văn hóa, văn học Việt Nam mấy thập niên qua.
Có thể nhận thấy ở anh một Phan Khôi, một Đào Duy Anh, hay một Nguyên Ngọc?
Và rồi có cần phải so sánh anh với một ai khác không? Có lẽ là không cần. Bởi đơn giản - trước hết và sau hết - anh là Hoàng Ngọc Hiến, đã là và chỉ là Hoàng Ngọc Hiến./.
P.H.G
Hà Nội, 15/7/2010.
Bản của tác giả gửi cho viet-studies ngày 16.7.2010
Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010
Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế
DẠY VÀ HỌC. Cách đây ba năm, ngày 27.7.2007, báo Tuổi Trẻ đăng lời cảnh báo của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt "Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế" . Lúc đó, việc thành lập các tập đoàn kinh tế đã và đang được xúc tiến mạnh như một thứ phong trào. Sau ba năm với việc xẩy ra vụ Vinashin Đắm tàu Titanic Việt Nam “Nóng” từ vĩ mô tới dân sinh , càng thấy thấm thía, quý trọng đối với tấm lòng trách nhiệm, trí tuệ và nhân cách của ông.
Hiện nay, việc xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước đang diễn ra khá rộng mà chưa thấy có đủ cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn kinh nghiệm cần thiết. Thực tế mô hình này đã có thành công ở một số quốc gia, trong những giai đoạn nhất định, nhưng cũng không ít nền kinh tế bị chao đảo vì chịu ảnh hưởng nặng bởi sự thua lỗ của các tập đoàn kinh tế.
Các tập đoàn kinh tế của các nước trên thế giới có lịch sử khá lâu. Hầu hết các tập đoàn đều xuất phát từ các công ty gia đình nhỏ, nhưng hoạt động rất hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của những nhà quản lý giỏi dần trở thành tập đoàn khổng lồ. Quá trình này không diễn ra nhanh chóng mà thường phải mất hàng chục năm, gần như không có tập đoàn nào hình thành trong thời gian vài ba năm.
Các tổ chức kinh tế gọi là lớn của chúng ta (các tổng công ty 90, 91) là nền tảng để hình thành các tập đoàn, nói chung quy mô còn khiêm tốn. Thêm nữa, khả năng quản lý hệ thống, quản lý theo mô hình công ty mẹ - công ty con, vấn đề sở hữu... còn nhiều bất cập. Yếu tố then chốt đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động tốt là cơ chế quản lý, quan hệ giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu lại chưa được làm rõ, thực tế hiện nay ở ta vẫn là chia sẻ trách nhiệm.
Khi xảy ra sự cố, người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên. Như vậy, người trực tiếp điều hành vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”. Do đó, tình trạng lạm dụng tài sản của Nhà nước mưu lợi cho cá nhân: lợi thì doanh nghiệp hưởng, thua thiệt thì Nhà nước chịu vẫn phổ biến mà điển hình là sự yếu kém về quản lý dẫn đến các vụ bê bối ở Tổng công ty Dầu khí, Tổng công ty Điện lực (nay đã thành tập đoàn)... Trong khi đó, quan hệ trách nhiệm giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với chủ sở hữu ở các nước khác đã được xác định rạch ròi từ nhiều chục năm nay.
Các tổng công ty của ta yếu kém trong quản lý, trách nhiệm không rõ ràng chứ không phải yếu do quy mô và cơ cấu sản phẩm. Dưới cái vỏ mới tập đoàn kinh tế như hiện nay, nhưng thực chất vẫn vận hành với chế độ sở hữu cũ, những con người cũ, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh - điều tối cần thiết của người đứng đầu doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh... vì vậy, cũng không thể kỳ vọng có thể khắc phục được những khiếm khuyết, bất cập của cac tổng công ty lớn của chúng ta.
Hiện các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn: 70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư của nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% nguồn vốn ODA..., trong đó hơn 80% do các tổng công ty lớn đã hoặc sắp thành tập đoàn nắm giữ. Với khối tài sản lớn như vậy, nếu không cải thiện được hiệu quả hoạt động của khu vực này; vẫn tiếp tục tình trạng làm ăn thua lỗ, yếu kém thì tác hại của nó ở quy mô tập đoàn còn lớn hơn nhiều so với các tổng công ty 90, 91.
Việc ra đời các tập đoàn kinh tế, theo tôi cảm nhận dường như thiếu sự chuẩn bị kỹ và tuy được xem như làm thí điểm, nhưng những kết quả, mô hình hợp lý thì chưa thấy rõ lại tiếp tục mở rộng, thành lập thêm nhiều tập đoàn. Sự bành trướng của các tập đoàn sang mọi lĩnh vực kinh doanh khác vừa đi ngược chủ trương “Nhà nước và DNNN sẽ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân”; vừa phân tán lực lượng và sức cạnh tranh của DNNN, vừa không giải phóng được những nguồn lực do các DNNN nắm giữ mà không sử dụng có hiêu quả, vừa thêm khó cho Nhà nước trong việc kiểm soát các tập đoàn này. Đồng thời, các tập đoàn lại chiếm thêm phần thị trường, các nguồn lực vật chất và cơ hội kinh doanh vốn đã khiêm tốn cho khu vực tư nhân và doanh nghiêp vừa và nhỏ của Việt Nam khiến khu vực này khó cải thiện được năng lực cạnh tranh, khó lớn lên để phát huy vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế.
Tôi có gặp một số lãnh đạo các doanh nghiệp chủ chốt đã lên tập đoàn và sắp lên tập đoàn. Qua tìm hiểu, sự chuẩn bị các mặt từ tổng công ty lên tập đoàn (như trên tôi nói) chưa tốt, có tập đoàn sau khi hình thành, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh khác trong lúc quản lý sản phẩm chủ yếu cua mình chưa phải tốt.
Gần đây, có hiện tượng các tập đoàn đua nhau đưa ra những dự án đầu tư quy mô lớn và tranh thủ xin phê duyệt, một số đã được chấp thuận. Tôi thấy có nhiều vấn đề bất ổn trong các dự án này: một là, thiếu quy trình thẩm định khoa học, khách quan, nghiêm túc để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án một cách toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường; hai là, thiếu cơ sở để đánh giá đúng năng lực của các tập đoàn chủ trì thực hiện, quản lý và vận hành dự án (phần nhiều là yếu hơn những gì họ cam kết với Nhà nước); ba là, cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, ngân hàng nhà nước cam kết hợp vốn đầu tư qua lại cho nhau để làm các dự án lớn vừa không đủ minh bạch, vừa kém khả thi, vừa khó giám sát. Hậu quả cuối cùng có thể là những tổn thất lớn mà nền kinh tế của ta phải gánh chịu.
Trong bối cảnh hội nhập, nước ta sẽ phải mở cửa nền kinh tế mạnh hơn nữa, môi trường kinh doanh ở Việt Nam sẽ cạnh tranh gay gắt hơn. Số lượng và vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài, các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế sẽ ngày càng tăng. Khi nước ta phải thực hiện hai cam kết WTO về DNNN: DNNN phải hoạt động dựa trên cơ sở thương mại bình thường và mua sắm của DNNN không được coi là mua sắm của Nhà nước sẽ rất khó đảm bảo được.
Các tập đoàn của ta là DNNN có truyền thống dựa vào bao cấp vê nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ, nếu từ bỏ không dễ đứng nổi trong cạnh tranh; đồng thời các đơn vị này sẽ thường xuyên bị các đối thủ cạnh tranh soi xem có vi phạm cam kết WTO không. Nếu có vi phạm, không những bản thân doanh nghiệp đó bị thổi còi mà Chính phủ và cả ngành đó có thể bị trừng phạt lây. Khi các tập đoàn không thể đứng vững, mà với các điều kiện hiện tại thì không có gì đảm bảo các tập đoàn được thành lập sẽ hoạt đông tốt hơn DNNN hiện nay, vậy ai sẽ nắm giữ những nguồn lực và sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam.
Chính vì những lý do trình bày trên, tôi đề nghị hết sức thận trọng xem xét việc thành lập các tập đoàn kinh tế, dự phòng nhiều phương án và tiến hành thận trọng hơn.
VÕ VĂN KIỆT
Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010
Chúc em nghị lực bước vào đời
DẠY VÀ HỌC. Mùa thi đang đến ! Chúc em nghị lực bước vào đời ! Lời dặn của ông cha mãi còn đó: Nên thợ nên thầy nhờ có học. No cơm no mặc bởi hay làm (Nguyễn Trãi. Bảo kính cảnh giới. Bài 46 Quốc âm thi tập).
MÙA HOA PHƯỢNG
Hoa phượng em ơi đã đỏ trời
Ai nung cái nóng hỡi tình ơi !
Vườn dâu thấp thoáng cây tha thướt
Bãi biển mênh mang nắng rạng ngời
Độ ấy trao nhau lời chẳng cạn
Hè này gặp lại ý chưa vơi
Mà sao gió vẫn không ngừng thổiĐẩy mãi thuyền trôi suốt một đời *
17-5-2010
* Họa thơ Đông Hòa
SẼ MÃI ĐỪNG QUÊN
Đào Ngọc HòaRíu rít hân hoan, thắm đỏ trời
Tiếng ve rền rĩ gọi hè ơi!
Bút lưu hồn bút tâm trong trẻo
Tay nắm bàn tay dạ sáng ngời
Hẹn nhé ngày mai tình thẫm lại
Đừng quên năm tháng nghĩa đầy vơi
Trăm năm tri kỷ còn vương vấn
Sẽ mãi theo ta suốt cuộc đời
24.5.2010
(Hoa Huyền)
KỶ NIỆM THEO TA SUỐT CUỘC ĐỜI
Đào Ngọc Hòa
Xa quê lưu lạc bốn phương trời
Mỗi dịp hè về nhớ bạn ơi!Tiếng nhạc ve sầu thêu đốt dạ
Màu hoa thắm đỏ cháy hồng môi
Lửa yêu ngày ấy đang thôi thúc
Nghĩa cũ năm xưa vẫn sục sôi
Kỷ niệm theo ta còn đọng mãi
Thời gian mặc nó cứ dần trôi.
24.5.2010
(Hoa Huyền)
CHÚC EM NGHỊ LỰC BƯỚC VÀO ĐỜI !
Nên thợ nên thầy vì có học
No ăn no mặc bởi hay làm.
Nguyễn Trãi (1)
Tháng bảy mùa thi phượng đỏ trời
Như muôn tim nhỏ gọi hè ơi
Công cha nghĩa mẹ lòng thêm cố
Ơn thầy tình bạn chí luôn ngời
Kiến thức dày công càng đầy đặn
Nhiệt tình bền sức chẳng hề vơi
Lời ông cha dặn mong em nhớ (1)
Chúc em nghị lực bước vào đời !
Hoàng Kim
Kẻ khôn thì bảo kẻ ngây phàm
Nghề nghiệp cầm tay ở mới cam
Nên thợ nên thầy vì có học
No ăn no mặc bởi hay làm.
Nguyễn TrãiQuốc âm Thi tập
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










