Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

Bạn có thích trang web www.hiendai.edu.vn?

DẠY VÀ HỌC. Nhóm nhà giáo CÁNH BUỒM chủ trương soạn mới bộ sách giáo khoa phổ thông lớp Một gồm Tiếng Việt, Văn, Lối sống, Tin học, Tiếng Anh và đưa lên mạng miễn phí tại http://www.hiendai.edu.vn/ Việc vào mạng để tải sách xuống theo chế độ tự nhiên khi dùng xong chỉ cần phản hồi, để sách ngày càng đúng hơn, đẹp hơn và đáng yêu hơn, hướng đến Chân, Thiện, Mỹ. Đây là ý tốt rất cần tâm đức người Thầy, giỏi chuyên môn, khéo kỹ năng sư phạm vi tính và có tài tổ chức để ngay từ đầu phải hấp dẫn được trẻ em.  Xin tiếp anh Nguyễn Hòa giới thiệu cùng bạn đọc để hiểu sâu thêm trang web này.



Nguyễn Hòa VCV.  Nhà giáo Phạm Tòan gửi VCV để giới thiệu trang http://www.hiendai.edu.vn/ Anh là người nhiều tâm huyết và lãng mạn như khi cùng thực hiện trang Bauxit , xin giới thiệu với bạn đọc . Ngày đăng: 14.6. 2010.VCV


LỜI RA MẮT

Trong cuộc sống bề bộn của dân tộc Việt Nam ta lúc này – những năm đầu thiên niên kỉ thứ ba của loài người – oái oăm thay, cái tiêu cực và cái tích cực lại đan xen nhau vô cùng lộn xộn. Chúng tôi, một nhóm bạn bè, chủ trương : làm ra một điều tích cực là chống tiêu cực mạnh mẽ nhất.
Vì thế, chúng tôi đã cùng nhau biên soạn lại sách giáo khoa bậc Tiểu học cho nhà trường phổ thông. Mong muốn của chúng tôi là trả lại niềm vui đến trường cho học sinh, để các em có thể thực sự cảm thấy đi học là hạnh phúc, thấy sách giáo khoa không phải là những tập giấy dày cộp, nặng trịch, chi chít chữ mà là những gì các em cùng với người dạy làm ra trong giờ học. Điều này hẳn đáng được coi là tích cực.

Để cho tiện gọi, chúng tôi đặt tên nhóm là CÁNH BUỒM với mong muốn giong buồm tiến hành công cuộc GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI. Đến hôm nay, nhóm đã soạn lại – soạn mới hoàn toàn – các tập sách cho trẻ em lớp Một học Tiếng Việt, Văn, Lối sống, Tin học và Tiếng Anh. Công việc này sẽ còn được tiếp tục cho đến khi hoàn thiện bộ sách giáo khoa phổ thông.

Sách soạn xong rồi, ai thẩm định ? Ai in ? Ai dùng?

Chúng tôi chủ trương gửi sách cho xã hội duyệt !

Các nhà khoa học nằm ngoài các “hội đồng” sẽ khách quan hơn trong việc đánh giá sản phẩm. Ngoài ra, một bộ phận quan trọng tham gia xét duyệt sẽ là các vị phụ huynh : nếu các bậc cha mẹ mua sách in hoặc chép từ trang thông tin này về dạy con em mà thấy tốt, thì chắc chắn đó là sách có ích.

Bộ sách này không nằm trong bất cứ công cuộc kinh doanh sách nào. Chúng tôi trông chờ Mạnh Thường Quân giúp một tay cho việc in và phát hành. Phụ huynh học sinh sẽ là lực lượng tiềm năng, giúp cho nhà xuất bản thêm “dũng khí” đỡ đầu một công trình khoa học xứng đáng được nâng đỡ.

Chúng tôi chủ trương xã hội hóa triệt để sản phẩm của mình.

Theo cách “xã hội hóa” không vụ lợi của mình, chúng tôi quyết định tung lên mạng những gì đã làm xong. Việc vào mạng để tải sách xuống mà dùng sẽ theo chế độ “xin cứ tự nhiên”. Và dùng xong, xin hãy cho phản hồi, để sách của nhóm Cánh Buồm sẽ ngày càng đúng hơn, đẹp hơn, đáng yêu hơn – hướng theo cái Chân, Thiện, Mỹ ở đời này vậy.

Việc xưng chính danh đã xong, ngôn cũng đã thuận. Xin mời …!

Nhóm CÁNH BUỒM
http://www.hiendai.edu.vn/

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Thiết bị đọc sách Kindle

DẠY VÀ HỌC. Kindle là thiết bị cầm tay để đọc sách do Amazon.com sáng chế, phiên bản đầu tiên xuất hiện trên thị trường Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 2007. Anh Vũ Duy Mẫn đã kịp thời thông tin về thiết bị này trên trang  Blog Duy Mẫn với tựa đề Kindle của Amazon. Hiện nay nhiều cuốn sách thú vị, bạn đã có thể tìm thấy và đọc trực tuyến tại Google Book .Goodreader Tủ sách tuổi trẻViệt Nam thư quán. .... thì những thiết bị đọc sách điện tử dễ dàng, thoải mái sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

KINDLE CỦA AMAZON

Vũ Duy Mẫn


Tuần trước, một anh bạn đồng nghiệp nghỉ hưu, mọi người tổ chức bữa ăn trưa chia tay và chọn tặng anh một món quà kỷ niệm. Anh người Đức, 60 tuổi, chưa một lần có gia đình, sống độc thân, giỏi chuyên môn, không biết giao thiệp, rất ít khi cười, thích làm việc một mình, tôn trọng giờ giấc, và nguyên tắc như một chiếc máy. Mấy năm cuối, những người quản lý biết tài của anh nên anh cũng được trọng dụng. Mọi người bàn bạc, thống nhất mua tặng anh chiếc Kindle. Anh rất thích, đăng ký sử dụng luôn để có thể dùng trong chuyến đi du lịch dài ngay sau ngày nghỉ hưu.

                                                                                         
Kindle do Amazon.com sáng chế là thiết bị cầm tay để đọc sách, phiên bản đầu tiên xuất hiện trên thị trường Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 2007.

Phiên bản mới nhất, Kindle DX, ra đời tháng 6 năm 2009, bán với giá hơn 400$, có màn hình tự động xoay dọc, ngang tùy theo tư thế cầm của người dùng. Dày 8,5 mm với dung lượng nhớ 4 GB có thể chứa được tới 3.500 cuốn sách điện tử, màn hình 24,6 cm, có độ phân giải 1200×824 pixel, và pin dùng được tới 2 tuần nếu chỉ đọc. Phiên bản DX chấp nhận thêm tệp gốc PDF và có loa stereo gắn kèm. Theo con số ước lượng, tới cuối 2009, hơn 1.5 triệu chiếc đã được bán ở Hoa Kỳ. Từ tháng 1 năm 2010, phiên bản Kindle DX quốc tế đã được bán ở hơn 100 nước.



Thành công của Kindle là nó làm cho người dùng có cảm giác như đang đọc một cuốn sách in thật.

Dùng Kindle, bạn có thể nạp sách qua dịch vụ Amazon và một số dịch vụ khác với kết nối Internet. Vào tháng 7 năm 2009, đã có hơn 300 ngàn cuốn sách để nạp. Sách mới và New York Times best sellers được bán với giá 10 đô la, chương đầu được thử đọc miễn phí. Nhiều sách khác, kể cả những tác phẩm kinh điển, là miễn phí hoặc được bán với giá thấp hơn, chủ yếu để trang trải chi phí chuyển sách sang dạng điện tử. Tạp chí, báo, và blog được cung cấp với phí đăng ký tháng. Thí dụ báo có giá từ 5,99 tới 14,99 đô la 1 tháng, tạp chí từ 1,25 tới 10,99 đô la 1 tháng, và blog tử 0,99 tới 1,99 đô la 1 tháng. Dịp Giáng sinh năm 2009, trên Amazon, lần đầu tiên sách điện tử vượt sách in về lương bán.

Đứng đằng sau Amazon và Kindle là nhân vật huyền thọai Jeff Bezos. Khi sáng lập Amazon.com vào năm 1994, Jeff Bezos đã làm nên một cuộc cách mạng trong bán lẻ, và với Kindle lại làm nên một cuộc cách mạng mới trong việc đọc sách của chúng ta.

Khởi đầu, Amazon hợp tác với các nhà xuất bản để bán sách trực tuyến. Cái thu hút khách hàng là những ý kiến nhận xét, đánh giá sách của người đọc và giới phê bình trên trang Web của Amazon giúp đọc giả tham khảo, lựa chọn và mua sách. Mô hình của Amazon thành công không ngờ, mở đầu một thời đại mới cho bán hàng trực tuyến. Khi tính tóan có xu hướng trở thành tiện ích, Amazon lại đi tiên phong trong việc bán dịch vụ tính tóan, cho thuê tài nguyên tính tóan của công ty trong những thời điểm dư thừa. Với Kindle, Amazon lại bước vào lĩnh vực điện tử dân dụng. Và ở tất cả các họat động này, Amazon đều thành công.

Khi được hỏi về bí quyết, Jeff Bezos giải thích, thứ nhất, chúng tôi bắt đầu từ khách hàng và đi ngược lại. Chúng tôi trau dồi bất kỳ kỹ năng nào cần thiết để phục vụ khách hàng. Chúng tôi phát triển bất kỳ công nghệ nào cần thiết để phục vụ khách hàng. Thứ hai, chúng tôi là người đầu tư, không theo đuôi người khác, mà đi vào những nơi chưa được khai phá để xem tận cùng của chúng là ở đâu. Đôi khi, chúng là ngõ cụt. Đôi khi chúng mở ra những con đường thênh thang, thật sự thú vị. Thứ ba, chúng tôi định hướng dài hạn. Đây là một điều hiếm thấy. Nếu nhìn vào thế giới doanh nghiệp, thì những tập trung thật sự dài hạn là không nhiều. Nhưng hầu hết những việc quan trọng chúng tôi làm đều đã cần rất nhiều thời gian.

Jeff Bezos tâm sự, có hai cách để một công ty có thể mở rộng những gì họ đang làm. Cách thứ nhất, họ liệt kê các kỹ năng và năng lực của công ty rồi hỏi “Với tập các kỹ năng và năng lực này, chúng ta có thể làm được gì thêm?” Đó là cách rất hữu ích mà mọi công ty đều nên sử dụng. Nhưng có một cách thứ hai, đòi hỏi định hướng dài hạn hơn. Thay vì hỏi chúng ta giỏi về cái gì và có thể làm được gì thêm với những kỹ năng đó, chúng ta hỏi, ai là khách hàng của chúng ta? Họ cần những gì? Và rồi chúng ta nói sẽ cung cấp những thứ đó cho họ, không phụ thuộc vào việc hiện tại chúng ta có có những kỹ năng để làm những thứ đó hay không. Chúng ta sẽ học các kỹ năng cần thiết, không kể phải cần thời gian lâu bao nhiêu. Amazon đã làm như vậy với Kindle.

Steve Jobs (Apple) đã dự đóan Kindle sẽ thất bại bởi “mọi người đâu có còn đọc nhiều nữa.” Larry Page và Sergey Brin (Google) đang nỗ lực số hóa tất cả các ấn phẩm của nhân lọai để cho “trí tuệ nhân tạo” đọc. Jeff Bezos cho rằng một ngày nào đó, sách in sẽ không còn nữa.

Khi kho sách được số hóa ngày càng tăng. Khi có thiết bị để đọc những cuốn sách điện tử cũng dễ dàng, thoải mái, thậm chí dễ dàng hơn, thoải mái hơn đọc những cuốn sách in, thì liệu chúng ta có trở lại nhiều hơn với việc đọc.

Blog Duy Mẫn
(Sử dụng tin và ảnh của Amazon.com)

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Thao thức cùng GS Ngô Quang Hưng

DAYVAHOC Hoàng Kim. Điểm tin giáo dục. ...GS Ngô Quang Hưng (chuyên gia máy tính, Việt kiều Mỹ) viết: "Bản thân tôi tin tưởng tuyệt đối rằng tri thức của nhân loại cần được đến với càng nhiều người càng tốt, giá càng rẻ càng tốt, miễn phí là lý tưởng. Tri thức được khám phá khác với các công trình sáng tạo mà chủ nhân hoàn toàn có quyền giữ bản quyền và thu lợi nhuận. Không ai có quyền mua bán phương trình sóng Maxwell, nhưng có thể bán thuốc chữa AIDS mới nhất.Trông người lại nghĩ đến ta. Liệu có quá viển vông không khi mơ ước rằng một ngày nào đó các sách giáo khoa của chúng ta được để trong một trang web nào đó cho học trò tải xuống miễn phí, để người nghèo nhất cũng có thể nhờ ai đó tải xuống và in ra (và trả ít phí cho việc này), copy lại cho nhiều học sinh khác cùng dùng? Bộ Giáo dục - đào tạo và Nhà nước ta đã tốn bao nhiêu tiền của cho việc soạn thảo sách giáo khoa, còn với cách làm này tiền sẽ được dùng để trả cho người viết sách, trả tiền thuê và bảo trì máy chủ. Bằng cách này, chúng ta có thể loại bỏ được một rào cản (chỉ mang mục tiêu kiếm lợi) giữa tri thức và công chúng, và tiến nhanh đến phổ cập tri thức, vì đây là chiến lược sống còn của Việt Nam."

Đọc toàn văn tại đây
:
http://dayvahoc.blogspot.com/2010/06/iem-tin-giao-duc.html
Mời tham gia diễn đàn tại http://fieldcrops.ning.com/forum/topics/dien-dan-day-va-hoc

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

Điểm tin giáo dục

DAYVAHOC Điểm tin giáo dục. Báo Lao động với hai bài bài "Đại phẩu giáo dục đại học" và "Giáo dục đi về đâu ?" . Báo Thanh niên thu hút sự quan tâm của dư luận với bài "Mổ xẻ giáo dục đại học". Báo Dân trí giới thiệu "Bí quyết học giỏi tiếng Anh". Tuổi trẻ chủ nhật trao đổi thông tin "Ước mơ về một thư viện online khổng lồ". GS Ngô Quang Hưng (chuyên gia máy tính, Việt kiều Mỹ) viết: "Bản thân tôi tin tưởng tuyệt đối rằng tri thức của nhân loại cần được đến với càng nhiều người càng tốt, giá càng rẻ càng tốt, miễn phí là lý tưởng. Tri thức được khám phá khác với các công trình sáng tạo mà chủ nhân hoàn toàn có quyền giữ bản quyền và thu lợi nhuận. Không ai có quyền mua bán phương trình sóng Maxwell, nhưng có thể bán thuốc chữa AIDS mới nhất.Trông người lại nghĩ đến ta. Liệu có quá viển vông không khi mơ ước rằng một ngày nào đó các sách giáo khoa của chúng ta được để trong một trang web nào đó cho học trò tải xuống miễn phí, để người nghèo nhất cũng có thể nhờ ai đó tải xuống và in ra (và trả ít phí cho việc này), copy lại cho nhiều học sinh khác cùng dùng? Bộ Giáo dục - đào tạo và Nhà nước ta đã tốn bao nhiêu tiền của cho việc soạn thảo sách giáo khoa, còn với cách làm này tiền sẽ được dùng để trả cho người viết sách, trả tiền thuê và bảo trì máy chủ. Bằng cách này, chúng ta có thể loại bỏ được một rào cản (chỉ mang mục tiêu kiếm lợi) giữa tri thức và công chúng, và tiến nhanh đến phổ cập tri thức, vì đây là chiến lược sống còn của Việt Nam."


“ĐẠI PHẨU” GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Lao Động số 129 Ngày 08/06/2010

(LĐ) - Các đại biểu Quốc hội thể hiện sự quan tâm đặc biệt khi thảo luận về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học. Giáo dục luôn là nỗi ưu tư chung của cả xã hội.

Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, việc quản lý thành lập trường đại học quá lỏng lẻo, trường nhiều nhưng thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên mỏng không đáp ứng yêu cầu. Đại biểu Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng) than: “Sao một đất nước học trò nổi tiếng thông minh, cần cù; một đất nước mà gia đình nào cũng sẵn lòng nhịn ăn cho con đi học; một đất nước nghèo mà dám đầu tư cho giáo dục 20% GDP mà vẫn chưa có trường đại học lọt vào top 200 thế giới?”.

Thứ bậc 200 trên thế giới chưa thể là hiện thực một khi không có sự thay đổi từ triết lý giáo dục. Đào tạo đại học với những thứ đã lỗi thời, nặng tuyên truyền, thiếu khoa học thì không thể đuổi kịp thiên hạ. Không ai dám đứng ra đề nghị vứt bỏ đi những thứ đã lỗi thời đó để thay vào những cái mới, có ích cho sự phát triển nhận thức và trí tuệ của con người hơn.

Trường đại học mọc lên như nấm, chất lượng đào tạo kém, nhưng không ai chịu trách nhiệm, không cá nhân nào bị kỷ luật. Những người đứng ra thẩm định để cho mở trường đại học đều có tên tuổi rõ ràng, nhưng khi đụng đến sai phạm thì đổ cho một tập thể vô hình. Tập thể đó không có tên, không có chữ ký nên không phải chịu trách nhiệm.

Xã hội có sự chọn lựa khôn ngoan theo tiêu chí chất lượng sản phẩm, trong giáo dục cũng vậy. Sản phẩm giáo dục đại học của VN chất lượng quá thấp thì người dân phải tìm nơi khác.

Đó là câu trả lời tại sao ngày càng nhiều người tìm cách cho con đi du học. Những người có trách nhiệm về đào tạo đại học suy nghĩ gì khi người dân của mình không có niềm tin về giáo dục đại học trong nước, có thấy tiếc cho đồng tiền dành dụm của dân mình lại mang đi làm giàu cho các nước? Nghĩ rồi lại thấy ngậm ngùi, họ lấy được tiền của dân mình vì họ dạy dỗ con người hay hơn và giỏi hơn mình.

Chất lượng đào tạo đại học thấp là một vấn đề lớn của VN. Đó là một thực tế không thể né tránh, phải đối diện với sự thật đó, tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém và đưa ra biện pháp khắc phục. Đó là cách duy nhất để cải thiện bộ mặt đại học VN.

Lê Chân Nhân

GÍAO DỤC ĐI VỀ ĐÂU ?

Lao Động số 130 Ngày 09/06/2010

(LĐ) - Diễn đàn Quốc hội mấy ngày nay mổ xẻ về các vấn đề giáo dục (GD). Sự thẳng thắn, đánh giá đúng thực trạng là rất cần thiết. Tuy nhiên, khi đối diện với sự thật, những người thực sự quan tâm đến GD, lại không khỏi ưu tư, lo lắng.

Lần đầu tiên, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đề cập đến trách nhiệm của những người đứng đầu ngành GD một cách có hệ thống: “Nếu để tình hình như hôm nay, mặt được hoặc chưa được thì các Bộ trưởng Bộ GDĐT từ năm 1975 đến giờ chắc cùng được chia sẻ và chịu trách nhiệm”.

Nói vậy quả không sai. Lãnh đạo là sự tiếp nối và kế thừa, thì trách nhiệm cũng phải được kế thừa, tiếp nối. Từ năm 1975 đến giờ, ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ lụy hôm nay của ngành GD, mà cụ thể là GD đại học?

Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước là GS Tạ Quang Bửu. Cho đến bây giờ, nhiều thế hệ GS, tiến sĩ đã trưởng thành vẫn nhắc đến thầy Bửu và mái trường xã hội chủ nghĩa với một lòng kính yêu, trân trọng, một môi trường GD nghèo khó nhưng trong lành, thực sự quan tâm đến chất lượng đào tạo.

Tuy nhiên, thời GS Bửu quy mô GD còn nhỏ và chưa ai bàn đến vấn đề cải cách GD. Thời Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ cũng vậy, cải cách GD khi đó mới chỉ ở bậc phổ thông. Năm 1990, Bộ GD và Bộ Đại học sáp nhập, GS Trần Hồng Quân làm Bộ trưởng. Đây là thời kỳ có nhiều biến động xã hội lớn. Kinh tế chuyển từ bao cấp sang thị trường…, ngân sách cho GDĐT bị thu hẹp, nhu cầu đào tạo lớn tạo áp lực lên nhà trường…

Bộ trưởng Quân khi đó đã đặt vấn đề cải cách GD với “4 tiền đề (đào tạo không nhất thiết theo chỉ tiêu nhà nước; không chỉ đào tạo cho các cơ quan nhà nước và cơ sở quốc doanh; sinh viên được đào tạo không nhất thiết phải được phân công công việc, mà phải tự tìm việc và tự tạo việc làm cho mình, cho người khác; kinh phí đào tạo không nhất thiết từ ngân sách nhà nước) và 3 mục tiêu (xây dựng đội ngũ giáo viên; xây dựng cơ sở vật chất; đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy).

Những định hướng ấy, cho đến thời điểm này vẫn đúng. Nhưng đáng tiếc là trong nhiệm kỳ của mình, Bộ trưởng Quân cũng chưa làm được nhiều điều mà ông kỳ vọng. Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển tiếp nối năm 1998 với nhiều dự định và hoài bão. Còn nhớ khi đó, Báo Tuổi Trẻ dẫn lời của Bộ trưởng Hiển: “Tôi phải trả giá…”, và rồi ngành GD bắt tay vào việc “sửa sai”…

Tuy nhiên, nhiều năm sau, thực tiễn cho thấy những gì Bộ GDĐT nói và làm lại không mang lại điều gì tốt đẹp hơn. Cải cách GD vốn đã mất phương hướng lại càng trở nên luẩn quẩn. Đến năm 2003, nhiều ý kiến mạnh mẽ tuyên bố: Cải cách GD, phải làm lại từ đầu! Vậy là sau một hồi, cải cách GD lại quay về chỗ cũ!

Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân tiếp quản ngành GD với một tinh thần nhiệt tình, hăng hái, mong muốn đổi mới. Tuy nhiên, không ít chuyên gia GD nhận định rằng, Bộ trưởng Nhân chưa có được một đội ngũ chuyên gia tốt và chưa được chuẩn bị một cách có hệ thống, vì thế, những lựa chọn ưu tiên cho GD lại chưa thoả đáng.

Ví dụ như chủ trương “2 không” (nói không với tiêu cực, nói không với bệnh thành tích trong GD) và dồn sức xây dựng 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế. Cho đến bây giờ, “2 không” vẫn còn đó và đẳng cấp quốc tế thì chưa có trường nào có hy vọng đạt được, dù trong tương lai không gần…

Đã mấy chục năm tiến hành cải cách GD, tiền bạc tốn nhiều trăm tỉ đồng, nhưng đến nay nhìn nhận lại, những gì chúng ta làm được cho cuộc cách mạng này xem ra lại chưa đâu vào đâu cả. Để đến hôm nay, diễn đàn Quốc hội nóng với nhiều nhận định đau lòng: “Đại học lộn xộn, không ai chịu trách nhiệm”, “đáng lo ngại!”…rồi chỗ này đổ lỗi cho chỗ kia.

Giáo dục - chứ không phải công nghiệp hoá - hiện đại hoá sẽ quyết định số phận nước ta trong thế kỷ 21- điều ấy là chắc chắn. Nhưng cứ với đà này, GD Việt Nam sẽ đi về đâu?

BÍ QUYẾT HỌC GIỎI TIẾNG ANH

(Dân trí) - Ông Carl Owen, giám đốc Trung tâm du học ISC-UKEAS tại Việt Nam, chia sẻ với độc giả báo Dân Trí những hạn chế của sinh viên Việt Nam khi học tiếng Anh và cách khắc phục những hạn chế đó cũng như một vài bí quyết để học giỏi tiếng Anh.

Theo kinh nghiệm của ông, hiện tại việc học tiếng Anh của người Việt Nam còn tồn tại những hạn chế gì?

Theo tôi, về mặt nâng cao trình độ tiếng Anh, ngoài vấn đề về phát âm mà ai cũng biết, trở ngại lớn nhất của người Việt Nam là việc chưa sử dụng ngôn ngữ này một cách tự nhiên như người bản ngữ mà không bị ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt). Rất nhiều sinh viên Việt Nam có vốn từ vựng rất phong phú và thậm chí nắm vững ngữ pháp hơn cả giáo viên bản ngữ, nhưng nhiều người vẫn sử dụng tiếng Anh không đúng, ngay cả ngữ pháp cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt.

Học sinh Việt Nam dành rất nhiều tiết học ở trường để học về từ vựng và ngữ pháp, học một cách rất “tập trung”. Nhưng tại sao các em vẫn không sử dụng thành thạo tiếng Anh? Đó là bởi vì các em chỉ học trên sách vở. Có nghĩa là các em không dành đủ thời gian để thực hành các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết một cách thực tế như các học sinh trên khắp thế giới học ngoại ngữ. Các em cần học theo kiểu “thoáng” hơn một chút. Chẳng hạn như sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày như là gửi email cho một người bạn, thảo luận để giải quyết 1 vấn đề nào đó, nghe dự báo thời tiết hoặc tin tức trên tivi, hoặc đơn giản chỉ là đọc thực đơn tại nhà hàng.

Ông Carl Owen là một giáo viên tiếng Anh có chuyên môn cao. Ông đã dạy tiếng Anh gần 20 năm tại Anh, Nhật Bản, Đài Loan và Úc. Ông cũng đã có 8 năm làm giám khảo các kỳ thi IELTS. 3 năm trở lại đây, ông làm việc tại ISC-UKEAS (thành viên của Tập đoàn Ngôn ngữ & Kỹ năng AAC), chi nhánh Đài Loan và Việt Nam, với mong muốn giúp đỡ các sinh viên nâng cao trình độ tiếng Anh, tìm được trường du học tốt nhất và chương trình học phù hợp nhất. Ông đã sống ở châu Á được 17 năm và tại Việt Nam được 2 năm.

Theo ông, người học cần làm những gì để khắc phục những hạn chế đó?

Các em cần phải học cách sử dụng tiếng Anh. Có thể thấy một số hướng dẫn viên du lịch người Việt nói tiếng Anh rất tốt mà họ chưa bao giờ dành nhiều thời gian để thực sự học ngữ pháp và từ vựng, nhưng họ đã có rất nhiều thời gian sử dụng tiếng Anh. Tôi nói tiếng Trung Quốc phổ thông rất giỏi nhưng tôi chỉ dành khoảng 100 giờ để học nó một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, tôi đã sống ở Đài Loan 14 năm nên đó là khoảng thời gian tôi thực hành nó.

Các em cần phải thực hành các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết nhiều hơn nữa. Nếu các em muốn bơi giỏi thì đừng dừng lại ở việc chỉ học về kỹ thuật bơi, cách thở hay tập luyện ở phòng thể dục để tăng cường cơ bắp. Các em cũng cần phải nhảy xuống bể bơi và bơi hàng ngày, làm được như vậy, mọi thứ đều trở nên tự nhiên, về sau không cần suy nghĩ đến các động tác mà chúng ta vẫn bơi được một cách dễ dàng. Hàng tuần, các em cần dành một thời lượng nhất định cho việc thực hành tiếng Anh của mình, dành một khoảng thời gian nào đó trong ngày để luyện tập và tự nhủ: “Tôi sẽ nghe/nói/đọc hoặc viết với bạn khoảng 30 phút”.

Chẳng hạn như các em có thể luyện tập thường xuyên bằng cách đọc một cuốn tiểu thuyết hoặc một tờ báo nhưng khi gặp những từ không biết thì không được tra từ điển. Các em cứ đọc và cố gắng đoán nghĩa của chúng. Việc này là một kỹ năng học rất cơ bản và quan trọng. Ví dụ, khi tôi nói: “Anh wen tên cua Em”. Không người Việt nào hiểu được tôi nói gì vì tôi đã phát âm sai từ “quên”! Nhưng nếu họ có kỹ năng đoán từ thì họ có thể dễ dàng hiểu tôi muốn nói gì: Từ nào có thể thay thế vào đó? “Yêu” chăng? “Anh yêu tên của em” thật khác xa trong ngữ cảnh. “Ăn” thì sao? “Anh ăn tên của em” nghe thật kỳ quặc. Cứ như vậy, người nghe cần phải có kỹ năng đoán nghĩa của từ trong 1 ngữ cảnh cụ thể để nâng cao khả năng giao tiếp của mình. Đây là kỹ năng đọc và nghe quan trọng mà nhiều người Việt đã bỏ qua. Tuy nhiên nếu thực hành thường xuyên chúng ta có thể tự cải thiện năng này hoặc học và phát triển chúng với sự giúp đỡ của thầy cô giáo.

Các tổ chức giáo dục và giáo viên tiếng Anh có thể làm gì để giúp học viên vượt qua những hạn chế đó?

Học tiếng Anh tại các trung tâm ngôn ngữ uy tín như AAC có thể giúp các em phát triển tất cả các kỹ năng cần thiết. Tại đây có một hệ thống dạy học, từ việc trang bị cho các em các kỹ năng đến các tài liệu tham khảo và các trang thiết bị truyền thông đa phương tiện hiện đại để giúp các em đạt được mục tiêu của mình. Chỉ có kiến thức về ngữ pháp và từ vựng thôi chưa đủ, các em cần phải thực hành những gì mình đã học. Các em phải thực hành sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên thật nhiều trong lớp học chứ không chỉ như cách học thụ động từ trước tới nay. Các em đừng ngại việc mắc lỗi. Quan trọng là học từ những lỗi đó vì ngôn ngữ được dùng để trao đổi ý nghĩ, thông tin khi chúng ta đọc, nghe, viết hoặc nói. Các giáo viên ở đây sẽ giúp các em làm được điều này.

Ngoài những lớp học tiếng Anh thông thường, những trung tâm này còn có các câu lạc bộ hay các hoạt động ngoại khóa cho các em để thực hành tiếng Anh, như câu lạc bộ tiếng Anh, Câu lạc bộ Tranh luận… Chúng thực sự bổ ích cho các em.

Người học nên đặt mục tiêu học tiếng Anh như thế nào?

Lão Tử có nói: “Đường ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân”. Tôi cho rằng, nếu các em có cách học đúng như tôi đã nêu thì không cần đề ra mục tiêu quá xa vời, mà chỉ cần duy trì việc thực hành thường xuyên và đều đặn các kỹ năng khác nhau, đặc biệt là kỹ năng đọc. Các em sẽ đạt được mục tiêu của mình sớm hơn mong đợi.

Ngoài việc học ở các trường lớp, người học có thể làm gì để nâng cao trình độ tiếng Anh?

Sau đây là 1 vài ví dụ về các cách luyện tập: Các em hãy cố gắng nghe đài trên Internet hoặc nghe nhạc hoặc xem CNN mỗi sáng khi các em ăn sáng hoặc đọc sách mỗi ngày khi ở trên xe buýt hoặc khoảng 30 phút trước khi đi ngủ. Các em có thể tìm những người bạn trên mạng và viết email hàng ngày cho nhau sau bữa tối, hoặc có thể dễ dàng thành lập 1 câu lạc bộ nói tiếng Anh với bạn bè hoặc bạn cùng lớp.

Ông hiện đang phụ trách ISC-UKEAS ở Việt Nam và đang giúp sinh viên nâng cao trình độ tiếng Anh trước khi đi du học. Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực này?

Như tôi đã nói, các em cần phải có kế hoạch luyện tập hàng ngày các kỹ năng, chủ yếu là nên dành nhiều thời gian luyện tập sau giờ học. Đối với các học sinh chuẩn bị đi du học, các em cần phải đạt được 1 trình độ tiếng Anh nhất định, điều này không dễ dàng và cần phải có thời gian, vì các em sống ở môi trường không nói tiếng Anh. Vì vậy, để đạt được điểm IELTS and TOEFL mà các trường yêu cầu, các em phải có đủ khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo cần thiết như tôi đã nói.

Đối với các bài kiểm tra về kỹ năng đọc, để nâng cao chúng, tôi thấy rằng đọc các tin tức trên báo, tạp chí là cách tốt nhất để nâng cao vốn từ vựng, ngữ pháp theo chủ đề, và chúng sẽ giúp các em hiểu hơn cách sử dụng tiếng Anh khi nói và viết. Đây thường là các kỹ năng khó nhất đối với không chỉ sinh viên Việt Nam, mà còn với sinh viên quốc tế khác.

Một điều nữa là, các em đừng đợi cho đến khi các em thấy mình đủ khả năng thì mới đi thi IELTS hay TOEFL. Để đăng ký học ở các trường nước ngoài, các em cần có điểm thi IELTS hay TOEFL sớm do vậy các em cần phải biết mình yếu ở kỹ năng nào rồi tập trung luyện tập kỹ năng đó để đạt điểm cao hơn trong kỳ thi lần sau.

“Hiện tại, AAC đang tổ chức chương trình học bổng Anh ngữ Tương Lai Vàng với tổng trị giá lên tới 500 triệu đồng. Quý vị phụ huynh và các bạn học viên quan tâm có thể tham khảo website www.aac-edu.com.vn”

ƯỚC MƠ VỀ MỘT THƯ VIỆN ONLINE KHỔNG LỒ

TTCN - Thành lập một nguồn tài nguyên phong phú cho nền học thuật nước nhà, từ cấp vỡ lòng đến chuyên sâu. Từ đó, làm cho Internet hữu ích hơn là một cỗ máy game và chat.

Dưới đây là một ước mơ của GS Ngô Quang Hưng (khoa Khoa học máy tính, Đại học bang New York ở Buffalo - Mỹ). Những gợi ý của ông vừa cho phép giải quyết bài toán in và phát hành sách giáo khoa trong chiều hướng giảm chi phí nhà nước và người sử dụng...

1. Từ một ước mơ

Ngày 25 -10 - 2003, GS Donald Knuth gửi một lá thư đến ban biên tập tạp chí chuyên ngành thuật toán (Journal of Algorithms). Trong thư, ông phân tích giá cả xuất bản các tạp chí chuyên ngành trong ngành lý thuyết khoa học máy tính.

Phân tích cho thấy một số nhà xuất bản (NXB) chuyên nghiệp đã lợi dụng các nghiên cứu khoa học, vốn là miễn phí và tự nguyện, để kiếm lợi quá đáng (trước đây các NXB phải biên tập khá nhiều để có thể đăng một số báo; ngày nay phần mềm miễn phí TeX của chính giáo sư Knuth tạo điều kiện cho các tác giả tự soạn thảo lấy bài báo của mình với chất lượng cao; NXB chỉ là người trung gian, thu bài (đã biên tập, in ấn và phát hành).

Chưa hết, các biên tập viên và chuyên gia phê bình chuyên ngành thường làm việc tự nguyện và miễn phí, hoặc nhận một số tiền tượng trưng. Trong khi đó các thư viện phải trả giá rất đắt để nhận các tạp chí chuyên ngành này. Lá thư này đã làm cả ban biên tập của Journal of Algorithms từ chức và tự thành lập một tờ báo mới online.

Một trường hợp tương tự cũng đã xảy ra với tờ Machine Learning Journal vài năm trước, và toàn bộ ban biên tập của tạp chí này cũng đã thoái vị và thành lập báo online miễn phí về chuyên ngành máy móc (Journal of Machine Learning Research). Báo online về lý thuyết tổ hợp (Online Journal of Combinatorics) đã bắt đầu hành trình này khoảng năm 1995 và đã rất thành công. Giá trị khoa học và danh tiếng của một báo chuyên ngành online hoàn toàn nằm ở danh tiếng của ban biên tập, cho nên các báo online này, dù mới mẻ song đều là đỉnh cao trong ngành.

Báo online trong thời đại chúng ta là giải pháp truyền tải thông tin hữu lý, nhất là đối với các nghiên cứu khoa học. Bất kỳ nhà khoa học chân chính nào cũng muốn công trình, ý tưởng của mình đến với người đọc nhanh chóng nhất, tiện lợi nhất và ít tốn kém nhất (trong trường hợp này là miễn phí). Các nhà khoa học máy tính đều để các bài báo của mình ở homepage (trang chủ) của họ.

Thống kê ở tạp chí Nature cho thấy các bài báo online được đọc và tham chiếu (referred/cited) đến nhiều hơn các bài khác. Chỉ cần một máy chủ đơn giản và ít công bảo trì, phần cơ học của một tờ báo chuyên ngành đã được đảm bảo. Các công việc còn lại là biên tập và phê bình, chọn bài thì các nhà khoa học đằng nào cũng đang làm.

Bản thân tôi tin tưởng tuyệt đối rằng tri thức của nhân loại cần được đến với càng nhiều người càng tốt, giá càng rẻ càng tốt, miễn phí là lý tưởng. Tri thức được khám phá khác với các công trình sáng tạo mà chủ nhân hoàn toàn có quyền giữ bản quyền và thu lợi nhuận. Không ai có quyền mua bán phương trình sóng Maxwell, nhưng có thể bán thuốc chữa AIDS mới nhất.

Trông người lại nghĩ đến ta. Liệu có quá viển vông không khi mơ ước rằng một ngày nào đó các sách giáo khoa của chúng ta được để trong một trang web nào đó cho học trò tải xuống miễn phí, để người nghèo nhất cũng có thể nhờ ai đó tải xuống và in ra (và trả ít phí cho việc này), copy lại cho nhiều học sinh khác cùng dùng?

Bộ Giáo dục - đào tạo và Nhà nước ta đã tốn bao nhiêu tiền của cho việc soạn thảo sách giáo khoa, còn với cách làm này tiền sẽ được dùng để trả cho người viết sách, trả tiền thuê và bảo trì máy chủ. Bằng cách này, chúng ta có thể loại bỏ được một rào cản (chỉ mang mục tiêu kiếm lợi) giữa tri thức và công chúng, và tiến nhanh đến phổ cập tri thức, vì đây là chiến lược sống còn của VN.

2. Đến các vấn đề thực tế

Bạn có thể hỏi:

* Trong tình trạng Internet chưa được phổ cập, người không có Internet thì làm thế nào?

Thử nghĩ vài giải pháp “đơn giản”:

- Ta vẫn có thể in một số ấn bản nhất định để phục vụ các nơi chưa có Internet. Ý tưởng này giống như các báo vừa có bản in vừa có bản online.

- Ở những chỗ có Internet nhưng chưa phổ biến, có thể lập các dịch vụ in ấn và copy địa phương. Việc phân phối này giống như phân phối/đóng gói phần mềm miễn phí. Chẳng phải ta đang có quốc sách phát triển mã nguồn mở hay sao?

- Kế hoạch này hoàn toàn có thể tiến hành song song với việc phổ cập Internet, cho đến khi Internet đến mọi nơi thì cũng đã có nhiều sách online rồi.

* Thế các tác giả sách sẽ sống thế nào?

Dĩ nhiên tác giả phải được trả công xứng đáng.

- Với nhiều triệu truy cập trên các trang sách online này, tiền quảng cáo là một nguồn lợi không nhỏ.

- Giống như phần mềm mã nguồn mở, các tác giả cũng có thể có tiền từ đóng góp của phụ huynh, các công ty và Nhà nước.

* Khi nội dung sách được “mở” cho mọi người phê bình, làm thế nào quản lý được sự hỗn độn này?

- Một hệ điều hành phức tạp như GNU/Linux mà còn có thể mở cho công chúng đọc nguồn, chê bai, sửa chữa, thì không có lý do gì một quyển sách không quản lý được.

Cái lợi của sách giáo khoa miễn phí thì vô cùng:

- Dần dần tiết kiệm công lao động và tiền bạc chuyên chở, phân phối, giảm thiểu quan liêu, tham nhũng liên quan đến xuất bản.

- Các tác giả sẽ có trách nhiệm hơn khi người tiếp nhận chủ động đánh giá công trình của họ.

- Sách có thể được viết nháp, cho mọi người phê bình trước khi cho vào chương trình. Vài triệu đôi mắt sẽ tốt hơn một hội đồng vài chục người, dù là chuyên gia đi nữa. Các lỗi thô thiển sẽ khó mà thoát khỏi quá trình này. Đây chính là cách mà các giáo sư ở nước ngoài vẫn làm khi viết sách: thông thường họ giao bản nháp cho bạn bè, đồng nghiệp dùng để dạy qua vài năm và có biết bao sinh viên góp ý, sửa chữa trước khi in.

- Các tài liệu, bài tập, hình ảnh, liên kết, thông tin có liên quan đến nội dung sách có thể để online. Cả học sinh, sinh viên, lẫn thầy cô đều truy cập được. Tác giả có thể làm rõ điểm này, người dùng thắc mắc điểm kia. Học trò và phụ huynh có thể kiểm tra nếu thầy cô giáo dạy sai. Thầy cô giáo có thể dùng các thông tin liên quan làm cho phòng học sinh động hơn. Ta có thể chia sẻ kinh nghiệm học tập và giảng dạy chủ đề đó.

- Sách có thể được cập nhật thường xuyên hơn, ví dụ như thêm/sửa một chương cho phù hợp với tình hình hiện tại. Nếu dùng sách offline thì phải chờ rất lâu mới có thể phân phối đến người dùng.

- Đây cũng là cách tốt để thanh thiếu niên và cả phụ huynh có động cơ dùng Internet theo hướng tích cực thay vì chỉ vào chat room tán gẫu. Người chưa có Internet thì có động cơ để kết nối Internet, để mua máy tính mới, thúc đẩy thị trường công nghệ cao.

- Với từng cá nhân thì một máy tính, một máy in qua mười mấy năm học sẽ rẻ hơn đi mua cả trăm quyển sách giáo khoa.

3. Hướng về tương lai

Một viễn cảnh lớn hơn là khi các bài giảng, sách vở ở tất cả các bậc học ở VN cũng đều miễn phí. Ta sẽ có một thư viện online khổng lồ. Kiến thức sẽ đến với bất kỳ ai sau một cái click chuột. Học sinh nghèo nhất cũng có khả năng liên lạc với bậc thầy nổi tiếng nhất. Một môi trường học tập, tham khảo mà ai cũng có cơ hội tham gia, bổ túc cho nhau, học hỏi lẫn nhau. Chẳng phải đấy là mục đích tối hậu của phổ cập giáo dục? Trên thế giới ít nhất đã có bốn dự án có chung chí hướng này.

Dự án thứ nhất là của NXB kỹ thuật máy tính số một thế giới: NXB O’Reilly với “dự án sách mở”  (Openbook Project).

Các quyển sách ở đây được đăng ký với vài loại license khác nhau, như GNU Free Documentation License, Open Publication License, GNU General Public License, và bản thân O’Reilly cũng có rất nhiều sách theo Creative Commons Founders’ Copyright.

Dự án thứ hai là từ điển bách khoa toàn thư miễn phí Wikipedia. Với khoảng 300.000 đề mục, Wikipedia là từ điển bách khoa toàn thư lớn nhất thế giới (bộ bách khoa toàn thư của Britanica có khoảng 85.000 đề mục - số liệu tháng 7-2004). Chất lượng của Wikipedia rất cao và tôi dùng nó thường xuyên. Mô hình nhiều người cùng đóng góp theo chuyên ngành (distributed contribution) của Wikipedia là mô hình đáng học tập cho việc phổ cập kiến thức.

Dự án thứ ba là dự án Knowledge của Trung tâm giáo dục khoa học Homi Bhabha của Ân Độ do GS Nagarjuna chủ xướng. Tinh thần của dự án này cũng là kiến thức miễn phí.

Dự án cuối cùng là dự án Open Courseware của Viện Công nghệ Massachusetts. Ở đây rất nhiều bài giảng của các giáo sư hàng đầu thế giới được để mở cho mọi người cùng truy cập.

Người truyền cảm hứng cho ước mơ của tôi là tiến sĩ Richard M. Stallman (thường được gọi là RMS), cha đẻ của phong trào phần mềm miễn phí của thế giới. Không chỉ là bậc thầy về kỹ thuật máy tính, RMS mơ ước làm cho cả thế giới có thể dùng, sửa đổi, phân phối, thậm chí buôn bán các phần mềm miễn phí.

Theo nhiều nghĩa, triết lý này của ông tương đồng với ý tưởng rằng tri thức của nhân loại phải đến với chúng ta nhanh chóng và không tốn kém. Việc các nước chậm phát triển mua phần mềm của các tập đoàn lớn, đối với RMS, là một dạng thuộc địa hóa hiện đại. Người ta sẽ bị ràng buộc một cách rất khó chịu vào các phần mềm đắt tiền này, mà lại không biết trong chúng thật sự viết gì (ví dụ có thể có phần gián điệp cài đặt vào).

RMS cũng đứng đầu phong trào chống software patents, một trong những loại patent vô lý nhất trên đời. Hai mươi năm trước, RMS bắt đầu hiện thực mơ ước của mình bằng dự án GNU. Đến nay thì phong trào phần mềm miễn phí vững vàng đứng trước các tập đoàn phần mềm nhiều trăm tỉ USD.

GS Ngô Quang Hưng

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Hai lần khó ...

DẠY VÀ HỌC. Bài viết "Hai lần khó..." của Văn Công Hùng chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên: "Nếu không từng lăn lộn chết sống và yêu Tây Nguyên đến rớm máu, đến tận cùng thì đã không có Nguyên Ngọc, Thu Bồn. Nếu không trực tiếp tham gia cuộc đánh chặn lịch sử và kỳ lạ ở đường 7 năm 1975, mở ra một giai đoạn mới cho cuộc tổng tấn công toàn thắng tháng tư năm bảy lăm thì Khuất Quang Thụy không thể có "Trong cơn gió lốc", hoặc có nhưng nó sẽ khác...Có thể ngồi một chỗ gõ google tìm số liệu, nhưng google không thể chỉ ra chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm hồn, những phập phồng thức mở của từng nhịp đập trái tim, của những li ti rung động, và cả những chấn động lớn trong tâm hồn con người trong cuộc sống còn nhiều những vòng xoay trái chiều hôm nay. Phía trong cái vẻ trầm mặc của đời sống có vẻ buồn bã kia là điều gì, những gì đang cuộn xoáy phía trong...Như thế, thiển ý của chúng tôi là muốn chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên."

                                                                                         
Cho đến bây giờ không ai phủ nhận Tây Nguyên là một cái mỏ tiềm ẩn cho người viết Văn. Một đời sống tâm linh bí ẩn, một sự vỡ da đau đớn và sung sướng, một quá khứ bi hùng, những xô dạt trắc ẩn, những thân phận mông muội và phong phú, những cuộc đời lênh đênh và tự tại, chênh vênh cùng bền vững, khắc khoải cùng an nhiên, khoảnh khắc và dằng dặc, vân vân và vân vân khiến cho có người từng ví Tây Nguyên giống như một thời Nam Mỹ của Mác Két. Nhưng cũng phải công nhận, những gì mà người viết ở Tây Nguyên hiện nay đã có, chưa tương xứng với kỳ vọng, với tiềm năng...


Có thể kể tên hàng loạt người viết văn ở 5 tỉnh Tây Nguyên. Kon Tum có Tạ Văn Sĩ, Hữu Kim, Phạm Minh Sáng, Gia Lai có Hương Đình, Thu Loan, Phạm Đức Long, Chử Anh Đào, Ngô Thị Thanh Vân, Vũ Thu Huế, Hoàng Thanh Hương, Nguyễn Quảng Hà..., Đắc Lắc có Linh Nga Niekdam, Phạm Doanh, Hữu Chỉnh, Lê Vĩnh Tài, Đinh Như Thúy, Nie Thanh Mai, Đặng Bá Tiến, Hoàng Thiên Nga..., Lâm Đồng có Phạm Quốc Ca, Trần Ngọc Trác, Chu Bá Nam, Đào Hữu Thức... con số những cái tên có thể còn dài thêm, nhưng một vấn đề đặt ra là, trong những cái tên ấy, những ai đã để lại dấu ấn Tây Nguyên, Tây Nguyên theo nghĩa bản sắc văn hóa, trầm tích tâm linh của vùng đất vốn dĩ mang trong nó nhiều bí ẩn, đầy mâu thuẫn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất, đa dạng phong phú nhưng lại cũng thuận hòa, trong tác phẩm của mình, cũng nhưng mấy người viết gắn với đề tài dân tộc thiểu số, cụ thể hơn, đến Tây Nguyên.

Một số người đang sống và viết ở Tây Nguyên nhưng chả có dòng nào về Tây Nguyên, có chăng là nhắc phố núi, chiều mưa, yàng ơi... tức nó chỉ là cái vỏ hình thức, chứ còn sâu thẳm đời sống Tây Nguyên thì chưa chạm vào được.

Vì sao thế?

Ba chục năm sống và viết ở đất này, cũng chịu khó đọc và chơi với nhiều bạn viết, tôi thấy có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân phổ quát của cả nền văn chương quốc gia, và có nguyên nhân khu biệt. Tôi thử nêu ra ở đây vài nguyên nhân khu biệt.

1. Hiện nay người viết là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất ít, trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình tôi biết mới chỉ có ở Đăc Lăc, Gia Lai và Lâm Đồng. Đăc Lắc có các chị Linh Nga, Kim Nhất, Nie Thanh Mai, một số cháu mới phát hiện trong các trại sáng tác của hội. Gia Lai có Ksor Bi Tó. Lâm Đồng có Kpa Plin. Họ viết như thế nào, chủ yếu, nếu không nói là tất cả, bằng tiếng Kinh. Trong quá trình tác nghiệp, chúng tôi thấy người dân tộc Tây Nguyên có những cách dùng từ, dùng hình ảnh rất hay trong các bài dân ca, các trường ca của họ, ví dụ như cái hình ảnh "Cười đầy mồm" trong trường ca Di ông Dư mà chúng tôi có tham gia sưu tầm. Những chữ ấy, hình ảnh ấy hầu hết bị triệt tiêu khi sáng tác bằng tiếng Kinh. Các anh các chị người Tây Nguyên có muốn sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ cũng không được, vì sẽ phổ biến như thế nào khi mà bản thân đồng bào, bạn đọc không biết chữ mẹ đẻ. Rồi báo nào in những tác phẩm mà bản thân các biên tập viên cho đến người duyệt không đọc được ấy. Văn chương nó khác một bài báo, một mẩu tin để có thể in trên báo ảnh tiếng dân tộc. Mà viết bằng tiếng Kinh thì, bản thân người Kinh nhiều khi cũng còn lè lưỡi lắc đầu về độ khó, độ phong phú, phức tạp của tiếng Việt, huống gì ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ đã được luyện, được vót, được tinh tuyển đến độ tinh xảo, đến độ chữ không còn chữ, câu không còn câu, chỉ còn nỗi ám ảnh sau chữ, sau câu, sau trang văn. Và vì thế mà cho tôi bày tỏ sự kính trọng của mình với các anh chị đồng nghiệp người Tây Nguyên viết bằng tiếng Việt. Chúng tôi khó một các anh chị khó hai, thậm chí là ba bốn lần, và vì thế mà những gì các anh chị đã có là những tài sản rất quý, rất đáng trân trọng về mặt lao động chữ nghĩa... Tức là cái khó đầu tiên của người viết là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên chính là rào cản ngôn ngữ. Cũng tức là, để là một nhà văn Tây Nguyên các anh chị phải vất vả gấp 2 lần khi thể hiện ý tưởng của mình.

2. Với các anh chị người Kinh viết về Tây Nguyên, ngoài một số sống ở ngay Tây Nguyên nhưng không viết gì về Tây Nguyên, một số tạm gọi là thành công khi tên tuổi của họ thường được nhắc đến trên các diễn đàn mỗi khi cần chỉ ra một vài gương mặt cầm bút Tây Nguyên..., còn một số người viết Tây Nguyên rất ngây ngô. Họ chưa sống tận cùng với đời sống Tây Nguyên. Không chỉ sống cùng ăn cùng ở, mà còn phải nghiên cứu, học hỏi... một vài ví dụ: Có nhà văn nọ viết truyện, có nhân vật phụ nữ đi mua lông gà lông vịt trong làng dân tộc. Nhà văn này không biết rằng người Tây Nguyên không nhúng nước sôi vặt lông gà như người Kinh mà họ nhúng nước rồi đốt gà. Mà đốt như thế thì lấy đâu lông gà lông vịt mà mua. Chưa hết, khi tả các phong tục thì lẫn lộn lung tung giữa Ba Na với Gia Rai, giữa Ê Đê với Rơ Ngao, cứ đại khái là già làng khấn: Ơi lũ làng, ơi thần sông thần núi thần rẫy thần rừng, rồi thì cái mày cái tao, cái bụng cái rẫy... lẫn lộn giữa tết cơm mới với lễ pơ thi, giữa tượng nhà mồ với hình tượng rau dớn nhà rông, giữa việc đẻ trong rừng với kiêng khem đốt lửa hơ hóng người Kinh... Cái cách ấy là cách nhanh nhất để tuyệt diệt Tây Nguyên bằng văn chương, đồng hóa Tây Nguyên với các vùng đất khác một cách sang trọng và hồn nhiên, bởi khi sách đã in ra, hàng ngàn người đọc và hiệu ứng cứ thế lan truyền.

Ngày xưa, các nhà văn tiền bối như Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Ngọc Anh, Trung Trung Đỉnh... đã đánh đổi cả cuộc sống của họ cho những trang văn. Trước hết là họ phải tìm cách để sống. Và cái sự tìm cách sống ấy khiến họ phải hòa đồng vào đời sống với đồng bào, họ sống đến tận cùng đời sống ấy, một cách hồn nhiên và đầy gian khổ đau đớn. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của chúng ta là chiến tranh nhân dân. Cuộc chiến tranh ấy đã lan tới từng ngôi nhà ngõ phố, đụng đến số phận của từng cá nhân, từng gia đình trong tổ quốc Việt Nam. Nó đánh thức, khơi dậy, đụng đến từng góc sâu kín nhất của con người. Có những người ra đi có những người ở lại, có những nỗi nhớ, có sự đợi chờ, có sự dấn thân, có sự mất mát... Rất nhiều cán bộ người Kinh đã lên Tây Nguyên hoạt động, làm "Người Đảng" cùng ăn cùng ở cùng làm với nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Họ cũng đóng khố, cà răng căng tai, nghĩ nếp nghĩ cùng dân, nói tiếng nói của dân, và họ đã cùng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên làm nên chiến thắng. Một số họ sau này đã trở thành các nhà văn như đã kể trên. Nếu không từng lăn lộn chết sống và yêu Tây Nguyên đến rớm máu, đến tận cùng thì đã không có Nguyên Ngọc, Thu Bồn. Nếu không trực tiếp tham gia cuộc đánh chặn lịch sử và kỳ lạ ở đường 7 năm 1975, mở ra một giai đoạn mới cho cuộc tổng tấn công toàn thắng tháng tư năm bảy lăm thì Khuất Quang Thụy không thể có "Trong cơn gió lốc", hoặc có nhưng nó sẽ khác. Cũng như thế, nếu không có những ngày tháng vừa lăn lộn chiến đấu vừa ba cùng học hỏi nhân dân, tắm mình trong đời sống văn hóa Tây Nguyên thì sẽ không có nhà văn Trung Trung Đỉnh sau này, hoặc có thể ông vẫn trở thành nhà văn nhưng sẽ không có "Lạc rừng", "Đêm nguyệt thực", "Chớp trên đỉnh Kon Tầng"...

Còn nhà văn chúng ta bây giờ, nói là ở Tây nguyên, nhưng phần lớn là sống ở thành phố, ở các khu đô thị, lâu lâu lại đi "thực tế". Những cuộc thực tế vài ba ngày ấy là rất quan trọng và cần thiết nhưng nó chỉ như là cưỡi ô tô ngắm làng. Ai đó nói không cần đi thực tế vẫn viết được, tôi thì tôi không tin, bởi nếu không đi thực tế hoặc không sống cùng, chỉ ngồi một chỗ, làm sao biết được cái lễ đâm trâu nó khác lễ cơm mới như thế nào, cái khố khác cái váy thế nào, và sâu xa hơn nữa, chiều sâu tâm hồn tính cách con người như thế nào? Có thể ngồi một chỗ gõ google tìm số liệu, nhưng google không thể chỉ ra chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm hồn, những phập phồng thức mở của từng nhịp đập trái tim, của những li ti rung động, và cả những chấn động lớn trong tâm hồn con người trong cuộc sống còn nhiều những vòng xoay trái chiều hôm nay. Phía trong cái vẻ trầm mặc của đời sống có vẻ buồn bã kia là điều gì, những gì đang cuộn xoáy phía trong...

Như thế, thiển ý của chúng tôi là muốn chỉ ra cái sự khó, khó đến hai lần của những người cầm bút hôm nay ở Tây Nguyên. Nếu là người dân tộc thiểu số thì ngoài tư chất nhà văn họ còn phải có một vốn tiếng Việt rất giỏi, có như thế mới chuyển hóa những ý tưởng của họ thành những lung linh ảo hoặc trang văn, thành những số phận, cuộc đời, những khoảnh khắc mưng mở của cảm xúc... Nếu viết bằng tiếng mẹ đẻ thì họ bị cái rào cản xuất bản và người đọc. Còn các nhà văn người Kinh thì chính là cái vốn sống mà họ cần phải có để viết Tây Nguyên cho nó ra Tây Nguyên, nó không bị một thứ Tây Nguyên giả cầy, lơ lớ, Tây Nguyên do họ nghĩ ra chứ không phải như nó vốn có, tất nhiên tôi hiểu, văn chương là trình bày cái mình nghĩ chứ không phải cái mình thấy.Nhưng trước khi nghĩ, nhà văn phải thấy một cách chính xác đã,

Vài lời trao đổi, mong được thể tất nếu có điều gì chưa tới và chưa phải.

Văn Công Hùng
http://vanconghung.vnweblogs.com/post/1026/235214

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2010

Đọc lại và suy ngẫm "Hiểu đời" của Chu Dung Cơ

DẠY VÀ HỌC. Chu Dung Cơ - ngọn hùng phong cải cách của Trung Quốc-  đã đúc kết bài viết ngắn "Hiểu đời". Tôi may được hai người bạn là anh Bộ và anh Kiếm không hẹn nhưng đều cùng gửi tặng bài này. Đọc thấy thật thấm và thú vị. "Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình, biết đủ thì lúc nào cũng vui.Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui (như dạy và học với sinh viên trên ruộng đồng, chịu khó viết blog để học hỏi và chia sẽ lời hay, việc tốt, ha ha... HK)  Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui. “Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.



HIỂU ĐỜI


Chu Dung Cơ

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.

Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao.

Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)

Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)

Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.

Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu chấm hết thật tròn.