Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Lịch sử cần sự thật

DẠY VÀ HỌC. Tuần Việt Nam đăng bài "Lịch sử cần sự thật" của tác giả Trần Kinh Nghị - nhà ngoại giao lâu năm, nguyên Phó Đại sứ Việt Nam tại Đan Mạch. Bài viết là một tư liệu quý góp phần hiểu biết đúng đắn hơn về lịch sử và cội nguồn dân tộc Việt Nam trong sự quan hệ với Trung Quốc và các bên liên quan khác trong khu vực.


Lịch sử cần sự thật
Tác giả: Trần Kinh Nghị*

VNN. Kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.

Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn riêng của tác giả Trần Kinh Nghị, nguyên là một nhà ngoại giao lâu năm, nguyên Phó Đại sứ Việt Nam tại Đan Mạch.

Hồi đầu năm nay đã rộ lên sự kiện một nữ nghiên cứu sinh người Việt tại Mỹ tên là Đào Ngọc Bích viết bài cho BBC nói rằng Việt Nam là từ Trung Quốc mà ra(!) để rồi ngay sau đó bị đông đảo dư luận trong và ngoài nước "đánh" cho tả tơi, rơi rụng. Không chỉ vậy, chính cô cựu sinh viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội này, trong nỗ tự lực bào chữa cho mình, đã "đổ tại" quá trình đào tạo môn lịch sử khi cô còn ở Việt Nam.
Mới đây dư luận lại được một phen bức xúc nữa khi một vị giáo sư người Trung Quốc tên là Vương Hàn Lĩnh cho rằng "kể từ năm 1885 về trước Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc".
Thực ra không phải chỉ một mình cô Bích hay ông Lĩnh mà còn khá đông đảo người Việt Nam và Trung Quốc đều chưa hiểu đúng về lịch sử của đất nước mình, đặc biệt là lịch sử liên quan đến mối quan hệ lâu đời của hai quốc gia dân tộc "núi liền núi, sông liền sông" này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiểu biết lịch sử "lệch lạc" như vậy nhưng có một nguyên nhân sâu xa nằm ở những "góc khuất" trong sử sách khi nói về nguồn cội dân tộc của mỗi nước.
Vẫn biết, kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.
Với tinh thần đó, người viết bài này xin được nêu lên một vài điều suy nghĩ lâu nay để mọi người cùng suy ngẫm nhằm tìm ra một lời giải.
Một là, về cội nguồn dân tộc, có thể nói không chỉ truyền thuyết mà cả sử sách (của cả Trung Quốc và Việt Nam) dù có nhiều điều chưa được làm sáng tỏ hoặc chưa thỏa đáng, cũng cho thấy rằng nước Việt Nam ngày nay là một thực thể thống nhất duy nhất còn lại của Bách Việt - một tên gọi chung cho nhiều tộc người Việt đã từng định cư hàng ngàn năm trước Công nguyên trên vùng lãnh thổ rộng lớn từ bờ Nam Sông Dương Tử xuống miền Bắc Việt Nam ngày nay, phía Tây giáp Tân Cương, phía Đông giáp biển Thái Bình Dương.
Sử sách cũng cho thấy Người Hán "nam tiến" với thế mạnh của kỵ binh nhưng đã phải mất hàng ngàn năm (quãng giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước CN đến đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau CN) để xâm chiếm, chinh phục và đồng hóa hầu hết các bộ tộc hoặc vương quốc có tên tuổi của người Bách Việt (xem bản đồ minh họa*). Đó là một quá trình kéo dài với biết bao biến cố lịch sử phức tạp mà trong đó có nhiều sự kiện đã bị lãng quên hoặc bị xuyên tạc, thậm chí bị "tráo đổi" tùy theo mục đích của các triều đại phong kiến thống trị trong các thời kỳ khác nhau, đặc biệt là thời nhà Hán và nhà Đường.
Tuy nhiên có một thực tại không thể bác bỏ là, riêng Lạc Việt mặc dù bị các triều đại phong kiến Hán Hoa  thay nhau thống trị từ năm 179 TCN đến 905 nhưng vẫn tồn tại và phát triển với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập như ngày nay. Sử sách thường gọi đó là "thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc" mặc dù đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của người Việt liên tục nỗ ra trong suốt quá trình đó.
Có thể nói, đó là quá trình lịch sử tang thương của Bách Việt nói chung, nhưng cũng là trang sử hào hùng đối với dân tộc Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại và phát triển của Việt Nam không phải là trường hợp ngẫu nhiên mà là kết cục của cả quá trình đấu tranh sinh tồn của người Bách Việt nói chung mà các thế hệ người Việt Nam nói riêng và cội nguồn Bách Việt nói chung không bao giờ được phép lãng quên.
Theo truyền thuyết thì nguồn gốc tổ tiên của Việt Nam bắt nguồn từ Hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) bắt đầu bằng Thời đại Hồng Bàng của Kinh Dương Vương (có sách ghi cụ thể năm 2789 TCN). Thuyết này trùng khớp với các câu chuyện cổ tích về Âu Cơ-Lạc Long Quân, các Vua Hùng, mối tình Mỵ Châu-Trọng Thủy và chiếc nỏ thần v.v...
Câu dân ca Việt cổ "Công cha như núi Thái Sơn (gần Hồ Động Đình), nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra..." cũng là một sự trùng hợp. Truyền thuyết này cũng được kiểm chứng bằng một số kết quả nghiên cứu quả khảo cổ, nhân chủng và ngôn ngữ,  qua các di chỉ đồ đá, trống đồng, nghề trồng lúa nước và  những khác biệt gen di tuyền v.v...
Kết hợp cả truyền thuyết và cổ sử ta có thể nhận thấy trong suốt quá trình "Nam tiến" và "Đông tiến" của Hán tộc, các tộc người Bách Việt như Ngô Việt, Âu Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Man Việt, Di Việt v.v.... đều không thoát khỏi bị thôn tính và đồng hóa...., để cuối cùng đều biến thành "người Hoa" hiện đại. Nhưng riêng Lạc Việt  vẫn tồn tại, có thời kỳ bao gồm cả vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Bộ ngày nay.
Theo dòng lịch sử, ta còn thấy một thực tế là đã từng có rất nhiều người gốc Bách Việt tham gia vào bộ máy đô hộ của phong kiến Trung Hoa trong các thời kỳ khác nhau nhưng đã chọn Lạc Việt (sau là Chân Lạp, Giao Chỉ...) làm "hậu cứ" để chống lại Vương triều trung ương (như Hồ Quý Ly, Lý Bôn, Lý Bí chẳng hạn);  rất nhiều người trong số họ thực sự đã tái hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam.Cũng đã từng diễn ra những đợt rời bỏ quê hương của người Hoa gốc Bách Việt thuộc nhiều thế hệ trước đến định cư tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á.
Sử cận đại Trung Quốc cũng cho thấy, cho mãi đến những năm 1940 danh từ "dân tộc Việt" mới bị Tôn Trung Sơn chủ trương xóa bỏ trong bản đồ dân số Trung Quốc. Cho đến này nay để ý thấy ít nhiều vẫn còn những tình cảm kỳ thị giữa các cộng đồng gốc gác Bách Việt tại Trung Quốc với người "từ phương Bắc".
Bản thân người viết bài này hồi nhỏ đã có dịp học tập tại Quảng Tây nới có gần 20 triệu người dân tộc Choang (còn gọi là Tráng) vốn là họ hàng của tộc Việt,   mới đây trong chuyến du lịch mấy tĩnh phía Nam Trung Quốc đã được dịp "kiểm nghiệm"điều này qua chuyện trò với một số người bản địa. Tin tức cũng cho thấy người Đài Loan gần đây đã viện dẫn đến yếu tố "người bản địa" Man Việt trong cuộc đấu tranh  bảo vệ sự tồn tại độc lập với Đại lục. Nhiều thông tin, dữ liệu của các nhà nghiên cứu Bách Việt học quốc tế cũng đáng được xem xét để góp phần làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc dân tộc và nhân văn của của Việt Nam và khu vực Đông Á và Đông Nam Á nói chung.

Thiết nghĩ, những sử liệu và sự kiện trên đây ít nhiều tự chúng đã nói lên những sự thật  khách quan xung quanh những "góc khuất" trong cổ sử và chính sử liên quan đến cội nguồn dân tộc và quan hệ giữa hai nước Việt-Trung. Khách quan mà nói đó là hướng đi tích cực cho mục đích xây dựng mối quan hệ hữu nghị bình đẳng lâu dài giữa hai nước và trong khu vực nói chung.
Hai là, về nhân văn, tuy chỉ dựa vào các nguồn sử sách cổ để lại từ thời "1.000 năm Bắc thuộc", ta cũng có thể thấy Việt Nam là kết tinh, là đại diện của Bách Việt. Về góc độ văn hoá, kể cả phong tục tập quán, ngôn ngữ, Việt Nam và Trung Quốc ngày nay có rất nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có rất nhiều điểm khác biệt. Đặc điểm này nếu được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực cho việc phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị và bình đẳng giữa hai nước, chứ không có gì là không tốt như một số người có thể nghĩ.
Tuy nhiên trên thực tế không được như vậy vì có quá nhiều sự thật đã bị xuyên tạc, có những giá trị đã bị "tráo đổi" trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua mà trong đó phần lợi bao giờ cũng nghiêng về phía kẻ mạnh.
Xin đơn cử vài ví dụ: Thế giới lâu nay vẫn tin rằng Kinh Dịch là của người Trung Quốc. Nhưng thực ra gần đây các chứng cứ khảo cổ quốc tế đã cho thấy trống đồng không phải của người Hán mà là của các dân tộc phương Nam. Kết luận này cho phép các nhà nghiên cứu suy ra rằng những hình khắc biểu tượng Kinh Dịch trên trống cũng không phải của người Hán; và do đó chủ nhân của Kinh Dịch chính là người Bách Việt, cụ thể hơn là của người Âu Việt và Lạc Việt.
Về ngôn ngữ, đã từ lâu người Việt Nam an phận đón nhận chũ Nho (tốt đẹp) của người Hán (còn gọi là Hán Nôm). Nhưng có một số luận điểm khác cho rằng người Hán trong quá trình xâm lược đã sử dụng ngôn ngữ của người Bách Việt, cụ thể là của Ngô Việt (tại vùng Việt Châu, tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến ngày nay) để cải tiến thành chữ Hán, rồi thành tiếng Trung hiện đại. Lập luận này dựa trên cơ sở nghiên cứu về ngữ nghĩa, âm thanh, ngữ pháp v.v... cho thấy một tỷ lệ rất cao các nhân tố ngôn ngữ Bách Việt trong tiếng Hán cỗ và tiếng Trung ngày nay. Đó là hiện tượng các danh từ nhưng có tính từ được xếp sau danh từ được thấy phổ biến trong Kinh Thi và ngay ở tên gọi các vị Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn vốn được coi là truyền thuyết  Trung Quốc ; từ "Việt" hiển thị với tầng số rất cao trong các tên địa danh ở miền Nam Trung Quốc; từ "giang" (sông) của tiếng Việt cổ được sử dụng cho hầu hết các con sông miền Nam Trung Quốc (trong khi ở miền Bắc gọi là "hà"); tuồng Kinh kịch ở phía Nam Trung Quốc ngày nay vẫn còn gọi là "Việt kich", v.v...
Thuyết này đồng thời cũng đặt ra mối nghi vấn rằng di chỉ thẻ tre có khắc chữ Hán cổ là "giả mạo" vì vào thời đó người Hán chưa có mặt ở miền đất phía Nam nơi có cây tre đủ to để làm thẻ viết. Tương tự cũng có sự "nhập nhằng" về chủ thể của "con đường tơ lụa" vì đúng ra  người Bách Việt mới có thể là chủ thể của sản vật tơ lụa làm từ cây dâu tằm chỉ có ở vùng đất  phương Nam. Rất nhiều luận điểm và luận cứ tượng tự cũng đã được nhiều học giả Việt Nam và quốc tế nêu ra.
Tóm lại, dù bị người Hán cố tình đồng hóa bằng rất nhiểu thủ đoạn tinh vi và cường bạo như đốt sách, bắt từ bỏ, xóa bỏ  hoặc tráo đổi v.v..., nhưng các dấu tích Bách Việt  vẫn còn đó  cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình đấu tranh sinh tồn khốc liệt bên thua trận ắt chịu nhiều mất mát, nhưng những gì là bản sắc riêng vẫn còn đó; và điều này có thể nhận thấy qua nhiều nét tương đồng giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc ngày nay cũng như với các nước Đông Nam Á.
Ba là, công tác nghiên cứu và giáo dục về lịch sử cần đi sâu hơn nữa về nguồn gốc dân tộc cùng các giá trị nhân văn trên tinh thần khách quan, dựa trên chứng cứ khoa học biện chứng lịch sử, khảo cổ, nhân chủng... (chứ không chỉ dựa vào sử sách củ để lại từ thời Bắc thuộc). Thiết nghĩ, trong việc này  những kiến thức xác thực về Bách Việt sẽ giúp giải mã rất nhiều điều mà lâu nay chưa cảm thấy thỏa đáng hoặc chỉ là "ngộ nhận".
Công tác sử học cũng cần tập trung nghiên cứu và bổ cứu lại toàn diện, đặc biệt về lĩnh vực nguồn gốc dân tộc và nhân văn của người Việt nhằm làm sáng tỏ những kiến thức mang tính  truyền thuyết kết hợp với những chứng cứ lịch sử dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo cổ và gen di truyền v.v... Khi có đủ dữ liệu thì công khai chỉnh sửa những mọi sự sai lệnh hoặc bị xuyên tạc hoặc bị giả mạo  trong sách sử cũ dưới bất cứ hinh thức nào, của bất cứ thời đại nào.
Lý do là vì toàn bộ sách sử cổ của Việt Nam đều đã bị đốt và thủ tiêu trong các thời kỳ "1000 năm Bắc thuộc"; các sách sử hiện có, kể cả Đại Việt sử ký, đều là sử "chép lại" dựa chủ yếu vào các nguồn sử của các thời Hán, Đường và "hậu Hán Đường" nên không thể đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ được; thật nguy hại nếu đã có những sự thật đã bị xuyên tạc, thậm chí đã bị tráo đổi trong đó.
Mặc khác, cũng cần thừa nhận những khiếm khuyết trong khâu giáo dục công dân về lịch sử trong thời gian qua ở nước ta với những hậu quả "nhãn tiền" như đã được nhiều lần cảnh báo trước công luận. Thật nguy hại nếu mọi công dân đều hiểu biết sơ sài, thậm chí hiểu sai lệch về lịch sử của đất nước mình. Ví dụ khi nói mình "con rồng cháu tiên" nhưng trong lòng phân vân không biết có đúng thật không vì thấy ở Trung Quốc người ta cũng nói như vậy; không biết tại sao người Việt có các họ giống như  người Trung Quốc, không biết chắc nên thiếu tự tin rằng trống đồng là bảo bối của dân tộc Việt Nam; không dám đòi quyền chủ thể của Kinh Dịch, v.v...
Tương tự, trong lĩnh vực ngôn ngữ, sao ta không đặt mạnh vấn đề nghiên cứu xem tiếng Việt có chữ viết cổ? Lẽ nào ta dân tộc ta chỉ có chữ Hán Nôm? Có lẽ vì không biết mình là ai, nên đến ngày nay vẫn lúng túng không biết nên bảo tồn cái gì, thay thế, xoá bỏ cái gì để thực hiện "trong sáng tiếng Việt"?.Thậm chí có người cứ "vô tư" nhận mình là "con cháu" của người Trung Quốc (trong khi phía bên kia không nghĩ như vậy).
Cũng cần xem xét lại một số khái niệm và quan niệm như cho rằng văn hóa Việt "bị ảnh hưởng" của văn hóa Trung Quốc là không hoàn toàn chính xác (mà thực chất đó chỉ là một sự giao thoa và ảnh hưởng qua lại); cách hiểu về nguồn gốc đạo Phật, Đạo Khổng, về Chữ Nho và  Nho Giáo cũng có nhiều điều phải bàn thêm, v.v... Chỉ khi nào hiểu đúng về nguồn gốc dân tộc và tự tin với những giá trị nhân văn riêng, người Việt Nam ngày nay mới thực sự tìm lại chính mình và thoát khỏi nỗi mặc cảm truyền kiếp luôn thấy yếu kém và phụ thuộc các thế lực bên ngoài.
Thay cho lời kết
Những lập luận trên đây chỉ là ý kiến cá nhân của người viết để nhắc lại rằng dân tộc Việt Nam có cội nguồn lâu đời với những giá trị nhân văn không thua kém các dân tộc khác. Đó là một lịch sử cần được tôn trọng bằng các chứng cứ khoa học khách quan chứ không chỉ bằng truyền thuyết; ngay cả sử sách cũng phải được kiểm chứng lại bằng các kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
Theo hướng đó, bài viết chỉ nêu lên một thực trạng tình hình đồng thời gợi ra một số việc cần làm thêm (chứ không nhằm phê phán ai hoặc nước nào) với hy vọng góp phần đem lại sự hiểu biết đúng đắn hơn về lịch sử và cội nguồn dân tộc của Việt Nam cũng như các bên liên quan khác trong khu vực, coi đó là cơ sở để đảm bảo mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như giữa các nước khu vực với nhau./.
---
Tài liệu tham khảo
- Mục Bách Việt trong Bách khoa toàn thư mở -Wikipedia, và rất  nhiều tài liệu khác nhau được liên kết trong tài liệu này.
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
- Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê
- Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
- Bộ sách giáo khoa môn sử học phổ thông của Nhà XB Giáo Dục Việt Nam.
- Công trình nghiên cứu nguồn gốc chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của M. Liu thuộc Mackay Memorial hospital và được Viện Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ chứng minh là các giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương có liên hệ gen di truyền khác biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc.
-* Sử dụng lại bản đồ của Nhóm nghiên cứu về Bách việt trên mạng internet- Nguồn: nhatnguyen.yolasite.com
Chú ý: những tên nước trong bản đồ này chỉ mang tính chất tượng trưng; trên thực tế chúng được thay đổi hoặc biến mất trong các thời kỳ lịch sữ khác nhau.

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỷ


BÁC TRẦN VĂN GIÀU LÀ NGƯỜI TẬN LỰC VÀ THỨC THỜI


Bác Trần có sách hay (1), trò giỏi (2), thầy quý (3) vợ hiền (4) bạn đồng hành thế kỷ (5) và sống phúc hậu giữa lòng dân. Bác không tiếp tục làm nhà cách mạng, nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo quốc gia nhưng lại thung dung làm nhà sử học, nhà văn hóa, nhà giáo dục. Sự nghiệp ấy, thời thế ấy, điều kiện ấy, bác đã tận lực, thức thời và đều đạt đến đỉnh cao.

Bài học lớn trong câu chuyện nhỏ của Bác viết về "Nhân cách Trần Nhân Tông" và "Nhân cách lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh"  rất ngắn, rất hay và sâu sắc hiếm thấy.

Người hiền đi xa, tiếng thơm còn mãi. Bác viết rằng thế giới đổi thay chỉ giá trị nhân văn và tri thức hợp thời còn lại. Sau năm trăm năm, dân Việt sẽ còn nhớ đến Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Nhân cách và di sản tri thức của bác Trần Văn Giàu chắc chắn sẽ còn nhiều người tìm lại không chỉ vì sử và văn hóa mà vượt lên trên sử, bác đã và đang nói đến CON NGƯỜI.

BÁC VÕ NGUYÊN GIÁP DĨ CÔNG VI THƯỢNG, THIÊN TÀI QUÂN SỰ

Bác Võ dĩ công vi thượng, thiên tài quân sự, biết mình biết người. Thật đẹp tấm ảnh đại tướng Võ Nguyên Giáp và giáo sư Trần Văn Giàu chụp chung. Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỷ.

Hoàng Kim
Xem thêm : Tư liệu cập nhật TƯỞNG NHỚ BÁC TRẦN VĂN GIÀU
Giáo sư Trần Văn Giàu bài học lớn trong câu chuyện nhỏ

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Rừng Lipa




Hoàng Kim

Rừng bao la
Mênh mông rừng lipa
Suối nước Tabor êm chảy hiền hòa
Lối mòn nghiêng vách đá
Thấp thoáng lâu đài cổ
Ẩn hiện nhà thờ đức chúa Giêsu
Dấu ấn thời xa xưa
Lưu lại trên tượng đá
Đâu dấu tích của thời Trung cổ?
Đâu địa đạo dưới tầng sâu?
Rừng lipa gió thổi rì rào
Chồi non thay lá mới
Đi dạo giữa Tabor êm đềm
Mà lòng ta bão nổi
Cồn cào bao ước mong …

Rừng bao la
Mênh mông rừng lipa
Ngọn gió thổi từ đâu phương xa?
Có phải thổi từ chiều sâu lịch sử?
Dấu ấn thời gian phôi pha
Trang đời như trang vở
Người thợ khéo để lại ngôi chùa
Cho khách thập phương ngưỡng mộ.
Người dẫn đạo để lại cuộc đời
Cho cháu con ngàn năm tưởng nhớ.
Vị tướng để lại chiến công
Mở cõi, xây nền.
Con người và thiên nhiên
Lưu giữ những điều thiện ác
Bao thế kỷ đi qua
Trăm năm là khoảng khắc
Ta có gì đây để lại cho đời?

Rừng bao la
Mênh mông rừng lipa
Ngọn gió thổi từ đâu phương xa?
Có phải thổi từ em mang theo nỗi nhớ?
Tháng năm muôn hoa đua nở
Hoa uất kim cương thắm đỏ
Hoa táo, hoa lê khắp rừng nở rộ
Mặt đất bừng sôi bao bông hoa cỏ
Nở vàng trên lối đi.
Cảnh sắc thiên nhiên say mê
Đằm thắm tình đời xao xuyến
Ai nhớ thương ai chân trời góc biển
Ai nhớ thương ai trang sách ánh đèn
Anh bồi hồi thương nhớ về em

Rừng bao la
Ruộng đồng bao la
Cây lúa Việt Nam
Cây tùng Trung Hoa
Cây bạch dương Nga
Cây phong Nhật, Canada
Cây lipa Tiệp Khắc
Mỗi bước đi xa càng thêm yêu Tổ quốc
Trời nhân loại mênh mông.

(1) Cây lipa là cây phong, đây là loài cây rất phổ biến ở
Tiệp Khắc (Czech –Slovakia), Nhật, Canada, Trung Hoa,...
Tục ngắm cây phong thay lá có ở nhiều nước "Rừng phong
thu đã nhuốm màu quan san" (Nguyễn Du) nhưng phổ biến
nhất là Nhật Bản.




ELDAR MANSUROV - Come My Friend(Relaxing music)

Xem thêm:

TỤC NGẮM LÁ ĐỎ MÙA THU  http://tenshinkaivietnam.com/forum/showthread.php?p=9940

Yakumo có hai bài viết Mùa ngắm lá và Momyji gari - Tục ngắm lá đỏ mùa thu . Ảnh tuyệt đẹp và bài viết hay đến mức nao lòng ...




Người Nhật nổi tiếng là thích ngắm hoa. Cứ đến mùa hoa đào vào mùa xuân là mọi người lại rủ nhau ngồi bên gốc cây anh đào, vừa ngắm hoa vừa chuyện trò, uống rượu hoặc hát karaoke. Nhưng người Nhật cũng coi mùa thu là đỉnh cao của sự hoàn mỹ và những chiếc lá vàng, lá đỏ chính là vẻ đẹp đặc biệt của mùa thu. Thú vui ngắm lá vàng, lá đỏ vào mùa thu được gọi là momiji-gari, tạm dịch là “nhặt lá thu vàng”. Người Nhật thích momiji-gari giống như thích ngắm hoa đào, tức hanami, và thông lệ đó bắt nguồn từ cuộc sống của người dân xứ này.


Cũng như hanami, từ momiji-gari xuất hiên trong tuyển tập thơ cổ nhất của Nhật Bản là “Manyoshu” (Vạn Diệp Tập). Sử sách cho rằng, thói quen ngắm sắc màu mùa thu khởi đầu là một thú vui thanh nhã của giới quý tộc trong thời Heian (794-1185). Họ đi thuyền trên ao hồ trong gia trang, vừa chơi nhạc, làm thơ, vừa ngắm cảnh, hoặc tổ chức đi chơi trên núi để nhặt những chiếc là sắc màu sặc sỡ. Nhưng khoảng thế kỷ 17, trong thời Edo (1603-1868), thú vui này lan sang những người bình dân và người ta bắt đầu tổ chức các tiệc rượu sake thịnh soạn trong khi ngắm cảnh đẹp mùa thu.



Nhật Bản là một quần đảo dài và màu lá bắt đầu thay đổi ở đảo cực Bắc Hokkaido từ cuối tháng 9, sau đó dần dần lan xuống phía Nam. Khi mùa thu đến, gần như ngày nào các chương trình truyền hình cũng đưa tin về những nơi nổi tiếng đẹp về màu lá mùa thu, cùng những thông tin chi tiết về thời gian và địa điểm có thể ngắm lá thu đẹp nhất. Từ các trung tâm đô thị lớn tới những điểm có thể ngắm lá mùa thu khá tiện lợi và dễ dàng vì tới 70% diện tích Nhật Bản là vùng núi. Vì thế trong thời gian này, vào cuối tuần, các tuyến đường cao tốc nối thành phố với những điểm có thể ngắm lá vàng, lá đỏ, thường bị tắc nghẽn giao thông vì quá nhiều xe ôtô.


Cây rẻ quạt rụng lá vàng là hình ảnh phổ biến trên khắp nước Nhật trong những ngày mùa thu Từ momiji nói chung được dùng để chỉ tất cả những cây rụng lá và lá có màu đỏ hoặc vàng, kể cả cây thích, cây sồi, cây đào, v,v… nhưng cũng để gọi riêng cây thích bởi vẻ đẹp đặc biệt của lá cây này vào mùa thu. Cũng giống như những cánh hoa đào, chỉ gặp một trận mưa hay cơn gió là tan tác, những chiếc lá vàng, lá đỏ mùa thu có thể nhanh chóng mất màu và rụng xuống. Vẻ đẹp mong manh và chóng tàn đó rất hợp với tính nhạy cảm của người Nhật.


Giống như khi hoa anh đào nở rộ, vẻ đẹp tuyệt vời của màu lá mùa thu đã kích thích cả sự cảm nhận về cái đẹp lẫn trí tưởng tượng của người Nhật. Do vậy, hai vẻ đẹp khác nhau đó của thiên nhiên đều trở thành chủ đề trong truyện thần thoại lẫn các vở kịch.


Vở kịch Noh nổi tiếng tên Momiji Gari thường được diễn trong dịp "nhặt lá thu vàng" này

Xã hội đang ngày càng trở nên hiện đại và con người được bao bọc giữa nhiều kỹ thuật tân tiến. Nhưng dường như khi đời sống càng trở nên tiện nghi, con người càng cần những giây phút gần gũi với thiên nhiên. Và phong tục ngắm lá mùa thu momiji-gari chính vì thế càng không bị biến mất khỏi cuộc sống của người Nhật.


Vở kịch Noh Momiji Gari

Dưới bóng cây phong mùa thu là ác quỷ hiện hình...

Bên cạnh những điều thú vị về phong tục momiji-gari, momiji-gari còn được thể hiện trong rất nhiều những hình thức nghệ thuật sân khấu truyền thống như kịch noh và kabuki, 2 thể loại kịch truyền thống nổi tiếng của Nhật Bản.


Nhân dịp giới thiệu về phong tục ngắm cảnh sắc mùa thu của người Nhật Bản, Ichi xin giới thiệu thêm một số hình ảnh về vở kịch Noh nổi tiếng có tựa đề Momiji-gari. Được trình diễn lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1887, sau này còn có thêm chuyển thể ở thể loại kịch Kabuki.


Một ngày nọ, một nhà quý tộc đi săn hươu ở vùng núi thuộc xứ Shinano (nay là tỉnh Nagano), bất chợt gặp nhiều cô gái sang trọng đang vừa uống rượu sake, vừa ngắm lá mùa thu. Họ mời nhà quý tộc cùng tham gia, tuy trước đó ông chưa bao giờ gặp, tiếp rượu sake cho ông, và nhảy một điệu vũ vô cùng duyên dáng.



Khi nhà quý tộc ngà ngà say và chợp mắt ngủ, bỗng nhiên một sứ giả từ ngôi đền Hachimangu xuất hiện, nói với ông rằng những người phụ nữ đó chính là lũ quỷ từ ngọn núi Togakushi gần đó.



Rồi sứ giả trao cho nhà quý tộc một chiếc kiếm thần để tự vệ. Nhà quý tộc vừa choàng tỉnh giấc thì bị lũ quỷ tấn công, nhưng nhờ kiếm thần, ông đã tiêu diệt được chúng.



Linh hồn của lũ quỷ (trong hình ảnh những thiếu nữ xinh đẹp) đã trú ẩn vào cây phong. Bạn có để ý là màu sắc của lũ quỷ thường là màu đỏ - trùng với màu của những cây phong mùa thu không.



Những hình ảnh các bạn đang chiêm ngưỡng được biểu diễn bởi những nghệ sĩ kịch Noh tại Hiroshima nhân dịp “momiji-gari” đang diễn ra tại vùng. Nội dung của vở kịch này cũng thường xuyên được biểu diễn tại nhiều vùng ở Nhật Bản (dưới nhiều hình thức biểu diễn khác) mỗi khi mùa thu đến. Và như tựa đề cùng nội dung đầy tính huyền thoại, Momiji-Gari luôn khiến người xem tràn đầy cảm xúc về một mùa thu đẹp đẽ và mơ màng trong cảnh sắc của những rừng phong lá đỏ nhuộm trời…

Tại sao lá phong đổi màu?

Tại sao cứ khi mùa thu đến thì lá cây phong lại chuyển sang màu đỏ, màu vàng?

Hẳn bây giờ, nhiều người đang rạo rực chuẩn bị cho những chuyến dã ngoại ngắm momiji cùng bạn bè, người thân. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về momiji để những chuyến picnic thêm phần thú vị!


Momiji còn có một tên gọi thông dụng khác là koyo, chỉ cả lá đỏ và lá vàng. Nói đến koyo là nói đến lá của các loài cây thích (maple tree) khi chuyển sang màu đỏ hay màu vàng. Trong tiếng Nhật, cây thích được gọi là Kaede bởi vì lá của nó có hình giống như bàn chân ếch (Kaeru).


Họ gỗ thích có tất cả khoảng 160 loài (ở Nhật Bản có trên 30 loài). Những loài chính ở Nhật Bản bao gồm: irohamomiji, omomiji, yamamomiji. Cây thích là loài cây phát triển chậm, chỉ cao thêm khoảng 10cm/năm; cần hơn 20 năm để có chiều cao khoảng 10m. Vì thế gỗ thích rất chắc và được dùng làm các loại nhạc khí, bóng billiard, bóng và sàn bowling...


Tại sao lá cây thích lại chuyển sang màu vàng hay màu đỏ?


Như mọi người đều biết, bất kỳ loại cây rụng lá nào đều cần tích trữ năng lượng (nước, muối khoáng...) cho mùa đông lạnh giá. Vì thế khi sang thu, các mạch cung cấp nước và dinh dưỡng từ thân lên lá bị đóng lại khiến lá không quang hợp được và dần mất đi chất diệp lục. Khi đó, những sắc tố đỏ/vàng trong lá có cơ hội khoe sắc.

Lá icho chuyển sang màu vàng vì trong lá có chứa sắc tố carotenoid, đây là sắc tố có nhiều trong bí ngô và những loại rau quả màu vàng khác. Tương tự, sắc tố anthocyan khiến cho lá có màu đỏ.


Ở Nhật, momiji thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 9 đến trung tuần tháng 11. Thời điểm momiji đẹp nhất thường vào cuối tháng 10, đầu tháng 11. Những vùng cao nguyên, có nhiệt độ thấp (5~6độ) và nhiều ánh sáng là nơi thích hợp nhất để momiji trổ sắc.



Nghệ thuật sống khi thì liều lĩnh, khi thì thận trọng, là nghệ thuật thành công (Napoleon).

MÙA NGẮM LÁ



Biểu đồ thời gian ngắm lá thích hợp cho từng vùng Nhật Bản
Tuy không có những lễ hội lớn như Hanami (lễ hội ngắm hoa anh đào), nhưng "mùa ngắm lá" vẫn được các trang web uy tín đánh giá là thời điểm rất thích hợp để du ngoạn vòng quanh Nhật Bản. Ở bất cứ thành phố nào, bạn cũng có thể bắt gặp những cảnh đẹp đến khó diễn tả bằng lời được tạo nên từ những chiếc lá rụng.



Loại lá nổi tiếng nhất ở Nhật chính là lá phong (mapple). Vào mùa thu, lá phong sẽ chuyển sang sắc đỏ rực rỡ tuyệt đẹp.



"Mùa thu ở thành phố này đắm chìm trong sắc nâu đỏ rực rỡ thắm nồng và điểm xuyết những chấm hoe vàng rạo rực. Những chiếc lá nhàu nát, những sắc màu táo bạo, những sắc màu cuồng nhiệt của sắc đỏ. Nguy hiểm, ấm áp, và trìu mến. Những vệt liếm sắc ngọt như dao của khoái cảm. Tất cả là một màu đỏ. Và những chiếc lá thu chìm trong sắc màu ấy." - Đồng hồ cát
















Một số địa điểm ngắm lá rụng"
* Arashiyama (Kansai)
* Fuji Five Lakes
* Towadako (Lake Towada, Tohoku)
* Oirase Strean (Tohoku)
* Kyoto
* Nanzenji (Kyoto)­
* Naruko (Tohoku)
* Nikko (Kansai)
* Tokyo
Ngắm lá đỏ ở Arashi Yama
Ở nước Nhật hầu như tháng nào cũng có kỳ renkyu - kì nghỉ liền từ ba ngày liên tục trở lên, để dành thời gian cho người dân có dịp thư giãn du lịch, thoái mái ngắm nhìn phong cảnh và tận hưởng các ngày lễ theo phong tục truyền thống của đất nước. Tháng 11 năm nay, kì renkyu được bắt đầu từ ngày 22 và kết thúc ngày 24 (tùy từng năm mà lịch nghỉ lễ này sẽ có sự thay đổi). Và bạn biết người dân Nhật thường tận hưởng kì renkyu tháng 11 của mình như thế nào không? Hầu hết mọi người đều kéo nhau đi ngắm lá đỏ đấy. Hôm nay Ichi sẽ đưa các bạn đến núi Arashi để ngắm lá đỏ mùa thu cùng người Nhật.


Các khu nhà ga mùa này lại càng thêm tấp nập
Núi Arashi được coi là một thắng cảnh đẹp nhất vào mùa thu của Nhật Bản, vì vậy, người dân đổ về đây cũng vô cùng đông đúc, nhất là vào những ngày nghỉ như thế này, bạn cần đi bộ khoảng 15 phút để từ nhà ga ra tới núi. Nhưng đừng buồn vội, vì trên đường đi, bạn sẽ chẳng thấy mệt một chút nào đâu. Làm sao mà mệt được nhỉ khi mà thỉnh thoảng lại có một vài cô thiếu nữ Nhật Bản trong bộ kimono duyên dáng bước qua làm bạn phải ngẩn người trong thoáng chốc.


Hoặc nếu may mắn hơn, bạn thậm chí có thể thấy các geisha ngồi trên những chiếc xe kéo truyền thống lướt qua.





Lan man một chút, thơ thẩn một chút, chỉ cần không lan man thơ thẩn quá, để đến nỗi lạc đường, thì hẳn là 15 phút sau bạn sẽ thấy mình đã đang bước đi trên con đường ngập nắng dẫn lên núi Arashi. Đến đây rồi bạn sẽ nhận ra ngay vì sao Arashi yama lại được tôn là "Thu trung đệ nhất thắng cảnh" của Kyoto. Con đường mà bạn đang bước đi men dài, chạy dọc theo triền của một cái hồ dài, nước xanh trong veo, và bên kia hồ chính là ngọn núi mà chúng ta mong đợi. Có hồ, có núi, có nước thu xanh trong, có lá thu đỏ rực. Đến tâm hồn khô cứng nhất cũng sẽ mềm lại trước thiên nhiên xinh đẹp như vậy.



Tới đây, bạn có thể chọn một trong hai phương án để đi tiếp, một là đi như bình thường, vòng hết bờ hồ để sang đến bên kia, hai là lên một chiếc thuyền và đi đường thẳng, cũng qua bờ bên kia, lại được cái thú ngắm cảnh trên sông vài cảm giác bềnh bồng cùng sóng nước. Đi thuyền, cũng có đôi đường cho bạn lựa chọn. Một là lên thuyền lớn, có người phục vụ tận tính lái thuyền đưa bạn qua hồ, nhưng như thế thì phải ngồi chung với kha khá người khác nữa không thì bạn có thể chọn đi thuyền nhỏ. Hai hoặc ba người ngồi lên được thôi, lại còn phải tự chèo tự chống để qua được bờ bên kia nữa.









Dù ngồi loại thuyền nào thì mức giá vẫn là 1100 yên ( khoảng 190 k VN) cho người lớn và 550 yên (95k VN) cho trẻ em. Thông thường, một chuyến du ngoạn như thế này có thể tiêu tốn của bạn cả ngày trời, dù vậy, một số người còn chuẩn bị sẵn bento mang theo.



Và khi con đường lên núi hiện ra, bạn bước từng bậc thang lên đó, thế giới rực đỏ hiện ra làm bạn say mê. Lúc này thì những ống kính máy ảnh mới bắt đầu phát huy hết tác dụng của chúng.











Nghệ thuật sống khi thì liều lĩnh, khi thì thận trọng, là nghệ thuật thành công (Napoleon).
Trả Lời Với Trích Dẫn