Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2009

Trong chuỗi họat động xuất khẩu gạo, nông dân cực nhất, cần được hỗ trợ nhất



DAYVAHOC. GSTS. Nguyễn Văn Luật "Người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã sản xuất lúa đóng góp tới 95% lượng gạo xuất khẩu cả nước. Đảng và Nhà nước, bao gồm các nhà khoa học nằm trong tổ chức Nhà nước có nhiều hỗ trợ đắc lực cho nông dân sản xuất lúa ở cả nước nói chung, và ở ĐBSCL nói riêng. Đảng đã có Nghị quyết VII về Ngông nghiệp, Nông thôn và Nông dân (TAM NÔNG), Nhà nước đã có nhiều chính sách, bao gồm tăng đầu tư cho khoa học công nghệ trước và sau thu họach, mặc dầu cần làm nhiều hơn nữa. Một thể hiện sự quan tâm của Nhà nước là gần đây đã gia hạn gói kích cầu 1 cho nông dân nửa năm, do hết hạn gói 1 mà nông dân chưa được thụ hưởng là bao. Nhiều rào cản trong việc nông dân tiếp cận với gói kích cầu cho nông nghiệp đã được Nhà nước quan tâm dỡ bỏ dần."

Về mặt khoa học và công nghệ, có 2 khâu quan trọng nhất mà người nông dân cần được hỗ trợ nhiều hơn để phát triển sản xuất lúa có nhiều lời hơn là khâu giống lúa và cơ giới hóa khâu thu họach và gieo trồng. Tất nhiên, tất cả các khâu khác trong quy trình kỹ thuật liên hòan đều cần được đầu tư phát triển để công nghiệp hóa, để nâng trình độ sản xuất lúa gạo lên tầm cao mới.

Trong khâu giống lúa, có việc tạo chọn giống lúa mới có nhiều ưu điểm hơn so với giống hiện đang dùng, và sản xuất hạt giống lúa tốt có cấp xác nhận 1 và xác nhận 2 cho sản xuất đại trà. Gần đây mới có quy định hạt giống xác nhận 2 với tiêu chuẩn thấp hơn chút ít so với cấp 1 cho gần với khả năng sản xuất hơn.

Các nhà khoa học đảm nhiệm khâu tạo chọn giống lúa, bao gồm cả việc cung cấp giống tác giả và nguyên chủng cho các địa phương. Tuy nhiên, đã có những đóng góp tốt trong khâu này của nông dân và cán bộ kỹ thuật địa phương. Nhà nước nên khuyến khích, như giảm nhẹ thủ tục và chi phí công nhận giống mới và giống phục tráng bằng chi phí không từ vốn ngân sách trung ương, như nhóm giống ST của tỉnh Sóc Trăng, giống chọn thuần phục tráng IR 50404 lá xanh, nhóm giống lai tạo Óc EO của An Giang...

Khâu tổ chức sản xuất nâng cao chất lượng hạt giống là khâu rất quan trọng trong quá trình sản xuất lúa gạo xuất khẩu. Nhà nước trung ương và địa phương cần quan tâm nhiều hơn, không chỉ tăng đầu tư vốn, mà cần tôn trọng sự lựa chọn của nông dân dùng giống lúa nào trong cơ cấu giống lúa hiệu quả cao, như trường hợp giống IR 50404, OM 576..

Như được biết giống IR 50404, OM 576 (giống Hầm trâu) trước đây khuyến cáo giảm và bỏ, nay có thể làm 15-20% diện tích, nhưng lại chưa có giống xác nhận cho sản xuất. Trong “phong trào khuyến cáo” giảm đến bỏ giống IR 50404, nhiều thông tin đại chúng cũng theo “phong trào”, nên chỉ đưa tin giá bán IR50404 thấp hơn gạo chất lượng cao hơn, như Jasmin, OMCS2000, OM 4900..một vài trăm đồng/ kg, một thông tin mà các nhà kinh doanh xuất khẩu gạo quan tâm, còn nông dân quan tâm đến lợi nhuận trên 1 ha, đến giá thành sản xuất IR50404 và OM 576 thấp hơn nhiều do cần ít phân bón và thuốc trừ sâu, đồng thời năng suất lúa lại cao hơn, nên lời nhiều hơn, lại dễ bán cho thương lái. Tỉnh Hậu Giang đã có cái nhìn nhận thông thóang và sát thực tế hơn từ khi chưa biết có thể sản xuất IR50404 trên 15-20% diện tích, nên đã điều chỉnh chỉ
đạo thích hợp.

Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, các nhà khoa học nghiên cứu tạo chọn và đưa ra sản xuất 1 tập đòan giống lúa cao sản xuất khẩu có thới gian sinh ≤ 90 ngày. Đã có hàng chục giống lúa này được xếp vào một nhóm giống lúa riêng, nhóm Ao, và được nông dân tiếp thu nhanh, hiện dùng trên hàng triệu ha hàng năm. Với tập đòan giống lúa này, người nông dân dễ dàng hơn trong việc bố trí cơ cấu giống thích hợp, dễ dàng hơn né lũ, né hạn/ mặn và tăng vụ. Cùng với những nhóm giống lúa A1, A2, và B, giúp nông dân chuẩn bị ứng phó với biến đổi khí hậu tòan cầu làm cho các điều kiện khí hậu ngày một khắc nghiệt. Đã có thời gian Bộ Nông nghiệp quan tâm và hỗ trợ đặc biệt để phát triển nhóm giống lúa Ao như là một hướng quan trọng nhằm tăng sản lượng lúa trong các điều kiện khác nhau.

Về công nghiệp hóa sản xuất lúa , khâu bức xúc nhất là thu họach bằng máy, nhất là dùng máy gặt đập liên hợp. Không chỉ ở Nam bộ, mà cả ở miền Bắc. Vừa qua (20/09/2009), ở tỉnh An Giang có hội thảo giữa Nhà nông dân, có Nhà nước và Nhà khoa học tham dự, có thông tin An Giang đã cơ giới hóa thu họach lúa trên 60% diện tích, phần lớn bằng máy gặt đập liên hợp. Cũng trong hội thảo này, khi đồng chí PCT tỉnh Hùynh Thế Năng được giới thiệu máy sàng hạt giống lúa có giá bán 21 triệu đồng (máy khác to hơn, trên 70 triệu đồng), do Ks Ngô Văn Khoa ở Trung tâm Khuyến nông tỉnh chế tạo và bắt đầu cung cấp cho nơi sản xuất giống lúa. Vị PCT tỉnh này quyết định luôn tỉnh tặng bằng khen đặc cách , sáng hôm sau tới tỉnh nhận, đồng thời quyết định luôn mức hỗ trợ tối thiểu cho việc phát triển lọai máy này, trước hết cho các cơ sở sản xuất giống lúa.

Với những lợi ích rõ ràng của máy gặt đập liên hợp, Nhà nước đã có chủ chương hỗ trợ nông dân mua máy. Nhiều địa phương đã hỗ trợ nông dân ở các mức độ khác nhau sau, và ngay cả trước khi có chủ chương trên của Nhà nước, nhưng với mức độ “khiêm tốn” trong phạm vi khả năng của minh. Tuy nhiên, nhiều cơ quan chức năng không hỗ trợ cho máy nhập, hoặc phần lớn lắp ráp bằng hàng ngọai, với lý do không “kích cầu” cho nước ngòai. Chúng tôi đề nghị Nhà nước xem xét và cho chủ trương hỗ trợ cho nông dân mua máy gặt đập liên hợp bất kể sản xuất trong hay ngòai nước, có thể có lãi suất khác nhau, tùy theo sản xuất ở đâu mà là 4%, 2%, 0% hay cả lãi suất âm để khuyến khích việc sử dụng máy gặt đập liên hợp mạnh hơn. Nghị quyết về TAM NôNG của Hội nghị TƯ 7 năm qua đã mở đường cho ta thực hiện sự hỗ trợ này. Bởi vì, nếu tính tóan đầy đủ thì lợi ích của máy gặt đập liên hợp đưa lại gấp nhiều lần số vốn kích cầu chạy ra nước ngòai.

Còn nhiều họat động cơ giới hóa sản xuất lúa đáng được khen và thưởng. Chỉ xin nêu một họat động đã mang lại lợi ích hàng tỷ đồng trên hàng chục triệu ha từ 2000 tới nay: đấy là dùng dụng cụ sạ lúa theo hàng. Dụng cụ này do Viện Lúa ĐBSCL mang về từ Viện Lúa Quốc tế (IRRI) vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Viện trưởng lúc đó mang mẫu máy về và làm nhóm trưởng nhóm nghiên cứu sử dụng và cải tiến, trong đó có NCS Bùi Thị Thanh Tâm, nay là tiến sỹ từ đề tài dùng máy sạ lúa theo hàng, có NCS Lê Văn Bảnh, nay là Ts Viện trưởng, đã cùng CTV cải tiến máy cho phù hợp với đồng ruộng ở ĐBSCL, bằng cách thay bàn trượt bằng bánh lồng nhỏ. Rồi doanh nghiệp tư nhân Hòang Thắng dùng vật liệu nhựa thay sắt Lần đầu tiên áp dụng trên hàng trăm ha là ở tỉnh Trà Vinh do tỉnh đầu tư chuyển giao vào sản xuất, rồi đến Nông trường Sông Hậu. Đến nay, không những đã áp dụng ra sản xuất đại trà ở ĐBSCL, mà cả ra miền Bắc, mỗi năm trên 1 triệu ha, và có thể tăng lên vài bốn triệu ha gieo trồng và hơn thế, nếu như nông dân được hỗ trợ thích đáng. Kết quả nghiên cứu cũng như sản xuất nhiều năm đều cho thấy mỗi ha dùng dụng cụ sạ hàng tiết kiệm được 100 kg thóc, 1 bao urê và nhiều đợt phun xịt thuốc sát trùng. Cùng một mẫu máy IRRI Seeder, nhiều nước không đưa ra sản xuất lúa được, có đến ĐBSCL tham quan rút kinh nghiệm và mua mẫu máy.

Chuỗi họat động xuất khẩu gạo có 4 thành phần chính tham gia: nông dân, người thu gom thừơng được gọi là thương lái, người xay chà đánh bóng, và người xuất khẩu. Khâu sản xuất lúa vất vả nhất, lại chịu rủi ro nhiều nhất, đều do nông dân đảm nhiệm, nhưng lại hưởng lợi ít nhất.

Về họat động thu hom lúa từ nhà nông dân chuyển đến Cty xuất khẩu gạo, qua các nhà máy xay chà đánh bóng, hầu hết đều do đội ngũ “thương lái” đảm nhiệm, có ý kiến đề nghị đổi là “thương nhân”, cũng như trước đây cố nhà khoa học Nguyễn Khắc Viện đề nghị không gọi thương nhân là “con buôn”. Trước đây, việc thu gom, nhiều khi đảm nhiệm cả việc xay chà có tổ chức tự nguyện gọi là “Chành”, tổ chức này không có nữa sau ngày giải phóng. Đến khi ta xuất khẩu lại thì có đội ngũ thương lái. Nhiều thương lái có họat động tiêu cựa như cân non, ép giá.. Tuy nhiên, nếu không có đội ngũ này thì có lẽ hàng thập kỷ nữa chưa có cách gì thay thế, vì hơn hai thập kỷ qua nhiều ý kiến muốn thay thế vì lợi ích chung, nhưng đã thay thế được đâu. Hơn nữa, nhiều nông dân, nhất là ở vùng xa vùng sâu tiếp cận với giống mới và kỹ thuật mới qua thương lái. Chúng tôi đề nghị có hình thức thích hợp nào đấy tổ chức họ lại, như tổ chức hợp tác xã, để vừa giáo dục họ làm ăn ngay thẳng, vừa tập huấn khuyến nông cho họ.

Khâu hưởng lợi nhiều nhất là xuất khẩu gạo. Theo một thông tin, 2 tổng Cty lương thực Nhà nước ở miền Bắc và miền Nam năm 2008 lời 2.000 tỷ đến 2.400 tỷ đồng từ xuất khẩu gạo! Theo tinh thần Nghị quyết VII về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thì Nhà nước ta cần tăng cường đầu tư và giúp nông dân tổ chức sản xuất lúa gạo xuất khẩu thế nào có thu nhập tăng tương xứng với công đóng góp củ a người nông dân.

GsTs Nguyễn Văn Luật

(Bài do tác giả gửi)

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009

Bão số 9 và những bài học



DAYVAHOC. GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân. Những thiệt hại mà đồng bào các tỉnh miền Trung phải gánh chịu trong cơn bão số 9 Ketsana vừa qua thật quá lớn về tài sản và nhất là về sinh mạng. Tình cảnh thương xót này buộc chúng ta phải rút ra những bài học cần thiết để lần sau, vâng, rất tiếc vì sẽ còn có những lần sau, mất mát và thương đau sẽ giảm đi. Bão cường độ mạnh hay yếu, đi theo hướng nào và đổ bộ vào đâu, cho tới nay không tùy thuộc vào chúng ta. Nhưng, thiệt hại mà chúng gây nên nhiều hay ít lại có phần do chính chúng ta.

Những bài học từ hiện tại …

Ai cũng biết nạn phá rừng đang là một tai họa đối với đất nước. Nhưng phải nhìn thấy những bãi gỗ trôi theo lũ về chân cầu Quảng Huế, huyện Đại Lộc (Quảng Nam); phải nhìn thấy cảnh một làng bị cát vùi lấp tất cả những gì còn sót lại trên mặt đất sau khi đã bị nước cuốn trôi, thì mới thấy cụ thể thêm quy mô của tai họa này, mới nhận ra hậu quả khủng khiếp của lòng tham đầy tội lỗi của lâm tặc, và sự bất lực của một bộ phận trong bộ máy quản lý nhà nước đã không giải quyết được tận gốc hiểm họa dai dẳng này.

Chính phủ có cả một chương trình trọng điểm quốc gia “Trồng mới năm triệu ha rừng”, được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, từ thập niên cuối của thế kỷ trước liên tục cho đến cuối thập niên đầu của thế kỷ này, và có lẽ sẽ còn được kéo dài thêm một thời gian nữa. Cho tới cuối Khóa XI, QH vẫn chưa có được bảng kết toán đáng tin cậy giữa diện tích trồng mới và diện tích rừng bị đốn chặt, bị cháy, trong khi hàng năm ngân sách nhà nước phải chi cho chương trình trọng điểm này không ít hơn năm bảy trăm tỷ đồng.

Tuy vậy, chắc chắn một điều bảng kết toán về sinh khối và về độ che phủ của rừng là âm, âm rất nhiều. Chính vì vậy đất mới bị xói mòn nhanh, nước mưa rơi xuống là chảy tức thì theo triền, kéo theo đất cát, và cả những cây gỗ to đã bị lâm tặc đốn và cưa sẵn theo kích thước, với những tai họa mà chúng ta đã thấy.

Những bài học cần rút ra cùng với địa chỉ là quá rõ để không cần phải nói gì thêm. Có chăng đó chính là sự thờ ơ, hầu như cam chịu, có nơi có cả sự đồng lõa của một số người, của xã hội, của chính chúng ta trước những hành động phá rừng tội lỗi đó. “Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Liệu dân ta có chấp nhận tai ương này lâu hơn nữa không?

Ai cũng biết các tỉnh duyên hải miền Trung nằm trên một dãy đất hẹp, độ cao chênh lệch cả ngàn mét từ núi tới biển, giảm rất nhanh chỉ trong khoảng cách vài chục cây số theo đường chim bay. Ở dãy đất này, những hậu quả của mất rừng (xói mòn, rửa trôi, sạt lởã đồi dốc,…) khốc liệt hơn ở bất cứ địa bàn nào khác. Một báo cáo khoa học đã đánh động về tình trạng lòng các hồ đập bị lấp dần(1), làm giảm nhanh chóng công suất và hiệu quả hoạt động so với thiết kế ban đầu, thậm chí làm hỏng hóc các tổ máy phát thủy điện trên địa bàn(2).

Làm hồ để trữ nước trong mùa mưa để dành cho mùa kiệt, xây dựng nhà máy thủy điện khai thác thế năng của lượng nước trữ là những ý tưởng đúng và phổ biến. Nhưng ở những lưu vực triền dốc cao, nếu công tác quy hoạch thủy lợi, thủy điện không được tính toán thật kỹ về địa chất, thủy văn, thủy lực, với tần suất đảm bảo an toàn cao; nếu quy trình tích nước và điều tiết nước chỉ vì lợi nhuận kinh tế(3), thì cộng với nạn phá rừng tiếp tục diễn ra, các hồ trữ nước và đập thủy điện sẽ là những lưỡi kiếm treo lơ lững trên đầu nhân dân các tỉnh miền duyên hải miền Trung!

Khi người dân đã than trách “Trước đây, bà con tui đã quen sống chung với bão lũ. Lệ thường bão qua ít ngày, gây mưa vùng thượng nguồn rồi lũ mới lên. Nên bà con tui còn có thời gian để mà lo đối phó. Còn bây chừ bão trên đầu gầm rít, nước lũ dưới chân dâng lên tích tắc, làm răng mà chịu cho thấu”(4), thì phải tìm ra nguyên nhân, đặc biệt những khâu nói trên đây cần được rà soát một cách nghiêm túc. Sống không an cư thì làm sao mà thoát được nghèo, nói gì đến phát triển bền vững. Bài học rút ra và địa chỉ, theo tôi, cũng khá rõ.

và từ thách thức chớm nở: biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

Như đã thấy trên đây, do rừng đầu nguồn trên dãy Trường Sơn bị tàn phá nhiều, địa mạo vùng duyên hải Trung Bộ trở nên ngày càng không ổn định. Sau mỗi mùa lũ, thậm chí hiện nay sau mỗi cơn bão lớn, lòng sông, địa mạo các cửa sông thay đổi nhiều.

Với biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng, sự không ổn định của địa mạo còn sẽ đến từ phía Biển Đông, ép từ hai phía lên dãy đất hẹp miền Trung. Tình hình bờ biển bị xâm thực, sự đe dọa của biển dâng lên hạ tầng cơ sở, lên đời sống người dân dọc bờ biển, ngoài thời gian mùa bão lũ, còn diễn ra thường xuyên hơn theo các kỳ triều cường và gió chướng.

Thế nhưng, dọc ven biển rừng dương phòng hộ bị tàn phá khá nhiều.

Ở các xã ven biển Duy Hải, huyện Duy Xuyên, Bình Hải, huyện Thăng Bình, Quảng Nam từ nhiều năm nay, rừng dương bị chặt phá để làm vuông nuôi tôm trên cát. “Cái lời trước mắt”, cụ thể, thấy được ngay, đã lấn át “cái lợi lâu dài”, khó thấy hơn cho dù lâu bền hơn, mà người ta chỉ ngậm ngùi tiếc nuối một khi đã đánh mất. Phải chăng đây cũng là một bài học cần rút ra, nhất là khi bờ biển liên tục bị xâm thực.

Theo tin từ các báo, tại các xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, xã Đức Lợi, Mộ Đức, Quảng Ngãi, triều cường đang xâm thực dần vào quỹ đất của các xã, chỉ trong khoảng 10 năm trở lại đây, sóng biển đã cướp đi hơn 70 ha đất và rừng dương ven biển của xã. “Nếu rừng dương phòng hộ ven biển không còn, thiên tai diễn biến phức tạp như thế này, xã chúng tôi có nguy cơ bị xóa sổ bởi triều cường và gió bão” ông chủ tịch xã Đức Lợi nói.

Tại xã Thạch Bằng (Hà Tĩnh), trước đây bãi biển nằm cách nơi người dân ở 400-500m, nay chỉ còn cách chừng 200m. Năm nào người dân cũng di dời nhà cửa, hàng quán vào sâu, nhưng cứ di dời bao nhiêu thì biển xâm lấn bấy nhiêu, năm có bão thì biển xâm thực 40-50m, năm không có bão thì sóng to gió lớn, nước biển cũng ăn sâu trên 10m. Theo ông chủ tịch xã Thạch Bằng, tình trạng này đã kéo dài hơn chục năm nay rồi và nếu tình cảnh cứ tiếp diễn, một xóm của xã Thạch Bằng có nguy cơ biến mất.

Những thông tin sống từ địa bàn trên đây, cộng với những tư liệu khoa học của IPCC năm 2001 cho thấy ít nhất từ 10 năm nay, tình trạng xâm thực bờ biển đã xảy ra, và trong thời gian này đã có dồn dập ba cơn bão lớn, Chanchu năm 2006, Xangsane năm 2007, và Ketsana 2009 ập vào các tỉnh miền Trung với những tổn thất ngày càng tăng.

Một câu hỏi đặt ra: việc hoạch định địa bàn để tái định cư dân trong các tình huống mực nước biển dâng khác nhau, đã được các bộ ngành có liên quan và các cấp chính quyền các tỉnh đã xúc tiến ra sao rồi? Hy vọng rằng nếu chưa thì sau cơn bão số 9, công việc này sẽ được xúc tiến tích cực hơn và được hoạch định một cách chu đáo. Bởi lẽ nếu chờ đến khi “nước tới chân”, e rằng khi đó tự phát hoặc theo cảm tính cùng kéo nhau đi phát hoang, san lấp mặt bằng mới để ở và sản xuất, thì có thể chính sự thiếu chuẩn bị làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn định địa mạo bằng việc tạo thêm những bất ổn định địa mạo mới.

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu có hai nhiệm vụ chủ yếu rất rõ: tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT- XH, phát triển ngành và địa phương; xây dựng các kế hoạch hành động của các Bộ, ngành và địa phương ứng phó với biến đổi khí hậu.

Những mất mát quá lớn lao mà các cơn bão liên tiếp năm 2006, năm 2007 và năm 2009 là những tiếng chuông khẩn thiết đối với cả hệ thống chính trị nước ta hãy rút ra cho mình những bài học cần thiết và sớm cụ thể hóa hai nhiệm vụ trên đây thành kế hoạch hành động thiết thực và có hiệu quả.

________________

1. Theo một báo cáo khoa học của Khoa Địa lý, Đại học Quy Nhơn, ở tỉnh Bình Định, việc bồi lắng các hồ chứa, làm giảm tuổi thọ của các hồ từ 40 - 60% so với mức thiết kế ban đầu tại các hồ Hòn Gà, hồì Thủ Thiện (Tây Sơn), hồ Núi Giằng (Phù Mỹ), hồ Thạch Khê (Hoài ân). Các hồ Vĩnh Sơn, Hội Sơn, Vạn Phú, Núi Một, Phú Ninh, Đồng Tre … cũng đang diễn ra quá trình bồi lắng lòng hồ với các mức độ khác nhau. Theo tôi, tình hình này chắc chắn không chỉ xảy ra tại tỉnh Bình Định.

2. Theo trang web của Công ty cổ phần Thủy điện A Vương, sáng ngày 29.9.2009, Nhà máy thủy điện đã ngừng phát điện do bùn cát, gỗ củi rác đổ về khiến hai tổ máy không hoạt động được vì sự cố. Thông tin còn cho biết “Các cây gỗ gãy đổ và vật trôi nổi đã làm méo lan can hạ lưu nhà máy ở cao trình 74. (…) Dòng thủy lực khu nhà máy ở mực nước cao độ 74 đã tạo thành những dòng xoáy xả trực tiếp từ thượng lưu về kênh xả nhà máy, đây là hiện tượng thủy lực cần phải được xem xét trong quá trình vận hành nhà máy lâu dài”.

3. Khi báo cáo về tổng lượng nước đã xả ngày 29.9.2009 là 149,3 triệu m3, Chủ tịch HĐQT của CTCP Thủy điện A Vương tính rất chi tiết: lượng nước xả đó “tương đương với lượng điện năng có thể phát ra được là 110 triệu kwh”! Không biết có một ý nghĩ nào, dù nhỏ, về hậu quả của việc xã lũ đó đối với đồng bào của mình ở hạ lưu nhà máy hay không?

4. Trích http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/200910/Thuy-dien-A-Vuong-xa-lu-gay-ngap-vung-ha-luu-871894/

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân
Nguồn: Người đại biểu nhân dân. 12/10/2009

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

Hành trình 60 năm của đất nước 1,3 tỷ dân



DAYVAHOC Tại phiên họp toàn thể lần 64 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 9 năm 2009, Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào tuyên bố: “Tương lai của Trung Quốc gắn kết ngày càng chặt chẽ với tương lai của thế giới. Càng phát triển, Trung Quốc sẽ càng đóng góp lớn hơn cho thế giới và càng mang lại cho thế giới nhiều cơ hội. Chúng tôi cam kết lựa chọn con đường phát triển hòa bình và rộng mở với chiến lược thắng – thắng. Chúng tôi sẽ phát triển các mối quan hệ hữu nghị và sự hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở của năm nguyên tắc chung sống hòa bình. Trung Quốc sẽ luôn luôn là và tiếp tục là lực lượng tích cực của hòa bình và sự phát triển chung.” Là một công dân ủa nước Việt Nam, nhân dịp kỹ niệm sáu mươi ngày lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ông Nguyễn Trung đã viết bài "Hành trình 60 năm của đất nước 1,3 tỷ dân" và đã chúc nhân dân Trung Quốc sẽ xây dựng thành công một Trung Hoa vĩ đại và thế giới sẽ có một Trung Hoa như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã cam kết trong diễn văn nói trên. Bài báo nhấn mạnh "Người Việt Nam chúng ta cũng phải tự nhắc nhở nhau: Muốn được bạn tôn trọng, trước hết chúng ta phải tự trọng, khiêm tốn và nỗ lực hết mình vươn ra khỏi tình trạng lạc hậu hiện nay. Không tự trọng, lực mỏng chí mềm, thì chẳng bao giờ được ai tôn trọng cả - lẽ sống trên đời khắc nghiệt là vậy." (Rạng đông trên Thái Sơn - Ảnh tư lệu của HK)


Nguyễn Trung


Ngày 1-10-1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Từ ngày ấy quốc gia này bước lên con đường lấy lại vị thế Trung Hoa của mình do nền văn minh của chính nó đã tạo dựng lên cho đến cách đây năm thế kỷ.

Tính đến ngày 1-10-2009, chặng đường đi được vừa tròn 60 năm: Từ một nước Trung Quốc với khoảng trên 500 triệu dân, ngày nay là 1,3 tỷ người; từ mức thu nhập theo đầu người hồi ấy (1-10-1949) là 60 USD, ngày nay là trên 2000 USD, từ một nước Trung Hoa lạc hậu và quanh năm thiếu đói, bây giờ trở thành công xưởng của thế giới khi bước vào thế kỷ 21.

Ngày nay, với nguồn nguyên liệu dồi dào từ khắp nơi trên trái đất này, Trung Quốc đứng đầu thế giới trong sản xuất xi-măng, sắt thép, nhôm và nhiều kim loại khác, là nước thứ hai xuất khẩu ô-tô sau Mỹ. Và theo tính toán của World Bank: có lẽ chỉ trong vòng vài năm tới Trung Quốc sẽ đẩy nền kinh tế Nhật xuống hàng thứ ba trên thế giới về quy mô GDP.

Bản thân Trung Quốc cũng đang ra sức thực hiện mục tiêu trở thành siêu cường vào năm 2050.

Nói gì về điều chưa xảy ra, thì sẽ tùy chất lượng tư duy mà điều nói ra ấy sẽ có thể là một dự báo tốt, hoặc có khi chỉ là một lời đoán mò. Tuy nhiên, nếu thấy Trung Quốc là nước rút ra nhanh nhất khỏi cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới hiện nay; thậm chí với tư cách là chủ nợ lớn nhất thế giới Trung Quốc là nước đang có lợi nhất trong cuộc khủng hoảng này, lại với tốc độ tăng trưởng rất cao và liên tục qua các năm. Hơn thế nữa, từ đầu thế kỷ này Trung Quốc đã trở thành cái “công xưởng thế giới”, hàng hóa rẻ của nó chẳng những “bắn thủng” (nói theo “Tuyên ngôn Cộng sản”) nhiều dinh lũy sản phẩm truyền thống của các nước tư bản phương Tây, mà còn chiếm cứ mảng lớn thị phần tại các quốc gia này và tại hầu hết các nước khác... Với cái đà này rất có thể Trung Quốc sẽ trở thành một siêu cường mới - nhất là trong tình hình Mỹ “đang xuống dốc”.

Con đường 60 năm vừa qua của Trung Quốc với những chiến tích làm cả thế giới kinh ngạc ấy bắt đầu từ cách mạng văn hóa, kinh qua bao nhiêu khúc quanh co như Thiên An Môn, Tây Tạng, Tân Cương.., với biết bao nhiêu cái giá phải trả khác chỉ có nhân dân Trung Quốc mới đánh giá hết được. Nếu ước mơ siêu cường của Trung Quốc trở thành hiện thực vào năm 2050, điều đó sẽ có nghĩa Trung Quốc đi con đường 200 năm của nước Mỹ trong vòng 100 năm! Một số sách báo tại các trung tâm nghiên cứu trên thế giới nói thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc, siêu cường Trung Quốc đang trở thành vấn đề của thế giới...

Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR – Bắc Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu trước giới học giả nước ngoài: “Mười năm qua Trung Quốc đã phát triển từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa – và nỗi lo của thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo...”[1]

Trong chuyến đi thăm Trung Quốc của đô đốc Mỹ Timothy Keating đầu năm nay, phía Trung Quốc đã trực tiếp nêu với phía Mỹ chia đôi Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ quản lý phần Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ từ Hawaii về phía Đông. Keating cho biết đã trả lời: “No, Thanks!”[2]

Bình luận trên báo Quân Giải phóng nhân (Trung Quốc) ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết: “...Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ... ... ...Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh lịch sử của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta.”[3]

Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương Tây...

Kết nối các điều vừa trình bầy thành một bức tranh tổng hợp, có thể kết luận: Ý kiến của giáo sư Thôi Lý Nhũ như đã nêu với học giả nước ngoài là thẳng thắn, mối lo của thế giới ngày nay đối với Trung Quốc thực sự đang gia tăng.

Trên thế giới ngày nay không ai có lý do gì để đối đầu với Trung Quốc, kể cả Mỹ. Cũng không một đầu óc tỉnh táo nào lại suy nghĩ là có thể chặn đứng con đường đi lên của Trung Quốc. Có thể khẳng định, xuất phát từ xu thế chung của thời đại, dư luận chủ đạo trên thế giới ngày nay mong muốn: Càng phát triển, Trung Quốc càng cần phải đảm đương phần trách nhiệm ngày càng lớn hơn của mình đối với hòa bình và an ninh của thế giới cũng như đối với tiến bộ và sự thịnh vượng chung của nhân loại. Thiện chí rộng rãi trên thế giới mong muốn đời sống ấm no hạnh phúc cùng với các quyền tự do dân chủ của nhân dân Trung Quốc cũng sẽ tăng theo cùng một nhịp với sự phát triển đầy ấn tượng của quốc gia đông dân nhất hành tinh này. Sẽ có một siêu cường Trung Quốc như vậy vào giữa thế kỷ này - hay ngược lại là một siêu cường đem lại nhiều nỗi lo hơn nữa cho cả thế giới?


*

...Việt Nam Trung Hoa... núi liền núi... sông liền sông... Có lẽ trên quả đất này không có một quốc gia nào như Việt Nam mong muốn đòi hỏi của dư luận chủ đạo cũng như thiện chí của thế giới đối với Trung Quốc như đã trình bày trong phần trên sẽ trở thành hiện thực!

Phải, còn ai mong muốn điều này hơn Việt Nam? Bởi lẽ, đứng sát cái “công xưởng thế giới” này Việt Nam đã đủ rát mặt vì “hơi nóng” của nó phả ra chung quanh – đến mức vào bất kể một cửa hàng tạp hóa ở hang cùng ngõ hẻm nào trên đất Việt Nam cũng đầy rẫy các sản phẩm Trung Quốc – có chất lượng hoặc kém chất lượng, kể từ cái cuốc, cái xẻng trở đi, đến thuốc diệt chuột... Khắp nông thôn và thành thị Việt Nam đầy rẫyy sắt thép, ô-tô, máy cày, máy kéo nhãn hiệu Trung Quốc... Rồi còn bao nhiêu chuyện khác nữa. Đấy là chưa nói Việt Nam rất cần quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác cho an ninh và sự phát triển của chính mình.

Quan hệ giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa kể từ ngày thiết lập cũng trải qua biết bao nhiêu thời kỳ thăng trầm, từ những khi “môi hở răng lạnh”, cho đến những đụng độ, chiến tranh đẫm máu. Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên ơn những giúp đỡ hào phóng, chí tình của nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam trên con đường giải phóng thống nhất đất nước, song cũng bao phen mất ăn mất ngủ vì biết bao nhiêu sự kiện trái chiều phía Trung Quốc gây ra trong quan hệ hai nước.

Có thể nói tóm tắt, mối quan hệ “cùng chiến hào” của hai nước đột ngột đổi chiều kể từ năm 1972 – vì quyền lợi quốc gia của hai nước đi theo hai đường khác chiều nhau: Hồi ấy Trung Quốc vì lợi ích của mình cần bình thường hóa quan hệ và hợp tác với Mỹ, còn Việt Nam thời ấy lại đang phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mãi tới 1989 quan hệ hai nước mới bắt đầu bình thường hóa trở lại. Thời kỳ 1972 – 1989 là thời kỳ quan hệ hai nước căng thẳng và đẫm máu nhất, với biết bao nhiêu sự kiện đã đi vào kí ức mọi người.

Phải nói quan hệ hai nước bình thường hóa trở lại như ngày nay và có những bước phát triển mới quan trọng, đó là nhờ sự nỗ lực rất to lớn của hai nước. Mong rằng đấy sẽ là xu hướng chủ đạo, xu hướng tiếp tục thắng thế của quan hệ hai nước trong tương lai. Việt Nam tôn trọng và đánh giá cao 16 chữ lãnh đạo Trung Quốc đã chủ động đưa ra như một tiêu chí cho xây dựng mối quan hệ Việt – Trung: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai".

16 chữ này cũng là mong muốn của phía Việt Nam, và có thể khẳng định phía Việt Nam đã kiên định làm hết mình và tự kiềm chế hết mình để xây dựng quan hệ hai nước theo tinh thần như thế. Trong tương lai cũng sẽ như vậy.

Có thể nói, kết quả đạt được cho đến nay trong xây dựng mối quan hệ giữa hai nước vì hòa bình, hợp tác hữu nghị, và cùng phát triển là rất to lớn và quan trọng. Song cho đến nay, phía Trung Quốc vẫn liên tiếp gây ra quá nhiều sự việc đi ngược với tinh thần 16 chữ - nóng bỏng nhất trong quan hệ hai nước hiện nay là những vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Đạo lý thông thường ở đời, nhân dịp kỷ niệm “sinh nhật” của người bạn láng giềng 1-10 này – nhất là trong trường hợp này là người bạn láng giềng khổng lồ, có nhiều mối quan hệ truyền thống văn hóa và lịch sử, không ai lại thô thiển đến mức đem những chuyện đau đầu ra trách móc nhau làm gì. Còn hơn thế, Việt Nam muốn nhân dịp này nói lên nguyện vọng sâu xa của mình là 16 chữ phải thực sự là mục tiêu mãi mãi, là thước đo cho quan hệ hai nước. Nói dối, hay vuốt ve nhau vào dịp này chỉ đầu độc quan hệ hai nước hoặc phản bội lại 16 chữ. Sự thật là còn nhiều vấn đề trọng đại do lịch sử để lại đang tác động sâu sắc đến quan hệ hai nước. Cũng là sự thật có sức thuyết phục không kém: sự tôn trọng lẫn nhau, lý trí và lẽ phải là những yếu tố quyết định trong nỗ lực của hai nước đã xây dựng nên những bước tiến bộ vừa qua trong quan hệ hai nước.

Nhân ngày 1-10, nhất là vào dịp 60 năm, nhân dân Việt nam mong muốn cả hai nước tiếp tục làm hết mình để cho sự tôn trọng lẫn nhau, lý trí và lẽ phải sẽ mang lại những nỗ lực mới, tăng thêm nghị lực sáng tạo mới trong việc giải quyết những vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ hai nước, thực hiện thành công 16 chữ nền tảng của quan hệ Việt – Trung. Một Trung Hoa theo tinh thần như thế, chắc chắn sẽ là một Trung Hoa vĩ đại lan tỏa ảnh hưởng xây dựng của mình đối với hòa bình, phát triển và phồn vinh của cả thế giới.

Tại phiên họp toàn thể lần 64 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 9 năm 2009, Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào tuyên bố:

“Tương lai của Trung Quốc gắn kết ngày càng chặt chẽ với tương lai của thế giới. Càng phát triển, Trung Quốc sẽ càng đóng góp lớn hơn cho thế giới và càng mang lại cho thế giới nhiều cơ hội. Chúng tôi cam kết lựa chọn con đường phát triển hòa bình và rộng mở với chiến lược thắng – thắng. Chúng tôi sẽ phát triển các mối quan hệ hữu nghị và sự hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở của năm nguyên tắc chung sống hòa bình. Trung Quốc sẽ luôn luôn là và tiếp tục là lực lượng tích cực của hòa bình và sự phát triển chung.”[4]

Là một công dân Việt Nam, nhân dịp ngày 1-10 này, tôi xin chúc nhân dân Trung Quốc sẽ xây dựng thành công một Trung Hoa vỹ đại và thế giới sẽ có một Trung Hoa như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã cam kết trong diễn văn nói trên.

Người Việt Nam chúng ta cũng phải tự nhắc nhở nhau: Muốn được bạn tôn trọng, trước hết chúng ta phải tự trọng, khiêm tốn và nỗ lực hết mình vươn ra khỏi tình trạng lạc hậu hiện nay. Không tự trọng, lực mỏng chí mềm, thì chẳng bao giờ được ai tôn trọng cả - lẽ sống trên đời khắc nghiệt là vậy.


Nguyễn Trung
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/8131/index.aspx