Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

Norman Bourlaug nhà khoa học xanh



DAYVAHOC. Norman Ernest Borlaug (sinh ngày 25 tháng 3 năm 1914, từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Texas) là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel và ông được gọi là cha đẻ của Cuộc cách mạng Xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn Nobel Peace Prize, Presidential Medal of Freedom, Congressional Gold Medal vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.

Norman Borlaug là tiến sĩ di truyền và bệnh cây của Trường Đại học Minnesota (University of Minnesota) năm 1942. Ông chuyên nghiên cứu chọn giống lúa mì tại Mexico và đã giới thiệu phát triển những giống lúa mì thấp cây, năng suất cao, kháng sâu bệnh nổi tiếng khắp thế giới.

Ông đã cống hiến suốt đời để cải thiện đời sống và thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo trên toàn cầu. Ông dành nhiều thời gian cho giảng dạy, nghiên cứu, làm việc tại CIMMYT, CIANO ở Mexico, Trường đại học Texas A&M University và Trung tâm chọn tạo giống cây trồng Center for Southern Crop Improvement ở Mỹ. Ông đã thực hiện nhiều dự án giúp đẩy mạnh sản xuất lương thực của nhiều nước ở châu Phi tại Benin, Burkina Faso, Ethiopia, Ghana, Guinea, Mali, Malawi, Mozambique, Nigeria, Tanzania và Uganda, ở châu Á tại Ấn Độ, Pakistan...; Ông là một trong những người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới (World Food Prize) và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực khác. Đây là Cuộc cách mạng thứ hai của ông thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.

Norman Ernest Borlaug nhà khoa học xanh là cây đời mãi mãi xanh tươi!

Kỹ niệm sâu đậm nhất của tôi đối với Thầy Norman Borlaug là ngày tôi được trò chuyện với Người gần trọn buổi chiều trong phòng riêng của tôi tại CIMMYT, Mexico năm 1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học "Quản lý Trung tâm/ Tram trại Nông nghiếp". Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày Cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy đã lặng người xúc động. Và, tôi thật không ngờ và cũng thật may mắn đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên cạnh Thầy, nhà bác học nông nghiệp bậc nhất của nước Mỹ và thế giới. Tôi đã kể cho Thầy nghe về “Tuổi thơ gian khổ” “Những ngày cầm súng” và “Khát vọng” trong các hoài bão và dự định của mình đối với chọn giống cây trồng, cải tiến kỹ thuật canh tác để nâng cao thu nhập và đời sống cho các hộ nông dân nghèo ở Việt Nam. Thầy lắng nghe và thỉnh thoảng góp ý, nhận xét. Tôi tâm đắc với Thầy về câu của Goethe - nhà bác học thiên tài người Đức: “Mọi lý thuyết đều màu xám và cây đời mãi mãi tươi xanh” và câu “An nhàn vô sự là tiên” trong "Sấm ký" của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tâm nguyện của Thầy nhà khoa học xanh, “Lời Thầy dạy” mãi mãi trong lòng tôi.


Tư liệu về GS.TS. Norman Borlaug

http://www.worldfoodprize.org/borlaug/borlaug-history.htm
http://www.worldfoodprize.org/borlaug/borlaug-CV.htm
http://www.worldfoodprize.org/borlaug/borlaug-links.htm
http://www.worldfoodprize.org/


Cha đẻ của cách mạng Xanh: "Hãy vươn tới các vì sao" (Mekong News)
Norman Bourlaug is the Greatest Living American (AgBioWorld)
Norman Borlaug, Agronomist Who Fought World Hunger, Dies (Technology Review)
Norman Borlaug: The man who fed the world (The wall street journal)
Norman Borlaug, scientist who 'saved 245m lives', dies aged 95 (Times Online)
Norman Borlaug, Plant Scientist Who Fought Famine, Dies at 95 (The NewYork Times)
Norman Bourlaug, 'Green' Scientist, Dies (Time)


Lời Thầy dặn

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm tiếng để đời.

Hoàng Kim
http://cayluongthuc.blogspot.com/2007/12/li-thy-dn.html

ƠN THẦY

...
Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng, hai sương trên những luống cày.
Trán tư lự cha thường tự hỏi
Phải dạy con mình như thế nào đây.

Cha mất sớm bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng Thầy thay bóng Cha xưa
Hiểu mảnh đất màu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ...

Hoàng Kim

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Gặp thầy bạn cũ cấp ba Bắc Quảng Trạch ở đất phương Nam

DAYVAHOC. "Ta gặp nhau từ lúc tóc còn xanh/ Nay tìm lại thì đầu đã bạc/ Để nhớ một thời cùng toàn dân đánh giặc/ Gian khổ chất chồng, mất mát đau thương.../ Bốn mươi năm thầy bạn tỏa muôn phương/ Nay ôn lại thầy trò thời chống Mỹ/ Trăm khuôn mặt anh chị nào cũng quý/ Bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung/ Nét đẹp quê hương Quảng Trạch anh hùng..." đó là lời Thầy Phạm Ngọc Căng cựu Hiệu trưởng Trường Cấp Ba Bắc Quảng Trạch cùng thầy Châu, thầy Thành vui gặp cựu học sinh của Trường tại đất phương Nam ... "Chúng tôi sà vào lòng Thầy mà trẻ lại". Bài viết xúc động của anh Đinh Đình Chiến cũng là tâm sự của tất cả chúng tôi...

MỜI GHÉ THĂM TRƯỜNG EM

Nhạc và lời: Quách Mộng Lân

Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em
Lớn lên trong những ngày vui đánh Mỹ
Trường của em theo tiếng gọi Bác Hồ
Lớp học là chiến trường, học sinh là chiến sĩ
Ôi mái trường đẹp xinh
Bao năm trường dạy ta khôn lớn
Có thầy có bạn ngày đêm chan chứa bao tình

Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em
Gió reo vui hát bài ca chiến thắng
Ruộng phì nhiêu năm tấn hạt thóc vàng
Sống vui với xóm làng Trường ta thêm gắn bó
Đây mái trường của ta
Bao năm trường day ta khôn lớn
Muôn hạt giống đỏ rồi đây
Đi khắp mọi miền dựng xây Tổ quốc.


VỀ QUẢNG TRẠCH
...
Sách giáo khoa anh chép mấy đêm thâu
Mà từng bản thấm mồ hôi trí tuệ
Đồ dạy học biến từ không thành có
Từ mảnh bom vỏ đạn quân thù

Có thầy giáo lội băng đồng đến lớp
Nỗi cảm thông thầm kín trong lòng
Vừa hôm qua đi bới hầm chữa cháy
Soạn xong bài vừa lúc hừng đông

Có thầy giáo cùng các em tâm sự
Cảnh nhà neo mẹ giặc giết hôm qua
Một lon gạo thấm tình người đồng chí
Một lời khuyên ấm tình bạn chan hoà

Có em học điểm năm chen cọc sổ
Chiều lại về làm cán bộ thông tin
Chòi phát thanh tiếng em vang xóm ngõ
Những chiến công lừng lẫy hai miền

Quảng Trạch ơi kể làm sao hết được
Những chiến công của những người con
Trên đất anh hùng hôm trước đạn bom
Mà sáng dậy vẫn cười vui đến lớp

Anh đứng đó mái trường tranh mới lợp
Trái tim sôi máu nóng hờn căm
Mười tám đôi mươi hay tuổi trăng rằm
Mang sức trẻ cùng toàn dân cứu nước

Quảng Trạch ơi đường vào đó bao xa
Cầu phá mấy chuyến phà anh nhỉ
Cho tôi gửi bài thơ tặng người đồng chí
Dưới mái trường xanh đang ươm những mầm hoa

Dưới mái trường tranh đang cứu nước cứu nhà

Võ Huy Cát
(Vĩnh Phúc)



LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI


Kính tặng Thầy Nguyễn Khoa Tịnh
cùng qúy Thầy Cô Trường cấp ba
Bắc Quảng Trạch, Quảng Bình


Thầy khoan thai bước lên bục giảng
Giờ học cuối cùng "Tổng kết sử Việt Nam"
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Vẫn có em nung nấu chí anh hùng?

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân

Mười năm
Thước đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Hẵn nhiều đêm rồi Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào giữa lòng Thầy xao xuyến
"Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay"

Mười năm
Con số thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có ngờ rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí muốn nối Ức Trai

"Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có"
Thầy không tự ví mình là Lưu Bị
Mong mỏi kiếm tìm Gia Cát Khổng Minh
Nhưng lòng Thầy cháy bỏng một niềm riêng
Khao khát người tài giúp dân giúp nước
Sông núi nước Nam khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này liệu giống Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay vận Hán
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

"Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng"

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
"Nung gan sắt để dời non lấp bể"
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẵn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, ...
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
"Em ơi em, can đảm bước chân lên!"
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Hoàng Kim
































Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

Người đi tìm đồng đội



DAYVAHOC. Anh Vũ Đức Ninh hiện công tác ở Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đồng Nai được nhiều người quý mến gọi tên là ‘người đi tìm đồng đội”. Anh nguyên là chiến sĩ trinh sát đoàn đặc công 113 miền Đông Nam Bộ.

Tôi ghé thăm anh chiều tối tháng Bảy trên đường ngang qua Biên Hòa sau khi đi thăm các thí nghiệm cây trồng cạn ở Bến Cát Bình Dương trở lại Trung tâm Hưng Lộc ở Trảng Bom, Đồng Nai. Tôi ghé chào anh vì đồng đội lâu ngày chưa gặp. Anh trước đây ở đại đội một, tiểu đoàn 23, đoàn đặc công 113 miền Đông Nam Bộ, đơn vị nổi tiếng anh hùng với những trận đánh huyền thoại quả cảm, xuất quỷ nhập thần. Anh cũng là đồng đôi của đại tá Lê Bá Ước, trung đoàn trưởng kiêm chính ủy trung đoàn 10 đặc công rừng Sác mà anh đã cùng ông và đoàn Đồng Nai được ra viếng lăng Bác và thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Viếng lăng Bác và dâng hương ở đài liệt sĩ



Đại tướng Lê Văn Dũng với anh Vũ Đức Ninh




Đại tướng Lê Văn Dũng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (nguyên Chính ủy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4) tiếp các đồng đội cũ

Anh Ninh và tôi quen nhau vì đều là lính nông nghiệp và đều đã trở thành người Đồng Nai. Tôi thì nhập ngũ tháng 9 năm 1971 cùng đợt với Nguyễn Văn Thạc khi trận lụt lớn xẩy ra ở các tỉnh phía Bắc. Đồng đội cũ của tôi trong tổ bốn người sau chỉ còn Trung và tôi. Anh Xuân và anh Chương đã hi sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972. Tôi sau này làm đại đội trưởng “cán bộ khung” của tiểu đoàn 497, trung đoàn 568 chuyên huấn luyện tiểu đội trưởng cho chiến trường , trước khi chuyển ngành có gần hai năm làm trợ lý tổng hợp của phòng tham mưu sư đoàn 325 và có trên 27 năm gắn bó với đồng ruộng Đồng Nai

Gặp nhau, anh cuốn ngay tôi vào chủ đề đi tìm đồng đội. Đó là quá trình giúp thân nhân đồng đội tìm kiếm, quy tập và xác minh danh tính những người đã khuất. Điều này thật công phu cần những tấm lòng. Anh Ninh đã sốt sắng, kiên trì, tận tâm nhiều năm. phối hợp thầm lặng với các đơn vị và gia đình, Sở Thương binh Lao động Xã hội của các tỉnh thành. Anh tiếp nhận và trao đổi thông tin với nhiều người. Qua đồng đội của những người đã khuất để xác minh họ là ai, quê ở đâu, hi sinh trong hoàn cảnh nào, ngày tháng năm nào, mộ chí danh tính đã được quy tập và xác minh hay chưa…

Danh sách liệt sĩ trung đoàn 113 đặc công miền Đông Nam Bộ lưu tại phòng chính sách, cục chính trị Quân khu 7 hiện vẫn chưa kết thúc. Tượng đài, nhà bia tưởng niệm đã khánh thành khang trang nhưng sự quy tập liệt sĩ và xác minh danh tính vẫn chưa xong. Đó là điều trăn trở lớn. Chiến tranh đã kết thức 34 năm. Gặp anh - người đi tìm đồng đội – nghĩ về việc anh làm, tôi xúc động mà thầm ứa nước mắt !

Anh Chu Văn Tốt, nguyên trinh sát D23 Trung đoàn 113 đặc công, trực tiếp tham gia chốt chặn ở cầU Hang, địa chỉ hiện nay khu 1, phường Trưng Vương, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã gửi vào Đồng Nai bài thơ:

TRƯỚC NGÀY TOÀN THẮNG
CÁC ANH NẰM LẠI ĐẤT BIÊN HÒA


Chiến dịch Hồ Chí Minh
Theo lệnh cấp trên:
Vì thời cơ trăm năm của toàn dân tộc
Mục tiêu gồm cầu Ghềnh, cầu Mới, Hóa An
Trận địa chính chốt chặn cầu Hang.

Là lính đặc công
Chuyên đánh đồn tập kích
Đơn vị tôi được giao chốt chặn
Chẳng mũi tiến công- cũng không hỏa lực
Thời gian thì quá gấp
Công sự chưa xong, chẳng có hầm hào
... thì bước vào trận đánh
Cối, pháo, trực thăng, xe tăng quần thảo
Trận địa mịt mù, xơ xác, tan hoang
Cứ mỗi giờ quân số lại vơi dần
Nhưng tất cả vẫn một lòng
Quyết kiên cường bám trụ

Qua hai ngày thôi mà đau xót quá !
Ngày 30 tháng Tư các anh không còn nữa
Đơn vị chỉ còn lại một phần tư
Gần sáu mươi đồng đội của tôi không về quê nữa
Đã nằm lại nơi này mãnh đất Đồng Nai

Ôi đồng đội của chúng tôi
Các anh không còn nữa
Hỡi anh Cư, anh Chữ, anh Vỗ, anh Tuân...
cùng tất cả các anh

Vì đường sá xa xôi
Hơn ba mươi năm rồi chưa thể ghé thăm
Chỉ cầu mong các anh linh hồn được siêu thoát
Xin bà con, anh em, đồng đội
Nếu đến Nghĩa Trang Liệt Sĩ Biên Hòa
Hãy thắp giùm chúng tôi nén hương tưởng nhớ.