Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

Nỗi niềm Biển Đông


Nguyên Ngọc

DAYVAHOC. Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai.” Thật ngắn gọn, thật súc tich, vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai – những suy nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng bỏng, cấp thiết hơn.

Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật hẹp phía bắc và tây bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, "thảm đảm kinh dinh để giành quyền sống với vạn vật" – mấy chữ mới thống thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác, khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa, một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho từng con người, từng đôi lứa, từng gia đình, rồi từng cộng đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện, …cho đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại còn phải cọng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt, không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế lực hung hản, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả …

Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.

Chặng thứ hai, như cụ Đào Duy Anh đã đúc kết cũng thật ngắn gọn và chính các, "gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai".

Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy nhất: Về Nam.

Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà Tiên thì không thể nào bắc cự. Ở bước đường chiến lược này của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh Lê Lý Trần Lê, và cả cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1000 năm bắc thuộc bằng trận đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về phương nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, nam sông Thu Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương bắc như thế nào.

Khía cạnh thứ hai, vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa là một "bước tiến thủ" mới "mở rộng hy vọng cho tương lai", như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về Nam là phát triển. Là mở.

Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm đảm kinh dinh để giành dật sự sống với vạn vật còn quá vật vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống đất, giành thêm được một mẩu đất là thêm được một mẩu sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đảng để không chỉ nhìn xa mãi về nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian sinh tồn và phát triển mới mệnh mông của mình.

Hôm nay tôi được ban tổ chức tọa đàm giao cho đề tài có tên là "nổi niềm Biển Đông". Tôi xin nói rằng chính bằng việc đi về nam, trên con đường đi ngày càng xa về nam mà trong tâm tình Việt đã có được nổi niềm biển, nổi niềm Biển Đông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, với nổi niềm biển ngày càng thấm sâu trong máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các hải đảo và thểm lục địa.

Nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/BienDong_NguyenNgoc.htm

TỪ TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TỚI SONG TỬ TÂY

LM Thiện Cầm

Tôi mới chỉ đi được mấy Km trên đường Hồ Chí Minh, khi từ Đà Nẵng về Kon Tum, thậm chí cũng không biết nơi đó thuộc Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây,- mà chỉ nghĩ đó là Trường Sơn Đông, vì năm bên phía Tây của dãy Trương Sơn. Tuy nhiên điều đó không quan trọng, vì dù sao tôi cũng đã từng đặt chân ở Trường Sơn Tây, cho nên khi đi từ cảng Cát Lái ra quần đảo Trường Sa, đặc biết là lúc đặt chân lên đảo Song Tử Tây, tôi mới ý thức được rằng mình thật hãnh diện vì đã cảm nghiệm được một cách sống động hiện hữu của đất trời và biển cả Việt Nam : thật bao la xinh đẹp và đáng yêu!

Thật vậy, từ trước tới nay, tôi đã co dịp đặt chân lên nhiều bở biển Việt Nam, từ Hạ Long qua Thuận An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, tới Đại Lãnh, Nha Trang, Khánh Hoà, rồi Phan Rang, Mũi Né, Vũng Tầu vv. , cho tới tận Mũi Cà Mau, nhưng từ những bờ biển đó, tôi vẫn chưa có được một cái nhìn về chiều rộng mênh mông, bát ngát của biển trời Việt Nam. Phải đi ba ngày hai đêm, qua vùng biển,- đôi khi không thấy một bóng chim bay hay cá lượn, hoặc một con tầu nào ở đàng xa, mà chỉ có mặt biển mênh mông bát ngát hầu như vô tận,- ta mới có cảm tưởng rằng tổ quốc ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả vô biên. Và khi đặt chân lên hòn đảo nhỏ bé xanh tươi có tên gọi là Song Tử Tây, ta mới ý thức được rằng: Trường Sơn Đông và Song Tử Tây của quần đảo Trường Sa này, cũng chỉ là một giang sơn, một tổ quốc Việt Nam .

Như tôi đã viết trong bài “Trường Sa trong trái tim ta”, đăng trên Tuần báo CG&DT : “Nhận thức đầu tiên của tôi từ lúc bước chân lên tàu HQ 957, rời bến cảng Cát Lái lúc 8 giớ ngày 8-4-2009, chạy theo hướng Vũng Tàu, và tiến thẳng ra biển khới, đó là: bầu trời và biển khơi mênh mông hấu như vô tận, mà từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ là của chung thiên hạ,- nhất là xưa kia, người ta vẫn gọi là Mer de Chine: Biển Trung Quốc! [1] chứ không phải là Biển Việt Nam, hay ít ra là Biển Đông hay Thái Bình Dương!- Nhưng bây giờ thì đã rõ, đây là Trời Việt Nam, đây là Biển Việt Nam, bởi vì vùng biển trời mênh mông này sẽ nối dài tới tận Trường Sa, quần đảo mà chúng tôi đang đi tới. “

Tôi đã kể lại chi tiết cuộc viếng thăm Trường Sa, trong bài báo nói trên, ở đây chỉ xin ghi lại những cảm tưởng vẫn còn lắng sâu trong tâm trí.

Trước hết, nên nhớ rằng huyện đảo Trướng Sa là một quần đảo gồm nhiều đảo lớn nhỏ, mà hiện nay phần lớn năm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam, còn nhựng đảo khác do Phi-lưật-tân, Đài Loan, Trung Quốc vv. kiểm soát. Gọi là đảo, nhưng phần lớn chỉ là những bãi đá ngầm. Trong số những đảo có đất, chúng ta làm chủ được Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, và Trường Sa lớn, nơi đặt trụ sở của huyện đảo. Trên những đảo lớn như Song Tử Tây, Sơn Ca và Trường Sa lớn, nhà cửa được xây kiên cố, khang trang, toàn đảo được che phủ bởi những hàng cây xanh tươi, đặc biệt là những cây Phong Ba, chịu được khô cằn và sóng gió, ngoài ra còn có những cây bàng với những tán lá dầy và rộng, chỉ cần ba cây là có thể tạo ra được một không gian bóng màt rộng rãi. Đặc biệt là ở Sinh Tồn Đông, có loại bàng trái cây vuông, trông lạ mắt. Ông Chủ tịch UBND Thành phố đã lấy một cây về để trồng ở khu tưởng niệm các Vua Hùng tại Thảnh phố.

Những đảo nhỏ chỉ là những bãi đá ngầm, nổi lên khi thủy triều xuống, chìm xuống khi thủy triều lên. Bộ đội Hải quân ta xây những lô cốt kiên cố làm nơi đóng quân. Trước kia chỉ là những cái chòi được dựng lên, bây giờ là những “nhà lô cốt” vững chắc, đẹp đẽ. Điều thú vị nhầt là đâu đâu cũng có những “vườn” rau, giàn bí, hay giàn mướp, tuy nhỏ những vẫn có trái. Tại những đảo có đất, thì anh em bộ đội dựng những rào chắn bằng vật liệu như lá dừa, để chắn sóng biển, bảo vệ cho rau. Còn ở những nhà lô cốt thì “vườn” rau chỉ là những khay gỗ được đặt ở những vị trí đặc biệt tránh bão gió. Nhưng tôi tự hỏi, ở những “nhà lô cốt” này, mỗi khi hái rau, thì anh em chiến sĩ mỗi người chia nhau được mấy cọng rau muống?

Tôi cũng nghe mấy em bé, con cái những gia đình định cư trên đảo Song Tử Tây và Trường Sa lớn, phàn nàn về chuyện quanh năm suốt tháng chỉ được ăn đồ hộp.

Chính vì thế, trong chuyến đi này, chuẩn Đô đốc Lê Văn Đạo đã ra chỉ thị phải tăng cường những loại thực phẩm như trứng và sữa cho trẻ con.

Nhưng vấn đề thức ăn vật chất không quan trọng bằng thức ăn tinh thần. Các chiến sĩ và bà con ở đảo thiếu những phương tiện giải trí, thiếu cả một khung cảnh sống bình thường trên đất liền! Không một bóng xe đạp, nói gì đến ô tô hay Honda, cũng không chợ búa, và ở đây người ta không biết cả đến đồng tiền! Không bóng người người cảnh sát, cũng chằng có người bán hàng rong, hay em bé đánh giầy… Đêm ngày yên tĩnh, không tiếng còi ô tô xe máy. Nhiều nơi không có lấy một con chim sẻ đậu dưới mái hiên hay, nhặt nhạnh trước sân nhà…

Tại những “nhà lô cốt” không gian thật eo hẹp. Các chiến sĩ của ta chỉ có mấy mét vuông để ở, ngoài ra có thể leo lên những tầng trên, chạy xuống những tấng dưới, hay xuống tận những mô đá trên mặt nước biển. Không một bãi cát, hay bóng cây. Ở đây không nghe thấy tiếng cười hay tiếng khóc của trẻ thơ, cũng chẳng thấy bóng dáng một người phụ nữ! Thảo nào các chiến sĩ trẻ hải quân ở đây chỉ dần được nghe tiếng phụ nữ là đã đủ vui sướng rồi. Có những em bộ đội tuổi mới chỉ mười tám đôi mươi, tuy xa nhà chưa bao lâu, mới tám tháng, một năm hơn kém, chưa thể nào quên được hình dáng của mẹ, của chị, của em gái, chứ chưa nói tới bạn gái hay người yêu.

Thế giới ở đây có lẽ thích hợp cho các thầy ẩn tu hơn là cho thanh niên, cho dù là bộ đội.

Cô đơn, buồn tẻ, nhưng người chiến sĩ hải quân ở đây không phải là những thanh niên yếu đuối mơ mộng. Họ vẫn là những chiến sĩ, ngày ngày, có thể nói là từng giờ từng phút, luôn luôn phải cảnh giác trước đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa đen, nghĩa là gió trời và sóng biển, mà là những đe doạ có thật, từ những con tầu, những máy bay lạ có thể xâm phạm bầu trời và lãnh hải Việt Nam. Họ phải đếm từng chiếc máy bay xuầt hiện, những con tầu đi qua, cố gắng đọc những ký hiệu để biết nó thuộc quốc gia nào. Đã không thiếu những lần tầu lạ, hay có khi là tầu của một nước “đồng chí nhưng không phải đồng minh”, tìm cách đi vào hải phận của đảo ta, cùng với những tầu đánh cá cùng quốc tịch, khiến chiến sĩ và ngư dân của ta phải tiến ra ngăn cản. Có những chiến sĩ kể lại rằng anh đã phải nghiến răng kìm hãm mình để không bòp cò súng! Lại có cả những người mò tới những mỏm đá dưới chân “nhà lô cốt” để goị là bắt ốc, nhưng đuổi không đi, mà phải dọa bằng vũ lực…

Đất nước ta đã được hoà bình, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ những biên giới phía Bắc cho tới mũi Cà Mau, được yên ổn làm ăn sinh sống. Nhưng ờ ngoài khơi xa xôi này, miền cực Đông của Tổ quốc, nơi mà mặt trời từ dưới biển mọc lên soi sáng cho bầu trời Việt Nam, lúc nào cũng có những chiến sĩ canh thức để canh giữ vùng biển trời của đất nước ta. Các chiến sĩ ấy vẫn không ngừng ngày đêm phải sẵn sàng chiến đấu, rất xa đất liền, xa đồng bào, không có hậu phương gần để tiếp cứu, hỗ trợ!

Chúng ta có thể không biết, hay đã quên đi trận chiến đẫm máu xảy ra ngày 4 tháng 3 năm 1988, khi hải quân Trung Quốc đã tấn công đảo Gạc Ma của ta, đánh chìm tàu HQ 604 của ta, khiến 64 chiến sĩ hải quân ta phải hy sinh, và mãi tới năm nay, sau 21 năm trời, nhờ sự cộng tác của các ngư dân, Hải quân ta mới trục vớt được con tàu xấu số và một số hài cốt của các anh hùng nằm sâu dưới đáy biển, nhưng mới chỉ nhận dạng được một số chiến sĩ mà thôi, nhờ kỹ thuật AND.

Kể từ ngày 14 tháng 3 năm 1988 ấy, ngày nay, mỗi khi có phái đoàn đi thăm Trường Sa, thường cò tổ chức một lể truy điệu ngoài khơi đảo Pôlin, để tưởng niệm 64 chiến sĩ trận vong. Phái đoàn của Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm đảo lần này cũng đã tổ chức long trọng buổi lễ cầu siêu như vậy. Và tôi được vinh dự cùng với các vị lãnh đạo phái đoàn, thả vòng hoa đầu tiên xuống biển để tưởng nhớ các liệt sĩ.

Trong buổi lễ truy điệu rất trang nghiêm cảm động, chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, Phó`Tư lênh Quân chủng Hải Quân, đã đọc một bài diễn văn thật hùng hồn cảm xúc, khiến nhiều người không cầm được mắt. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên được dự một lễ truy điệu như thế này, mà lại là một lễ được cử hành giữa biển khơi mênh mông dưới bầu trời vô biên của Việt Nam. Thật là một kỷ niệm tuyệt vời, khó quên!

Điểm đến cuối cùng của chúng tôi là đảo Trường Sa lớn, thủ phủ của quần đảo Trường sa, có diện tích lớn nhất, và cũng là nơi duy nhất có bến cảng và một đường bay nhỏ. Đây cũng là đảo đầu tiên được thắp sáng bằng điện năng lượng mặt trời và sức gió, do trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh chế tạo và lắp đặt, tặng cho các chiến sĩ và đồng bào trên đảo. Các đảo khác cũng sẽ lần lần được lắp đặt hệ thống chiếu sáng như vậy.

Trong cuộc hành trình thăm quần đảo Trường Sa, mỗi lẫn tới đảo nào, chúng cũng cố gắng llên bờ thăm các chiến sĩ, nếu không phải tất cả đoàn, thi ít ra là đoàn văn công. Chúng tôi lên để gặp gỡ, tặng quà, giao lưu văn nghệ, thăm nơi an chốn ở, nghe báo cáo về sinh hoạt hàng ngày của các chiến sĩ. Riêng tại đảo Song Tử Tây, đảo đầu tiên mà chúng tôi đặt chân lên bờ, chúng tôi đã ở lại một đêm và một ngày, tiếp xúc với bộ đội và đồng bào. Còn ở đảo Trường Sa lớn, chúng tôi chỉ ở đến 21 giớ đếm thì về tầu, lý do là vì ở đây có bến tầu, không cần đến ca nô làm phương tiện trung chuyển vào bờ như ở những đảo khác.


Trên đây là một vài kỷ niệm và suy tư về cuộc hành trình, mà tôi được may mắn tham dự cùng với phái đoàn của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đi thăm và kiểm tra quần đảo Trường Sa, từ ngày 4 đến 15 thàng 4 năm 2009..

Đây là một chuyến đi lịch sử đối với phần đông chúng tôi, một chuyến đi mà như nhiều người đã nói : dù có tiền cũng không dễ đàng thực hiện được, nhất là đối với cá nhân tôi, một linh mục già 76 tuổi.

Chuyến đi này đã đã mở rộng tầm mắt và cả trái tim tôi, khiến tôi cảm nhận được mạnh mẽ và cụ thể vùng trời biển bao la hùng vĩ của đất nước. Không hiểu tại sao, tôi tự nhiên liên tưởng tới Trường Sơn, và nghĩ rằng : đất nước ta trải rộng từ Trường Sơn Đông tới Song Tử Tây, tứ Trường Sơn Tây tới Sinh Tồn Đông,- nói tóm lại, đất nườc ta không chỉ dừng lại ở bở biển Thái bình dương, tại những bờ biển đẹp như Nha Trang, Cam Ranh hay Vũng Tàu vv., mà còn trải rộng ra xa tới Trường Sa, tới điểm xa nhất cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 500 hải lý, đó là Song Tử Tây. Ở tận địa điểm xa xôi này, ngày đêm vẫn có những người Việt Nam làm ăn sinh sống và canh giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mình. Ở đây không chỉ có những người lính can trường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mà còn có những gia đình thường dân tới đây lập nghiệp. Chúng tôi đã gặp gỡ nhừng cặp vợ chồng trẻ với những đứa con thơ của họ. Và như đã nói nơi đây sắp có hai em bé sắp sửa cháo đời, để trờ thành những công dân Việt Nam sinh ra trên đảo, Còn những em lớn thì đã biết ngày ngày cắp sách đến trường, nơi chỉ có một cô giáo dạy tất cả mọi môn. Nhưng sau này, các em sẽ được đưa vào đất liền để tiếp tực học lên những lớp cao hơn.

Ở đây, dân và quân đang biến những vùng đất khô cằn sỏi đá này thành những rừng cây xanh tươi, với những luống rau và đàn gà đàn vịt chạy tung tăng, và cả những con heo ủn ỉn đòi ăn trong chuồng. Nếu không nhìn nhìn thấy dòng nước xanh bao bọc chung quanh, người lữ hành vượt biển có cảm tưởng như mình vẫn ở đâu đây trên đất liền.

Tôi lên tàu chỉ với con tim nhỏ bé của mình, chẳng có gì tặng cho các chiến sĩ Truờng Sa, ngoài những món quà mà Đoàn công tác mang tới. Nhưng khi ra về, tôi cảm thấy trái tim mình lớn lên và nặng trĩu tình cảm thân thương, tình cảm của những người lính đảo, của người dân, và nhất là của những em bé thơ ngây. Tình cảm ấy cho dù không lớn lao và mênh mông như trời biển, nhưng vẫn đủ để tạo ra một nhịp cầu liên kết Trường Sa với đất liền.

Trường Sa là những hòn đảo nhỏ bé, không thể có những địa danh như Chi Lăng, Bạch Đằng, Điện Biên, Khe Sanh, hay Ngã Ba Đồng Lộc vv., nhưng nơi đây xương các chiến sĩ đã kết lại với san hô và đá chìm, làm thành nền tảng cho những cột mốc, đánh dấu chủ quyền của Việt Nam dưới bầu trời và vùng biển này của Biển Đông. Vá máu của các chiến sĩ đã hoà vào nước biển để ướp cho tình quân dân được mặn mà thắm thiết, và vững bền mãi mãi.

Những địa danh lịch sử thì đã mãi mãi được ghi tên trong sách vở của cả thế giới. Tất cả đã trở thành quá khứ. Nhưng Trường Sa vẫn ngày ngày phải đối diện với đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa của những hiện tượng thiên nhiên, mà còn theo nghĩa là những đe doạ luôn luôn có thật, đến từ những lực lượng thù nghịch.

Con tàu HQ 957 đưa chúng tôi trở về Thành Phố, trên mặt nước trong xanh phẳng lặng, Những con cá heo lại xuất hiện bên hông tàu, nhảy múa tiễn biệt chúng tôi. Và thật tuyệt với khi chúng tôi đi tới vùng mỏ Rạng Đông, nơi cò những giàn khoan sáng rực như một thành phố trên biển, hiện ra trước mắt chúng tôi, với cả hàng mấy chục thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam vây quanh chúng tôi.

Tổ quốc chúng ta là đây, là trời này, đất này, là những giếng dầu, tàu đánh cá, và những hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Tuần Châu, Phú Qúy, vv. và nhất là Trường Sa vẫn ngày đêm phải thức trắng trong những đêm dài cô quạnh, để canh giữ vùng biển và bầu trời của Việt Nam.

Trong tâm trí của tôi từ nay hình ảnh Trường Sa, và Hoàng Sa nữa, tuy tôi chưa được nhìn thấy, thật là những mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là nơi mọc trời mọc, Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi mặt trời lặn. Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi tổ tiên ta đi săn bắn, hái trái cây rừng và nhặt củi để về thổi nấu, Hoàng Sa và Trường Sa là nơi cha ông ta từ bao đời chèo thuyền ra bắt cá. Quê hương ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả nữa.

19-07-2009

Linh mục Thiện Cầm OP


GIỚI THIỆU MỘT SỐ BẢN ĐỒ CỔ THỀM LỤC ĐỊA VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

Nguyễn Đình Đầu

Để tìm hiểu địa lý tự nhiên thềm lục địa (vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, vịnh Thái Lan) và hải đảo Việt Nam, chúng tôi đã thu thập được một số bản đồ và tư liệu văn bản sau đây (tất nhiên chưa thật đầy đủ).

I. THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN (1600 - 1777).

Trong sách Hồng Đức bản đồ có ba bản đồ có liên quan đến thềm lục địa và hải đảo:

1. An Nam quốc có ba bản đồ vẽ toàn thể lãnh thổ Đại Việt và cuối thời Hồng Đức, 13 bản đồ của 13 Thừa Tuyên và 1 bản đồ Trung Đô.

2. Thiên Nam Tứ Chí Lô Đồ Thư gồm nhiều bản đồ, trong đó có những bản đồ vẽ đường lối đi từ Thăng Long đến nước Chiêm Thành.

3. Bình Nam Đồ do Đoan quận công Bùi Thế Đạt (không phải Nguyễn Hoàng) vẽ đường lối đi từ Chiêm Thành đến biên giới Cao Miên (1).

Những bản đồ nêu trên chưa mô tả đầy đủ thềm lục địa và các cửa bể toàn quốc vì đây là những bản đồ thực hiện trong giai đoạn lãnh thổ nước ta đang thời kỳ Nam tiến. Tuy nhiên, đã có những chi tiết của bản đồ xác định chính quyền và nhân dân ta đã khai thác và làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những văn kiện có tính pháp lý của Lê Quý Đôn (1726-1784), Phan Huy Chú (1782-1840),vv…cũng xác quyết như thế.

Trong sách Phủ biên tạp lục (1777), Lê Quý Đôn viết: “Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển. Về hướng Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh… ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng, chiều dài ước chừng hơn 30 dặm…những thuyền lớn đi biển thường khi gặp gió bão đều đến nương đậu ở đảo này. Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh bổ sung…họ Nguyễn còn thiết lập thêm 1 đội Bắc Hải…quan trên khiến những người trong đội chèo thuyền…ra cù lao Côn Lôn ở giữa Bắc Hải, hoặc đi đến các xứ Cồn Tự vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi…Cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải…”(2).

II. DƯỚI TRIỀU NGUYỄN THỐNG NHẤT SƠN HÀ (1802-1862)

Đầu năm 1815, sử Thực Lục ghi: Gia Long “sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” (3).

Đầu tháng 6 năm Đinh Sửu (1817), sử Thực Lục ghi: “thuyền Ma Cao đến đậu ở cửa Đà Nẵng, đem địa đồ Hoàng Sa dâng lên. (Gia Long) thưởng cho 20 lạng bạc” (4).

Cuối tháng 6 năm Đinh Sửu (1817), Gia Long “sai bọn Hữu tham chi bộ Công Nguyễn Đức Huyên và Tả tham chi Đoàn Viết Nguyên làm sách Duyên Hải Lục, phía Nam đến Hà Tiên phía Bắc đến Yên Quảng. Phàm các cửa biển, mực nước khi triều lên triều xuống sâu nông thế nào, dặm đường xa gần bao nhiêu, đều phải chép cả. (Bộ sách ấy gồm 2 quyển, chép cả thảy 4 dinh, 15 trấn, 143 cửa biển, dài 5902 dặm, mỗi dặm là 540 trượng)” (5).

Chúng tôi đi tìm sách Duyên Hải Lục, không thấy. Nhưng lại thấy sách Thông Quốc Duyên Cách Hải Chử có nội dung y như sách Duyên Hải Lục, kèm theo các bản đồ duyên hải từ Thừa Thiên đến Hà Tiên. Có lẽ đây là tư liệu đầy đủ nhất mô tả thềm lục địa của ta xưa từ Yên Quảng cực bắc đến Hà Tiên cực nam. Sách Thông Quốc Duyên Cách Hải Chử được thư viện Viện Khảo Cổ Sài Gòn cũ nay là thư viện Khoa học Xã hội (Lý Tự Trọng, Quận 1, TP. HCM) bảo quản dưới mã số HVN 190.

Tháng 8 năm Quý Tỵ (1833) sử Thực Lục ghi: Vua Minh Mạng “bảo bộ Công rằng: trong hải phận Quảng Ngãi, có 1 dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại! Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là 1 việc lợi muôn đời” (6).

Tháng 3 năm Giáp Ngọ (1834), sử Thực Lục ghi: Minh Mạng “sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy, Sĩ tâu: nơi này là bãi cát giữa bể man mác không bờ, chỉ có người nhà Thanh đi lại đánh cá bắt chim mà thôi…nhân đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò, ngao, đã bắt được ở nơi đó đều là những vật lạ ít thấy. Vua vời thị thần đến xem và thưởng những người đi về tiền bạc có khác nhau” (7).

Tháng 6 năm Ất Mùi (1835), sử Thực Lục ghi “dựng đền ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ Vạn Lý Ba Bình (muôn dặm sóng êm). Cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ Đông Tây Nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía Bắc giáp với cồn toàn đá san hô sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái, vua (Minh Mạng) toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thuỷ quan là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyển chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miều cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong, 10 ngày làm xong rồi về” (8).

Hai bản đồ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ (Taberd 1838) và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1840) thể hiện khá đầy đủ tình hình thềm lục địa – Biển Đông – hải đảo Việt Nam đương thời.

III. DƯỚI THỜI PHÁP THỐNG TRỊ (1862-1945).

Năm 1859, Pháp xâm chiếm Sài Gòn. Năm 1862, Pháp lấy miền đông Nam Kỳ làm thuộc địa. Năm 1867, Pháp cưỡng chiếm miên tây Nam Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa Pháp. Năm 1884, Pháp cưỡng ép phần còn lại (sau là Trung Kỳ và Bắc Kỳ) làm xứ bảo hộ của Pháp. Pháp bắt đầu vẽ bản đồ Việt Nam theo kỹ thuật khoa học hơn cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến.

Về phần bờ biển – thềm lục địa – Biển Đông – vịnh Bắc Kỳ - vịnh Xiêm La (Thái Lan) – hải đảo hầu như Pháp trao nhiệm vụ cho hải quân Pháp đo đạc và thực hiện các đồ bản. Chúng tôi sưu tầm được một số bản đồ xin tạm chia thành 3 khu vực: 1) Hoàng Sa, Trường Sa, 2) Một số hải đảo, 3) Bờ biển và thềm lục địa.

1. Hoàng Sa Trường Sa

a. Quần đảo Hoàng Sa (52 x 66cm). Archipel des Paracels d’après les levés allemands (1881-1883) et les travaux anglais et francais les plus récents. – Service hydrographique de la Marine. Paris 1885. – Mars 1940. Edition No.3.

b. Một phần quần đảo Trường Sa (42-45 cm). Iles et récifs à l’est de la Cochinchine. Paris 1938. – Iles et récifs Thitu, Loai ta et Subi d’après un levé anglais de 1867-1868.

c. Chi tiết hai đảo Pattle (Hoàng Sa) và Boisée (Phú Lâm) thuộc quần đảo Hoàng Sa (30 x 42cm).

d. Trong quần đảo Hoàng Sa: đảo Pattle (Hoàng Sa), đảo Robert (Hữu Nhật), đảo Boisée (Phú Lâm).

đ. Trong quần đảo Trường Sa I: Đảo Caye du S.W. (Song Tử Tây) đảo Caye de l’Alerte (Song Tử Đông), đảo Thi Tu (Thị Tứ), đảo Loai Ta (Loại Ta).

e. Trong quần đảo Trường Sa II: đảo Tempête ( ), đảo Itu Aba (Ba Bình), đảo Petley, đảo Namvit (Nam Yết), đảo Cay d’Amboine, đảo Eldad.

2. Bản đồ cỡ 54 x 75 cm bờ biển và hải đảo.

a. 2311. Golfe de Siam. Dépôt des cartes et plans de la Marine. Paris 1866. – Baie et rivière de Chantaboun. – Poulo Way ou Co Kwang Noi. – Poulo Panjang. – Poulo Obi. – Edition d’Octobre 1922.

b. 5653. Baie et bassin intérieur de Hatien. Carte levée en Mars 1924. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1926. Remplacement Juillet 1956.

c. 3686. Plan des Iles Pirates. Levé en 1877. Dépôt des cartes et plans de la Marine. Paris – 1879. – Hòn Kiến Vàng. – Hòn Kéo Ngựa. – Hòn Túc Lớn. – Hòn Tre Vinh.- Hòn Gùi. – Hòn Bánh Ít. – Hòn Chơ Rơ. – Hòn Đước. – Hòn Giong. – Hòn Ụ.

d. 5327. Côte du sud de Phú Quốc. Iles d’An Thới. Plan levé en 1903. – Service hydrographique de le Marine – 1906. – Juillet 1958. Edition No.2. – Hòn Dám Trong. – Hòn Dám Ngoài. – Hòn Dưa. – Hòn Giói. – Hòn Thơm. – Hòn Vang. – Hòn Xương. – Hòn Mong Thay. – Hòn Gam Ghi. – Hòn Vong. – Hòn Kim Qui. – Hòn May Rút. – Hòn Trang.

đ. 5509. Du cap Padaran à la baie de Cam Ranh. Carte levée de 1907 à 1930…Service hydrographique de la Marine. Paris – 1915. – Mars 1933. Edition No.2.

e. 5563 Baie de Nha Trang d’après le levé exécuté en 1931… Service hydrographique de la Marine… Paris.1920. Remplacement Janvier 1936.

g. 5447. Port de Tourane. Plan levé en 1908. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1912. Juin 1956. Edition No.6.

h. 5778. Du Lach Truong au Cua Ba Lat d’après les levés exécutés en 1929 et 1930. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1934.

i. 3752. Sông Cầu et du Thuong Giang. Levé en Avril 1877 et Octobre 1878. Dépôt des cartes et plans de la Marine – 1880. Remplacement Février 1935.

3. Bản đồ cỡ 74x104cm. Thềm lục địa và Biển Đông.

a. 5599 – Golfe du Tonkin et détroit d’Hainan (vịnh Bắc Kỳ và eo biển Hải Nam) d’après les documents francais et anglais les plus récents. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1926. Juin 1947. Edition No.3. Bản đồ này vẽ thềm lục địa Bắc Kỳ và phần Bắc Biển Đông ra ngoài khơi tới đảo Triton thuộc quần đảo Hoàng Sa.

b. 5691- Annam et Cochinchine (Trung Kỳ và Nam Kỳ) d’après les documents francais et anglais les plus récents – Service hydrographique de la Marine. Paris – 1932. Novembre 1945. Edition No.3. Bản đồ này vẽ bờ biển thềm lục địa Trung Kỳ - Nam Kỳ và phần Nam Biển Đông ra ngoài khơi tới quần đảo Trường Sa.

Hai bản đồ trên đây vẽ tổng quát Biển Đông và hải đảo Việt Nam, những bản đồ sau này vẽ chi tiết từng phần.

c. 3533 - Carte du delta du Tonkin – Cours du Song Ca (Bản đồ đồng bằng Bắc Kỳ - Đường sông Hồng Hà) levée en 1873-74-75. Dépôt des cartes et plans de la Marine.1877. Corrections essentielles en Sept. 1879.

d. 3925 - Entrée de la rivière de Long Muon. Plan levé en 1880. Dépôt des cartes et plans de la Marine. 1882 – Les fonds paraissent avoir considérablement changés. – Decidé 1913.

đ. 3553 - Des rivières et canaux compris entre le Cua Nam Trieu et le Thai Binh (Những sông rạch ở giữa cửa Nam Triệu và sông Thái Bình). Levée en 1873-74-75 – Dépôt des cartes et plans de la Marine – Paris – 1877. – Edition de Juillet 1526. (có bản đồ TP. Hải Phòng).

e. 5562 - De Pak Ha Mun aux iles de Lo Chuc San d’après les levés exécutés de 1912 à 1937. – Service hydrographique de la Marine. Paris – 1921. – Juillet 1939. Edition No.3. (đảo Kế Bào, đảo Cái Bàn).

g. 5856 - De l’ile de la Cat Ba à Pak Hoi d’après les levés exécutés en 1880 et de 1912 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1949. Edition No.2 – Juin 1949 – (Vịnh Hạ Long).

h. 5549 - De la baie d’Halong à Pak Ha Mun d’après les levés exécutés de 1905 à 1938 – Service hydrographique de la Marine. Paris – 1920. – Mai 1944. Edition No 4.

i. 5826 - De l’ile de Lo Chuc San au cap Pak Luong. Carte levée de 1912 à 1934. – Service hydrographique de la Marine. Paris – 1937.

k. 3519 - Delta du Tonkin (Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình) d’après les travaux des missions hydrographiques de 1873 à 1930. Dépôt des cartes et plans de la Marine. – Paris. 1877. Octobre 1932. Edition No.4. Remplacement Juin 1956.

l. 5539 - De Haiphong à la baie d’Halong d’après les levés de 1905 à 1934. Service hydrographique de la Marine – Paris. 1920 Février 1946. Edition No.6. Remplacement Février 1956.

m. 5659 - Du cap Batangan au cap Tourane. Carte levée en 1922 et 1925. Service hydrographique de la Marine. – Paris – 1929. – Remplacement Avril 1945.

n. 5661 - Cu lao Cham et entrée de la rivière de Fai Fo. Levé en 1922.

o. 5660 - De Cu Lao Cham à Huế. Carte levée en 1908 – 1914 – 1922 – 1938. Service hydrographique de la Marine. – Paris – 1928. – Février 1942. Edition No.2.

p. 5898 - De Hon Matt à Hon Né (Phủ Diễn Châu – Thanh Hoá). Carte levée de 1924 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1946. Novembre 1947. Edition No.2.

q. 5899 - De Hon Tseu à Hon Matt (Nghệ An). Carte levée en 1924 et de 1937 à 1939. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1946. Septembre – 1946. Edition No.2.

r. 658 - De Nui Ong à la baie du Brandon (TP. Vinh). Carte levée en 1924 – 1927 – 1937. Service hydrographique de la Marine. Paris – 1928. – Février 1943. Edition No.3.

s. 5850 - De l’ile du Tigre au cap Chon May Environ de Huế. Carte levée en Mai 1878. Service hydrographique de la Marine. – Paris 1881. – Juillet 1943. Edition No.4.

t. 5684 - Du cap Batangan à la pointe Happoix (Cù lao Ré) d’après le levé exécuté en 1925. Service hydrographique de la Marine. – Paris. 1928. – Remplacement Mars 1945.

u. 3865 - De l’ile Hon Tseu au cap Lay (Đồng Hới). Carte levée en Mai 1878. Service hydrographique de la Marine. – Paris. 1881. – Janvier 1946. Edition No.3. Remplacement Mai 1956.

v. 5463 - Baie de Tourane (Vịnh Đà Nẵng). Plan levé en 1908. Service hydrographique de la Marine. – Paris – 1913. – Avril 1956. Edition No.4.

x. 5427 - Baie de Cam Ranh. Plan levé en 1907 et 1909. Service hydrographique de la Marine. – Paris 1913. – Mai 1935. Edition No.2. Remplacement Novembre 1960.

y. 5889 - De l’ile Buffle au cap Batangan (Bồng Sơn – Cù lao Ré). Carte levée de 1925 à 1937. Service hydrographique de la Marine. – Paris – 1939.

z1. 5857 - De la baie de Cam Ranh au cap Varella. Carte levée de 1907 à 1913 et de 1923 à 1933. Service hydrographique de la Marine. – Paris – 1943.

z2. 5655 - De Mui Ban Than (Cap Vert) à Mui Nay (Cap Varella). Carte levée en 1923. Service hydrographique de la Marine. Paris.1928. Remplacement de Juin 1945.

z3. 5564 - De la pointe Hon Nai à Mui Ban Than (Cap Vert). Cette carte levée de 1910 à 1913. - Service hydrographique de la Marine. – Paris –1922. – Edition de 1927. Remplacement de Mai 1945. (Nha Trang).

z4. 5695 - De la pointe Ké Ga au cap Padaran. Carte levée de 1911 à 1929. - Service hydrographique de la Marine. – Paris –1930. – Octobre 1932. Edition No.2.

z5. 5892 - De la pointe Samit à Tian Moi (Ile à l’eau). Carte levée de 1906 à 1907 et de 1936 à 1939. Service hydrographique de la Marine. – Paris –1943. – Remplacement Janvier 1956.

IV. – NHỮNG BẢN ĐỒ TRÍCH SÁCH ĐỊA LÝ QUỐC TẾ CÓ VẼ VIỆT NAM VỚI HOÀNG SA – TRƯỜNG SA VÀ GHI BỜ BIỂN LÀ Ở VIỆT NAM.

1. 1525 – 1527 – 1529 - Diogo Ribeiro - Bờ biển Việt Nam và Biển Đông.

2. 1527 - Diogo Ribeiro.

3. 1529 - Diogo Ribeiro.

4. 1529 - Vô danh.

5. 1560 - Bartholomeu Velho.

6. 1560 - Trích Livro da marinharia.

7. 1563 - Lazaro Luis.

8. 1563 - G.B Ramusio.

9. 1587 - Vô danh.

10. 1590 - Tác giả Bồ Đào Nha.

11. 1590 - Bartolomeu Lasso.

12. 1590 - Fernão Vaz Dourado.

13. 1592 - 94 - Bartolomeu Lasso.

14. 1595 - Anh em Van Langren.

15. 1604 - Josua Van Den Ende.

16. 1613 - Mercator.

17. 1617 - Vô danh.

18. 1620 - Kaerius Calavit (?).

19. 1630 - Juão Teixeira.

20. 1639 - Juão Teixeira.

21. 1640 - Juão Teixeira – Albermaz.

22. 1641 - Antonio Sanches.

23. 1646 - Vô danh.

24. 1650 - Alexandre de Rhodes.

25. 1659 - 1659 - Công ty Thương mại Viễn đông (La Hage).

26. 1649 - 1664 - Juão Teixeira.

27. 1665 - Richard B.Arkwan.

28. 1686 - Père Duval.

29. 1714 - P. Placide.

30. 1716 - Herman Moll.

31. 1719 - Henri Chaatelin.

32. 1755 - Danville.

33. 1789 - André Coué.

34. 1793 - Staunton.

35. 1840 - Annales de la Propagation de la Foi.

36. 1886 - Atlas des Missions.

V. NHỮNG BẢN ĐỒ CỔ THẾ GIỚI ĐÃ VẼ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM VỚI BIỂN ĐÔNG VÀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA – TRƯỜNG SA.

Ba mươi bản đồ thế giới cổ của Tây phương (1489 – 1697) mà chúng tôi sưu tầm được, thì từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Tuỳ theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ. Sau thấy bên Ấn Độ có thành phố tên là Cochin, nên người ta gọi nước ta là Giao Chỉ gần Chi Na và ghi thành Cauchichina, Cauchinchina, Cachuchina, Conchinchina, Cochinchina, Cochinchine, vv…

Tất cả các bản đồ cổ Tây phương vẽ đã khá chính xác theo kinh tuyến và vĩ tuyến. Phía Đông nước ta là Thái Bình Dương. Ngoài khơi họ luôn ghi nhận quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa với địa danh Pracel hay Parasel hoặc tương tự và trên bờ biển Quảng Nam – Quảng Ngãi luôn được ghi nhận là Costa da Paracel (bờ biển Hoàng Sa). Đó là cách mạc nhiên thế giới nhận Hoàng Sa – Trường Sa đích thực thuộc chủ quyền Đại Việt ít nhất từ 5 thế kỷ nay.

Lần đầu tiên trên bản đồ Frères Van Langren 1595, chúng ta thấy Đại Việt chia ra 2 miền: Đàng Ngoài được Tây phương ghi là Tungkin (Đông Kinh, tên thành Thăng Long từ 1430) và Đàng Trong được ghi là Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi Na, 1 địa danh cũ chỉ toàn quốc Đại Việt).

Sau đây là 30 bản đồ thế giới cổ đáng ghi nhận:

1. 1489 - Henricus Matellus Germanus

2. 1500 - Juan de la Cosa

3. 1504 - Nicolo Caveri

4. 1507 - Johannes Ruysch Cauchia Ciamba Candur

5. 1519 - Lopo Homem – Pedro Reinel

6. 1524 - Juan Vespucci Catigara

7. 1526 - Catigara

8. 1529 - Gerolamo de Verrazzano

9. 1534 - Diego Ribeiro

10. 1544 - Sesbastien Cabot Cinpàgu Cauchichina Caudur

11. 1548 - Giacomo Gastaldi India Tercera Nova Tabula Comchechina

12. 1550 - Pierre Desceliers

13. 1551 - Andreas Homen Pracel

14. 1554 - G.B.Ramusio Cochinchina

15. 1564 - Abraham Ortelius Cauchinchina

16. 1569 - Geradus Mercator Cachuchina

17. 1587 - Vô danh Nova Tottus Orbis Terrarum Descriptio

18. 1589 - Jodocus Hondius Cachuchina

19. 1590 - Vô danh Planisphère Portugais Pracel

20. 1606 - Jodocus Hondius Cochinchina Pracel

21. 1634 - Jean Guirard

22. 1634 - Jean Guérard Pracel

23. 1635 - Paulus Swaen Pracel

24. 1641 - Antonio Sanches Cauchinchia Pracel

25. 1664 - Hendrik Doneker India Orientalis Cachuchina Pracel

26. 1664 - Melchisédech Thévenot Pracel

27. 1675 - John Seller Pracel

28. 1680 - Abraham Goos Pracel

29. 1685 - Alexis Jaillot Cauchinchina Pracel

30. 1697 - Jean Blacu Conchinchina Tonquin Pracel

VI. HAI MƯƠI BẢY TỈNH VÀ THÀNH PHỐ HIỆN NAY CÓ THỀM LỤC ĐỊA GIÁP BIỂN ĐÔNG.

Để so sánh với các bản đồ cổ thực hiện trên một trăm năm nay, chúng ta có 2 tỉnh có thềm lục địa giáp với Biển Đông như sau:

Quảng Ninh TP. Hải Phòng Nam Định Thái Bình

Ninh Bình Thanh Hoá Nghệ An Hà Tĩnh

Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên – Huế TP. Đà Nẵng

Quảng Nam Quảng Ngãi (huyện đảo Trường Sa) Bình Định Phú Yên

Khánh Hoà (huyện đảo Trường Sa) Ninh Thuận Bình Thuận TP. HCM

Bà Rịa-Vũng Tàu Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng

Bạc Liêu Cà Mau Kiên Giang (9).

*

* *

Với những tư liệu trên – tuy chưa được hoàn toàn đầy đủ - hy vọng chúng ta sẽ có được khái niệm đầy đủ về thềm lục địa, hải đảo và Biển Đông của Việt Nam. Chúng ta sẽ nắm bắt được lịch sử biến chuyển về địa lý tự nhiên và địa lý hành chính của phần biển khơi – rộng 1 triệu km2 – gấp 3 lần đất liền của Tổ quốc. Có lẽ những tư liệu nêu trên cũng góp phần nghiên cứu cụ thể và sâu sắc phần biển và đảo vĩ đại và thân yêu của dân tộc Việt Nam.


_____________________________________

(1) Bửu Cầm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thuý, Tạ Quang Phát, Trương Bửu Lâm, Hồng Đức bản đồ. Tủ sách Viện Khảo cổ. BQGGD. Sài Gòn, 1962. Trang IX.\

(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Tập 1. Lê Xuân Giáo dịch. NXB PQVK-VH. Sài Gòn, 1972. Trang 210 – 212.

(3) Quốc sử quán, Đại Nam thực lục. NXB Sử Học. Hà Nội, 1963. Trang 245.

(4) Như trên, trang 323.

(5) Như trên, trang 324.

(6) Như trên, tập XIII, trang 52 – 53.

(7) Như trên, Tập XIV, trang 180 – 181

(8) Như trên, Tập XVI, trang 309.

(9) Tập bản đồ hành chính Việt Nam. NXB Bản Đồ.

[1] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, thì cả người Trung Quốc xưa kia cũng gọi vùng biển này là “Biên Giao Chỉ”, còn người Pháp goị là “Đông Dương”, nghĩa là Biển Đông.

NHỮNG BÀI CẦN ĐỌC :
[1] nt
[2] nt
[3] Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa -- Bài Đinh Kim Phúc
[4] Biển, đảo Việt Nam và quy chế pháp lý của nó -- Bài của LS. TS. Phan Đăng Thanh [5] Thủy quân nhà Nguyễn bắt đầu năm 1816 đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa theo phương cách Phương Tây -- Bài của TS Nguyễn Nhã
[6] Vai trò của Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn đồi với Hoàng Sa và Trường Sa -- Bài Nguyễn Q. Thắng
[7} nt

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2009

Nông dân ĐBSCL đang cần gì?



GS.TS. Mai Văn Quyền

DAYVAHOC. Khi bàn về chủ đề Tam nông: “ Nông nghiệp- nông dân- nông thôn”, trên Báo Nông nghiệp Việt Nam có nhiều tác giả đã viết và đề cập đến nội dung “ Nông dân đang cần gì”được đăng tải thành ba chủ đề chính: i/ Những vấn đề đất đai; ii/ Vấn đề đào tạo nghề: no nghề- đói việc, và iii/ nông dân đang khát vốn. Số bài chính thức được đăng tải trong 21 kỳ kể từ tháng 7 năm 2008 cho đến 1/4/2009. Những nội dung các bài báo trong ba chủ đề nói trên đã được nhiều từng lớp cán bộ và nông dân trong đó có tác giả bài này hưởng ứng và thảo luận rất sôi nổi. Điều đó chứng tỏ rằng các tác giả đã “ gãi đúng chổ ngứa” của người nông dân hiện nay. Những nội dung này đã trở thành hết sức bức xúc đối với nông dân. Bởi lẽ nếu không có biện pháp đúng đắn và thích hợp để đẩy nhanh các chủ đề này trở thành hiện thực thì mục tiêu cơ bản về công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) lấy cột mốc từ năm 2020 trở đi sẽ chỉ là điều mong ước mà thôi.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có được bước tiến khá nhanh về mọi mặt. Đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội đã được đổi thay từng ngày. Nông thôn cũng từng ngày được đổi mới. Bên cạnh đó thì sự phân hóa giàu- nghèo cũng ngày càng thay đổi nhanh chóng,làm cho chiều hướng khoảng cách giữa hai cực này ngày một xa ra. Muốn cho xã hội ở nông thôn phát triển hài hòa và bền vững thì nhà nước phải có biện pháp thích hợp để rút ngắn khoảng cách này lại, theo hướng nâng cuộc sống của người nghèo tiến lên. Muốn vậy, nhà nước cần có một hệ thống chính sách đủ cơ sở khoa học, kịp thời và thích hợp cho từng nhóm hộ, ở từng vùng. Như vậy, ngoài các chủ đề đã nêu ở trên, thì có thể nói một cách tổng quát rằng nông dân đang cần đủ thứ. Nhũng chủ đề đã nêu là cốt lõi. Vì sao? Vì nông dân Việt nam quá nghèo và đã quen sống trong cảnh nghèo từ nhiều thế hệ cho đến nay, nên còn thiếu thốn mọi thứ. Nhưng để giúp nông dân vượt qua mọi thiếu thốn thì không thể dùng phương pháp “ trợ cấp cho không” được mà phải dùng biện pháp “trao cho họ cần câu” và “dạy cho họ cách bắt cá” để người nông dân tự vượt lên khỏi vòng nghèo khó.

Suy cho cùng thì đó là chính sách và phương pháp đào tạo nghề. Chính sách này đúng cho cả khi muốn tích tụ ruộng đất và cả khi quyết định cho nông dân vay vốn. Khi tích tụ ruộng đất tức là người có vốn và có kiến thức thì sẽ quản lý số lượng ruộng đất nhiều. Còn nhóm người ít vốn và thiếu kỹ năng sẽ không còn ruộng đất trong tay họ. Trước khi quyết định trao ruộng đất cho người khác thì bản thân họ phải được khẳng định sẽ sinh sống bằng nghề gì, đời sống sẽ ra sao thì họ mới yên tâm trao ruộng đất sang tay người khác quản lý. Người quản lý ruộng đất cũng cần được đào tạo bằng những kỹ năng phù hợp đối với hoàncảnh của họ. Khi được vay vốn cũng vậy, người vay vốn phải biết sử dụng đồng vốn vào loại công việc gì sẽ có lợi và gặp rủi ro tối thiểu thì đồng vốn được vay sẽ có hiệu quả. Đó chính là kỹ năng của tay nghề. Như vậy giữa đào tạo và kế hoạch sử dụng phải đồng bộ, kế hoạch sản xuất phải đi trước, theo sau là đào tạo đúng ngành để phục vụ cho kế sinh nhai của người được đào tạo. Làm được như vậy thì sẽ không có hiện tượng “ no nghề- đói việc” như các bài báo đã đề cập.Muốn vậy, nhà nước cần phải có qui hoạch xây dựng các dự án lâu dài , trên cơ sở nội dung của từng dự án ta sẽ mở lớp đào tạo mới đúng ngành nghề và khi đào tạo ra học viên sẽ có việc làm phù hợp.

Trong hoàn cảnh Nhà nước còn nghèo vốn mà người nghèo lại quá đông thì việc phân loại nhóm “ giàu, nghèo” để có chính sách phù hợp đối với từng nhóm sẽ cần được áp dụng. Theo thực trạng của nông dân Việt Nam, hiện nay ta có thể chia thành bốn nhóm chính: i/ Nhóm người nghèo (bao gồm người ốm đau bệnh tật, neo đơn, mất sức lao động, thiếu vốn, thiếu ruộng đất); ii/ nhóm cận nghèo; iii/ nhóm trung bình, khá giả và iv/ nhóm nông dân giàu có .Trong bốn nhóm này thì nhóm 1 & 2 rất dễ chuyển hóa cho nhau. Lý do là tiêu chí phân hộ nghèo của nước ta quá thấp, theo tiêu chí cũ, thu nhập bình quân 200.000 đ/ người/ tháng trở xuống thì thuộc diện nghèo. Nếu vậy thì người thu nhập trên 200.000 đ/ người/ tháng sẽ thoát nghèo - thuộc nhóm cận nghèo. Không biết người làm phân loại dựa vào nguồn thu nhập nào để tính? Nếu vậy thì trong nhóm 1 này còn phải phân ra nhóm thường xuyên bị đói kém và nhóm thiếu ăn một số tháng mới phải. Với tình hình thiên tai xảy ra triền miên như ở nước ta thì nhóm cận nghèo (nhóm 2) sẽ rất dễ dàng chuyển sang nhóm nghèo. Trong thực tế nhóm nghèo ở nông thôn Việt nam không thể 12% như tài liệu đã công bố, mà còn cao hơn thế. Ngược lại, có vùng, có tỉnh, một số gia đình thân thuộc của lãnh đạo cấp địa phương thuộc loại cận nghèo hay trung bình nhưng khi có chế độ cấp phát nào đó thì được chuyễn sang nhóm hộ nghèo (trường hợp nhà nước hổ trợ tiền cho người nghèo ăn tết Kỷ Sửu 2009 chẳng hạn) để được hưởng các trợ cấp của nhà nước. Như vậy thì một số người nghèo nghiểm nhiên được “xóa nghèo” để không được hưởng phần trợ cấp đáng có. Thật là bất công!

Tạm thời cứ cho là các nhóm “ giàu- nghèo” được phân cấp như vậy là hợp lý, thì chính sách kèm theo cũng phải được áp dụng phù hợp theo từng nhóm, hợp lý cả việc đóng góp nghĩa vụ với xã hội, chính sách đào tạo, dạy nghề, số lượng tiền và thủ tục vay vốn. Nếu xếp loại các nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội thì chính sách được coi là đòn bẩy có thể thúc đẩy hay kìm hảm sự phát triển và tồn tại của các lĩnh vực khác. Có thể lấy ví dụ khi có NQ 10 của BCT tháng 4/1988 và NQ Đại hội 6 /1986 là sẽ rõ. Khi xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, khi công nhận hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, nông dân được phép buôn bán sản phẩm của mình trên thị trường tự do thì kinh tế nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng như vũ bão. Từ đó nước ta từ chổ thiếu ăn triền miên, chỉ sau vài năm cởi trói và mở cửa đã có thừa gạo xuất khẩu đứng thứ ba rồi thứ nhì trên thế giơi.

Vai trò chính sách quan trọng như vậy, nhưng nhiều chính sách đều đi sau thực tiễn khá xa và có lúc trở thành bất hợp lý, gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người lao động.Ví dụ , riêng ở ĐBSCL hàng năm có sản lượng lúa của ba vụ trung bình 19 triệu tấn, năm mất mùa cũng được 18,5 triệu tấn thóc. Nếu trừ thóc làm giống bình quân 200 kg/ha (kể cả phần dự phòng thì cao lắm cũng chỉ đến 250kg /ha để dùng cho 3,8 triệu ha gieo trồng lúa) sẽ cần 950.000 tấn/năm; thóc dự trử chỉ cần 500.000 tấn, cao lắm lá 1 triệu tấn; thóc chăn nuôi khoảng 1 triệu tấn; thóc dùng để ăn cho 18 triệu dân khoảng 2,8 triệu tấn. Tổng cộng các khoản chỉ tốn khoảng 4,5-5 triệu tấn thóc, còn thừa đến 14 triệu tấn thóc. Nếu để xuất cho các vùng khoảng 2 triệu tấn thì vẫn còn khoảng 12 triệu tấn thóc dùng để xuất khẩu. Trong số 12 triệu tấn thóc này nếu chỉ lấy gạo nguyên cũng đã có 6 triệu tấn gạo, nếu lấy gạo 15% tấm thì còn cao hơn nhiều. Vậy chỉ cần xuất số gạo này cho nước ngoài không cần số gạo của các vùng khác thì cũng đã thừa tiêu chuẩn gạo xuất khẩu do nhà nước qui định. Thế mà từ năm 2008 rồi năm nay, 2009, khi giá gạo thế giới đang ngon trớn thì có lệnh ngưng xuất khẩu, đến khi gạo thế giới hạ nhiệt thì tìm cách thu mua lúa cho dân, để dân phải chịu thiệt .Thật không thể hiểu được, chả lẽ ban điều hành ngành xuất khẩu gạo không hiểu được thực trạng lúa gạo ở ĐBSCL như vậy hay có ý muốn độc quyền ngành xuất khẩu gạo?

Phải nói rằng chưa nơi nào có ưu thế về sản xuất lúa gạo như ở ĐBSCL, lúc nào trên đồng cũng có lúa để thu hoạch. Do đó việc dự trữ lúa chủ yếu là để cho vùng khác. Hơn nữa hàng năm ta có thuận lợi buôn bán lúa gạo với nước bạn Campuchia khoảng 0,5 triệu tấn thóc, việc buôn bán này giống như luân chuyển lúa gạo ở nội hạt nên không sợ thiếu gạo.

Vậy câu hỏi nông dân nói chung hay nông dân vùng ĐBSCL đang cần gì thì câu trả lời là nông dân tất nhiên phải cần đất, cần chính sách hợp lý để tích tụ ruộng đất đủ lớn phù hợp sản xuất lớn để sử dụng công cụ cơ giới hóa mới có cơ hội thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nông dân còn cần có kiến thức, có trình độ, có tay nghề phù hợp cho các nhóm hộ để làm kế sinh nhai. Khi có nghề thì một bộ phận nông dân sẽ sẵn sàng nhượng đất cho người khác mà vẫn có thể sống đầy đủ. Nông dân cần vốn để phát triển sản xuất. Và trước hết là cần một hệ thống chính sách phù hợp cho từng nhóm hộ, chính sách phải kịp thời , luôn luôn tổng kết đúc rút kinh nghiệm để kịp thời chỉnh sửa những phần chưa hợp lý, làm cho chính sách thực sự sống động , là chổ dựa của mọi người để phát triển sản xuất. Muốn làm giàu cần có chính sách tác động vào nhóm giàu và muốn xóa đói giảm nghèo cần có chính sách vào nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Làm thế nào để người nghèo vẫn có chổ đứng ở vùng nông thôn một cách vững chắc để có thể “ ly nông nhưng bất ly hương”

Mai Văn Quyền
(Bài viết do tác giả gừi)

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009

Không gian còn giữ mặt người thương yêu



DAYVAHOC. Thời gian như nước cuộn trôi/ Không gian còn giữ mặt người thương yêu. Hai câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Tế Hanh đã được nhà thơ Hữu Thỉnh, Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trích dẫn trong điếu văn đọc trước linh cữu của ông - "Cây đại thụ cuối cùng tỏa bóng trên thi đàn thơ ca Việt Nam hơn nữa thế kỹ qua". Tế Hanh là tác giả của nhiều bài thơ quen thuộc "Nhớ con sông quê hương" "Hạnh phúc" "Mưa ngâu" ... đã lay động sâu xa tình cảm của nhiều người đối với tình yêu, quê hương, đất nước. Tôn vinh giá trị nhân văn của ông, nhà thơ Hữu Thỉnh đã ca ngợi: "Với lòng kính trọng và tiếc thương vô hạn, gia đình và bạn bè đồng nghiệp quây quần tiễn đưa Anh hôm nay. Cả con sông Trà Bồng, con sông quê hư­ơng đã vang danh trong thơ Anh." (Ảnh con sông quê hương trong trang web của nhóm Thiên bút thi hữu Quảng Ngãi

KHÔNG GIAN CÒN GIỮ MẶT NGƯỜI YÊU THƯƠNG

Hữu Thỉnh,
Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Điếu văn đọc trước linh cữu nhà thơ Tế Hanh

Sau nhiều năm chống trả với bệnh tật hiểm nghèo, trái tim nhà thơ Tế Hanh đã ngừng đập vào hồi 12 giờ 20 phút ngày 16/7/2009, tại Hà Nội. Ra đi vào tuổi cận kề 90, để lại trên 20 tác phẩm nổi tiếng, Tế Hanh là cây đại thụ cuối cùng toả bóng trên thi đàn hơn nửa thế kỷ qua.

Không ai có thể chọn thời để sinh ra, nhưng người ta có thể chọn đường đi và cách sống. Tế Hanh đã chọn, duy nhất đúng, con đường riêng để đến với thơ, ngay từ lúc còn rất trẻ. Đó là sự thần diệu của tâm hồn. Một tâm hồn căng mọng cảm thương và thành thực, rộng mở và đắm say là kho chứa vô tận của trực giác. Tế Hanh đặc sắc nhất ở trực giác. Những cảnh bình dị bất ngờ được rọi sáng, những phút xuất thần không sao đoán trước được tạo nên cái lộng lẫy riêng của Anh ngay từ buổi đầu. Tập thơ Nghẹn ngào của Tế Hanh được sáng tác chỉ trong vòng hai tuần lễ nghỉ hè, bất ngờ nhận Giải thưởng Tự lực Văn đoàn năm 1939 là một danh giá ít ai có thể mơ tới khi cha đầy 20 tuổi.

Tài năng phát lộ là rất khó khăn, Nhưng có thể thui chột bất cứ lúc nào. Tế Hanh giác ngộ rất sớm về tài năng và thiên chức. Anh nặng lòng với quê hương, cật ruột với mọi lớp ngời, coi đó là mảnh đất mầu mỡ nhất để nuôi dưỡng tâm hồn và tài năng. Với Tế Hanh, mọi bí quyết của thơ đều ở trong đời sống.

Sinh trưởng trong một gia đình nho học có truyền thống yêu nước, tốt nghiệp tú tài triết học và nổi tiếng khi còn rất trẻ, Tế Hanh mặc nhiên được xếp vào tầng lớp ưu tú với bao chờ đón trước mặt. Nhưng Tế Hanh đã chọn con đờng gian khổ nhất mà cũng là ngắn nhất để đến với thơ ca chân chính. Anh tham gia Cách mạng tháng Tám ở Huế, làm cán bộ giáo dục và văn hoá ở Đà Nẵng, rồi từ đó đi kháng chiến, là một trong những cán bộ lãnh đạo văn nghệ chủ chốt ở Nam Trung Bộ và Liên khu 5 suốt cuộc kháng chiến chống Pháp. Bom đạn, thiếu thốn, bệnh tật không hề làm xao xuyến sự lựa chọn đã được minh định dứt khoát. Vẫn một hồn thơ chân chất, tinh khôi, Tế Hanh bắt nhậy với cuộc sống mới, tình cảm quê hương rộng mở thành cảm hứng lớn về nhân dân, đất nước, cái nghẹn ngào thuở tr­ước được thay bằng khúc hát anh hùng và tự do. Bước phát triển mới này được ghi nhận bằng Giải thởng Phạm Văn Đồng được trao cho Anh vào năm 1950.

Những năm đất nước tạm thời chia cắt, không ai hiểu được tâm tưởng, nỗi niềm của ngời đi tập kết sâu nặng, thấm thía xót đau như Tế Hanh. Không ai nói được sự phân thân ngày Bắc đêm Nam khắc khoải, vật vã nh­ư Tế Hanh. Thương nhớ và khổ đau là có thật, ám ảnh và hy vọng cũng là có thực. Các tập thơ Lòng Miền Nam, Gửi Miền Bắc, Tiếng Sóng đánh dấu một giai đoạn sang tác bừng khởi nhất của Tế Hanh. Qua các tập thơ ấy, có thể thấy đất nước trong một người, và qua một người mà hình dung ra đất nước. Nhiều bài thơ của Tế Hanh trong giai đoạn này đã vượt qua tính nhất thời của một đề tài, một giai đoạn để trở thành cổ điển. Đất nước đã thống nhất, giang sơn đã tụ về một mối sau hơn 30 năm chia cắt. Nhưng nhiều bài thơ của Tế Hanh về một thời chia cắt vẫn còn nguyên giá trị. Một sự hoàn thiện tưởng không còn có thể hoàn thiện hơn được nữa.

Tế Hanh là hiện thân của sự sâu sắc và giản dị, sống ở đâu cũng mở lòng ra với mọi ngời. Ở đâu và làm gì Anh cũng được yêu mến và tin cậy. Với tài năng và phẩm chất đáng kính Anh được cử tham gia Ban chấp hành, Ban thờng vụ Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khoá, nhiều năm tham gia lãnh đạo báo Văn nghệ, lần lượt đảm nhận các cương vị Trưởng ban đối ngoại, Chủ tịch Hội đồng Thơ với sự gửi gắm và đồng thuận lớn của những người đồng nghiệp. Tận tuỵ và trung thực, ngoài mong muốn góp phần quy tụ tài năng cho đất nước, Tế Hanh không có tham vọng nào khác. Hồn Anh ấm áp và thoáng rộng, cuộc sống của Anh thanh bần và cao quý, nên không luyện mà được thiền, không gắng mà được dưỡng. Anh nuôi thơ bằng cách đó, bình dị mà cũng khổ công lắm thay.
Tâm sự về nghề, Tế Hanh viết: "Tôi không tin vào những trường phái cho thơ là huyền bí, viết được là do những kinh mộng ảo bên ngoài. Thơ phải gắn với dân tộc và đất nước. Trái tim của nhà thơ rung động theo những chuyển biến quan trọng của lịch sử. Nhưng nhà thơ không nên chạy theo thời sự hàng ngày và biến sáng tác của mình thành những bài báo thông th­ường"

Hoà bình có niềm vui của hoà bình mà cũng có khắc nghiệt của hoà bình; xây dựng có nở hoa và có cả những cơn sốt vỡ da. Tế Hanh không phải là người đi thuyết giảng về những điều ai cũng thường thấy. Anh sống tận gốc mọi chuyển động, mọi lẽ đời. Bề ngoài Tế Hanh có vẻ ngơ ngác mà trong lòng thì thăm thẳm âu lo. Chín mươi năm phấn đấu cho những giá trị cao cả, cuộc đời Anh đã trải qua nước mắt và nụ cười, gan góc và thuỷ chung, lúc nào cũng là chính mình, trong bão táp vẫn là mình, trước vinh dự to lớn cũng vẫn là mình. Đạt đến cõi an nhiên như Anh tưởng cũng hiếm lắm thay. Với một tài năng lớn, Anh phát hiện ra những cái phi thường trong những cái bình thường những vẻ đẹp khuất lấp chờ đợi ở nhà thơ. Càng về sau với độ sung mãn kết tinh, thơ Tế Hanh đạt đến mức cảm thì được mà giải thích thì không được:

Giơ tay tưởng với được tình
Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa

Cuộc đời vốn vô tận, thưa Anh Tế Hanh kính mến, với hôm qua nó là nỗi khao khát vươn tới của thi nhân, với hôm nay nó là chính Anh đấy. Anh đã trở thành vô tận, là mãi mãi. Và Anh chính là lời đáp cho một câu hỏi lớn; một nhà thơ có thể kéo dài cuộc sống của mình như thế nào?


Với lòng kính trọng và tiếc thương vô hạn, gia đình và bạn bè đồng nghiệp quây quần tiễn đưa Anh hôm nay. Cả con sông Trà Bồng, con sông quê hư­ơng đã vang danh trong thơ Anh cũng gửi hồn sóng về đây tiễn đưa một trong những người con đẹp nhất của Quảng Ngãi.

Vô cùng thương tiếc vĩnh biệt nhà thơ Tế Hanh, nhà thơ lớn của dân tộc, người đảng viên kiên trung và mẫu mực của Đảng, một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của Anh còn mãi.

Trong giờ phút thiêng liêng này, tưởng không có gì nói về Anh chính xác hơn và thấm thía hơn hai câu thơ của Anh:

Thời gian như nước cuộn trôi
Không gian còn giữ mặt người thương yêu

Hai câu thơ ấy là kinh cầu nguyện của Anh cho một kiếp người. Và hôm nay là kinh cầu nguyện của hậu thế dành cho Anh.

Anh Tế Hanh kính mến, xin Anh hãy yên nghỉ!

Thay mặt Đảng đoàn, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến chị Yến, các cháu và gia tộc họ Trần.

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Tế Hanh, phút mặc niệm bắt đầu.

Hà Nội, 19/7/2009
Hữu Thỉnh


Một số bài thơ tiêu biểu của Tế Hanh:

NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG

Thơ Tế Hanh

Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống dòng sông ấm áp

Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng
Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu
Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy.

Bạn bè tôi túm năm tụm bảy
Bầy chim non bay lượn trên sông
Tôi dang tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ.

Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả
Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông
Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến.

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển
Vẫn trở về lưu luyến bên sông...
Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc.

Hai tiếng thiêng liêng hai tiếng miền Nam
Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc
Tôi nhớ cả những người không quen biết.

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây
Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy
Hình ảnh con sông quê mát rượi
Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới.

Quê hương ơi, lòng tôi cũng như sông
Tình Bắc Nam chung chảy một dòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản được
Tôi sẽ đến nơi tôi hằng mong ước.

Tôi sẽ về sông nước của quê hương
Tôi sẽ về sông nước của tình thương.

HẠNH PHÚC

Thơ Tế Hanh- Tặng Nguyễn Đình Thi

Nếu không có hạnh phúc một đời
Thì ta tìm hạnh phúc một năm một tháng
Nếu không có hạnh phúc một năm một tháng
Thì ta tìm hạnh phúc một ngày một giờ

Sáng nay
Tôi tìm thấy hạnh phúc
Sau một đêm yên giấc
Tôi nhìn thấy ánh xuân về
Trên một đoá hoa tươi

1983

MƯA NGÂU

Thơ Tế Hanh

Mồng bảy tháng bảy, tiết mưa ngâu
Chạnh nhớ chàng Ngưu và ả Chức
Chẳng biết lòng mình đang ở đâu
Trong cảnh vừa hư lại vừa thực

Sông Ngân một dải rộng mênh mang
Chức Nữ làm sao gặp Ngưu Lang
Đội đá trọc đầu thương chú quạ
Bắc cầu Ô Thước để ai sang

Em đi biền biệt tận phương trời
Anh đợi chờ em ở khắp nơi
Ngày vắng không vơi lòng tưởng nhớ
Đêm dài thêm nặng nỗi tương tư

Ngưu Lang, Chức Nữ cách xa nhau
Còn có những nhịp cầu Ô Thước
Anh muốn tìm em biết ở đâu
Muốn đến cùng em không đến được

Đêm nay anh nhìn dải sông Ngân
Lòng nhớ thương em biết mấy tầng
Mưa ngâu rơi hạt trên mi mắt
Hàng vạn ngôi sao bỗng sáng ngần.

Cây táo chuyện đọc lúc nửa đêm



DAYVAHOC. Những đêm làm việc khuya, đôi khi bạn thích một ly trà ấm, một chút trái cây, hoặc một lời nhắc nhở ân cần của người thân. Đêm nay, tôi đọc bài "Cây táo" lúc nữa đêm do anh Nguyễn Văn Bộ gửi tặng. Lòng cảm thấy xúc động, ấm áp giữa tình yêu thương. Có những câu chuyện nhẹ nhàng nhưng thật đáng suy ngẫm...


Có một cây táo rất to. Cậu bé con thường xuyên đến chơi quanh cây táo. Cậu trèo lên cây, ăn những quả táo chín đỏ và ngủ dưới tán cây. Cậu rất yêu cây táo và cây táo cũng vậy, rất thích chơi cùng cậu. Nhưng thời gian trôi qua ...

Cậu bé đã lớn, và không đến chơi quanh cây táo hàng ngày nữa. Một ngày, cậu lại đến với vẻ mặt đượm buồn. Cây táo cất tiếng: “Hãy lại đây chơi với ta”.

“Tôi không còn là đứa bé nữa, tôi không muốn chơi ở quanh cây táo đâu. Tôi muốn có đồ chơi. Tôi cần tiền để mua đồ chơi” - Cậu bé nói.

- “Xin lỗi, ta không có tiền. Nhưng cậu có thể hái táo đem bán. Sau đó cậu sẽ có tiền nhé!”

Cậu bé quá đỗi vui mừng, hái hết số táo trên cây rồi quay bước đi. Từ đợt đó cậu không quay trở lại với cây táo nữa. Cây táo rất buồn.

Rồi một ngày khác, cậu bé năm nào lại quay trở lại, cây táo vô cùng phấn khởi: “Hãy đến đây chơi với ta nào ”. “Tôi không có thời gian đâu, tôi phải làm việc cho gia đình. Chúng tôi muốn có cái nhà để ở. Liệu cây có giúp tôi được không?”.

- “Xin lỗi, ta không có nhà. Nhưng cậu có thể chặt các nhánh cây của ta để làm nhà ở”.

Thế là cậu bé, giờ đã thành chàng trai trẻ, chặt hết các nhánh cây táo và vui vẻ bước đi. Cây táo thấy vui khi nhìn cậu hạnh phúc. Nhưng từ đó chàng trai không quay lại nữa.

Cây táo cảm thấy cô đơn và buồn tủi. Một ngày hè nóng nực, cậu bé năm nào, giờ đã già, quay trở lại. Cây táo phấn khởi lắm: “Hãy đến đây chơi với ta”.

Cậu bé ngày nào trả lời: “Tôi buồn lắm, và tôi cũng già rồi. Tôi muốn đi du thuyền để thư giãn”.

Cây táo đáp lại: “Hãy dùng thân cây của ta mà làm thuyền. Cậu có thể đi khắp nơi”.

Cậu bé năm nào chặt thân cây để làm thuyền rồi đi chu du, không quay lại thăm cây táo trong một thời gian dài.

Nhiều năm sau, cậu bé quay lại, giờ cậu đã thành ông lão.

- “Xin lỗi cậu bé của ta, nhưng ta không còn gì để cho cậu nữa rồi. Không còn táo cho cậu…”, cây táo nói.

- “Tôi không còn răng để ăn”.

- “... không còn thân cây cho cậu trèo…”

- “Tôi quá lớn tuổi để làm điều đó”.

- “Ta thực sự không thể cho cậu gì nữa, chỉ còn duy nhất phần gốc đang chết dần…” - Cây táo nghẹn ngào.

- “Bây giờ tôi không cần gì hết, tôi chỉ cần một chỗ để nghỉ ngơi. Tôi thấy mệt mỏi sau bao năm tháng”.

- “Ồ, hay quá! Gốc cây già nua này sẽ là nơi tốt nhất cho cậu nghỉ. Nào, hãy đến đây, hãy đến đây với ta và nằm nghỉ bên ta”.

Cậu bé năm nào ngồi xuống, cây táo vui mừng trào nước mắt.

Đây là câu chuyện dành cho tất cả mọi người. Cây táo chính là cha mẹ của chúng ta. Khi trẻ, chúng ta yêu quý và thích chơi cùng cha mẹ. Nhưng khi đã lớn, chúng ta lại rời họ đi, chỉ tìm đến họ khi ta cần gì đó hay gặp khó khăn, rắc rối.

Cho dù thế nào chăng nữa, cha mẹ vẫn sẽ luôn ở bên cạnh và cho chúng ta mọi thứ, luôn mong chúng ta được hạnh phúc. Có thể bạn nghĩ cậu bé cư xử tàn nhẫn với cây táo, nhưng sự thực, chúng ta cũng cư xử với cha mẹ mình như thế đấy !!!

(Bài viết do PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ gửi)

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2009

Đi như một dòng sông



DAYVAHOC. Đi như một dòng sông là tuyệt phẩm của nhà văn Paulo Coelho do nhà văn Từ Vũ phỏng dịch và nhà thơ Nguyễn Lâm Cúc giới thiệu. Tác phẩm viết về kinh nghiệm leo núi mà thực ra không chỉ và không phải nói về leo núi. Đó là một kho báu vô giá về những kỹ năng và minh triết khôn ngoan để vượt qua các lực cản và đi đến thành công. Nghệ thuật leo núi được diễn đạt đi như một dòng sông với một chuỗi việc chính: Lựa chọn núi thích hợp mà bạn muốn leo/ Biết cách để đi tới trước ngọn núi/ Học những điều mà người trước đã làm/ Nhìn thật gần thì những sự nguy hiểm có thể kiểm soát được/ Cảnh vật thay đổi hãy tận hưởng/Hãy coi trọng thân thể/ Hãy tôn trọng thần trí/Chuẩn bị để đi xa hơn nữa/ Hãy hân hoan khi tới đích/ Làm một lời hứa/ Trao truyền lại kinh nghiệm. Hồ Chí Minh có bài leo núi: "Đi đường biết mấy gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng giang san" (Ảnh: Leo núi An Huy. Hoàng Tố Nguyên).

LỰA NGỌN NÚI MÀ BẠN MUỐN LEO

Đừng nên để những lời tường thuật của những người khác hướng dẫn bạn. Những người nói với bạn " ngọn núi này đẹp nhất " hay " ngọn núi kia dễ leo nhất" sẽ làm cho bạn tổn hao nhiều năng lực và nhiệt tình khi bạn muốn đạt tới mục tiêu. Chính bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm và phải chắc chắn tin tưởng vào điều mà bạn muốn thực hiện.

BIẾT CÁCH ĐỂ ĐI TỚI TRƯỚC NGỌN NÚI

Thông thường, người ta hay nhìn ngọn núi từ xa: đẹp, lý thú và đầy thử thách nhưng khi người ta thử tiến lại gần, chuyện gì sẽ xảy ra? Rất nhiều con đường lòng vòng dẫn tới đỉnh núi, rất nhiều cánh rừng ngăn trở bạn và mục tiêu của bạn, những chi tiết mà bạn nhìn thấy, đọc thấy trong bản đồ lại quá khó khăn trong thực tế. Chính vì thế, bạn hãy thử mọi đường, mọi nẻo, và rồi một ngày bạn sẽ nhận ra rằng mình đứng đối diện với cái đỉnh của ngọn núi mà bạn muốn leo lên được tới tận đỉnh.

HỌC NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI TRƯỚC BẠN ĐÃ LÀM

Bạn tưởng rằng việc bạn làm là duy nhất chỉ mình bạn có mà thôi, nhưng thực ra, thế nào cũng có một người đã làm trước cả khi bạn mơ tưởng tới điều bạn dự định làm, và họ cũng đã để lại dấu vết giúp cho lối đi của bạn được dễ dàng hơn. Đấy chính là một đoạn đường, là trách nhiệm của chính bạn, nhưng đừng quên rằng học kinh nghiệm của người khác chính là sự giúp đỡ to lớn cho bạn.

NHÌN THẬT GẦN THÌ NHỮNG SỰ NGUY HIỂM CÓ THỂ KIỂM SOÁT ĐƯỢC

Khi bạn khởi sự leo núi, hãy lưu tâm đến những gì chung quanh bạn. Lẽ tất nhiên, những vực thẩm, những kẽ hở gần như khó có thể nhận ra. Những viên đá vô cùng bóng bảy vì mưa gió nhưng cũng lại rất trơn trợt như băng đá. Song nếu bạn biết được điểm mà bạn đặt chân vào, bạn sẽ nhận ra được những cái bẫy để biết được mà né tránh chúng.

CẢNH VẬT THAY ĐỔI, HÃY TẬN HƯỞNG

Điều chắc chắn là bạn phải có một mục tiêu rõ rệt trong đầu bạn: lên được tới tận đỉnh núi. Song, theo từng bước chân leo, người ta sẽ nhìn được rõ rệt hơn những cảnh vật, chẳng phải tốn kém gì nếu thỉnh thoảng bạn dừng chân lại để tận hưởng cảnh trí bao quanh. Mỗi một thước đã leo là mỗi dịp bạn có thể được nhìn xa hơn. Hãy lợi dụng những lúc này để khám phá những điều trước đây bạn chưa từng nhận ra được.

HÃY COI TRỌNG THÂN THỂ CỦA BẠN

Chỉ những ai biết điều chỉnh được cơ thể họ thì họ mới có thể xứng đáng thành công trong việc leo núi. Bạn có tất cả thời giờ mà cuộc đời dành cho bạn, hãy bước đều mà không cần phải đòi hỏi gì khác. Nếu như đi nhanh, bạn sẽ mệt mỏi và sẽ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu bạn đi qúa chậm, đêm xuống, bạn sẽ bị lạc đường.

HÃY TÔN TRỌNG THẦN TRÍ CỦA BẠN

Đừng lập đi lập lại với chính bạn rằng " Mình sẽ thành công ." Tâm thần của bạn đã biết điều này, điều mà bạn cần có là cống hiến cho lộ trình dài này để vượt lên. Sự ám ảnh chẳng hữu ích gì cho công cuộc tìm tòi chủ đích của bạn và cuối cùng sẽ làm bạn mất hứng thú. Tuy vậy cũng đừng nói đi nói lại rằng "qủa nhiên khó khăn hơn là mình nghĩ ", vì như vậy bạn sẽ làm hao tổn nội lực của chính bạn.

CHUẨN BỊ ĐỂ ĐI THÊM MỘT ĐOẠN NỮA.

Lộ trình dẫn tới đỉnh núi luôn dài hơn là bạn nghĩ. Đừng phủ nhận sự kiện này, lúc mình tưởng đã tới thì vẫn còn xa. Nhưng cũng như đã chuẩn bị cho điều này thì đâu thành vấn đề gì.

HÃY HÂN HOAN KHI BẠN ĐÃ TỚI ĐƯỢC ĐỈNH NÚI

Vui đùa, reo vang với bốn bề đất trời quanh bạn rằng bạn đã thành công. Hãy để ngọn gió trên cao kia (bởi lẽ ở trên cao luôn thường có gió) tẩy uế linh hồn bạn. Hãy để đôi bàn chân mệt mỏi của bạn được mát mẻ thoáng mồ hôi. Hãy mở rộng đôi mắt, vất bỏ bụi bậm bám trong tâm hồn bạn. Thực là một điều tuyệt diệu mà trước đó chỉ là một giấc mơ, một ảo tưởng xa vời, hiện tại đã nằm trong một phần cuộc đời bạn, bạn đã THÀNH CÔNG.

LÀM MỘT ĐIỀU HỨA

Bạn đã khám phá ra một sức mạnh mà chính bản thân bạn cũng không biết, hãy lợi dụng nó và nó với chính bạn rằng kể từ nay bạn sẽ xử dụng nó cho tới khi nào bạn còn hiện diện trong cuộc sống. Dành ưu tiên, hãy hưá hẹn với bạn rằng bạn sẽ khám tìm, chinh phục một ngọn núi khác nữa, rồi lao mình vào một chuyến phiêu lưu mới.

THUẬT LẠI CÂU CHUYỆN CỦA BẠN

Đúng vậy, hãy kể lại câu chuyện của bạn. Hãy đưa ra ví dụ mà bạn đã thực hiện. Nói với mọi người rằng tất cả đều CÓ THỂ ĐƯỢC và rồi những người khác cũng sẽ lại tự thấy có được lòng can đảm để ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NHỮNG NGỌN NÚI CỦA CHÍNH HỌ.

(Nguồn: NLC Blog)

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2009

Bảo đảm sự phát triển ổn định hệ thống đại học, cao đẳng ngoài công lập ở nước ta



DAYVAHOC. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch Nước, hiện là Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam vừa có bài viết quan trọng "Bảo đảm sự phát triển ổn định hệ thống đại học, cao đẳng ngoài công lập ở nước ta" đăng trên tạp chí cộng sản số 10 (178) ngày 25/5/2009. Một trong những đổi mới quan trọng của giáo dục đại học ở nước ta trong vòng hai thập niên qua là sự ra đời của hệ thống các trường ngoài công lập. Bài viết điểm lại những nét chính của sự phát triển hệ thống đó, nêu một số vấn đề tồn tại và kiến nghị các biện pháp giải quyết (ảnh trên: Một phần của trang website Trường Đại học Dân lập Thăng Long)

1 - Hệ thống các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (NCL) là một thành quả quan trọng của quá trình đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) ở nước ta

Với tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang mô hình kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta được khuyến khích phát triển, đó là cơ sở để ra đời loại hình trường đại học NCL. “Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long”, cơ sở đại học dân lập đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, được xây dựng thí điểm tại Hà Nội vào cuối năm 1988, do một nhóm nhà toán học, đứng đầu là Giáo sư Hoàng Xuân Sính khởi xướng. Trung tâm này dựa trên nguồn kinh phí ít ỏi được quyên góp ở nước ngoài. Lớp đại học đầu tiên của Trung tâm gồm 74 sinh viên ngành toán, học phí mỗi tháng 10.000 đồng (tương đương 10 kg gạo). Gần đây, Trường Đại học dân lập (ĐHDL) Thăng Long được chuyển từ cơ sở dân lập sang tư thục. Hiện nay, trường có khoảng 6.500 sinh viên với gần 20 ngành học, cơ sở mới được xây dựng khá khang trang, hiện đại. Hai mươi năm là một chặng đường không dài đối với quá trình lịch sử của một trường đại học, nhưng thành quả mà những người sáng lập nhà trường đạt được rất đáng khích lệ, đáng để chúng ta suy nghĩ về một mô hình đại học trong thời kỳ đổi mới.

Với sự thành công của 5 năm thí điểm, vào tháng 8-1994 Trường ĐHDL Thăng Long chính thức được thành lập trên cơ sở Trung tâm ĐHDL Thăng Long, sau đó hàng loạt trường ĐHDL khác ra đời. Đến năm 2008, trong cả nước đã có 61 trường đại học và cao đẳng NCL, đào tạo khoảng 12% trong tổng số hơn 1,6 triệu sinh viên đại học cả nước.

Mặc dù việc quản lý, điều hành cũng như chất lượng của hệ thống đại học, cao đẳng NCL còn rất nhiều vấn đề gay cấn mà chúng tôi sẽ bàn đến dưới đây, nhưng rõ ràng hệ thống đó là một thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới GDĐH ở nước ta.

2 - Xu thế đại chúng hóa và tư nhân hóa GDĐH trên thế giới

Hai thập niên đổi mới kinh tế - xã hội và GDĐH ở nước ta cũng trùng hợp với hai thập niên mà GDĐH thế giới có nhiều biến đổi mạnh mẽ, trong đó các xu thế biến đổi quan trọng nhất là đại chúng hóa và thị trường hóa GDĐH. Sự ra đời nhiều đại học tư là hệ quả của xu hướng đại chúng hóa GDĐH và là một biểu hiện của thị trường hóa GDĐH.

Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, tính chất nghề nghiệp thay đổi rất nhanh chóng đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao để đáp ứng. Nhu cầu học đại học của người dân ngày càng cao, số sinh viên đại học trên thế giới tăng nhanh, đặc biệt ở một số nước đang phát triển. Với số lượng sinh viên đại học rất lớn, hầu như không có nước nào trên thế giới đủ ngân sách để bao cấp hoàn toàn cho GDĐH, nên việc huy động các nguồn kinh phí ngoài nhà nước cho GDĐH trở thành chủ trương phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, việc tư nhân hóa GDĐH đã phản ánh xu hướng đó.

Cho đến nay, trên thế giới còn rất ít nước không có trường đại học tư. Mức độ tư nhân hóa GDĐH ở các nước cũng có khác nhau. Các nước sử dụng tiếng Anh có mức độ tư nhân hóa GDĐH mạnh hơn các nước sử dụng tiếng Pháp. Đặc biệt ở các nước kinh tế chuyển đổi (thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ) việc tư nhân hóa GDĐH diễn ra rất mạnh. Xu hướng vì lợi nhuận trong GDĐH cũng tăng, có những nơi như Hoa Kỳ trước đây có rất ít trường đại học vì lợi nhuận thì nay số trường đó cũng tăng lên, thậm chí có trường lớn như Đại học Phoenix. Một số trường theo luật là không vì lợi nhuận nhưng trong hoạt động lại có sắc thái vì lợi nhuận(1).

Sự phát triển hệ thống trường đại học, cao đẳng NCL ở nước ta là cần thiết, phù hợp với trào lưu phát triển chung của thế giới và đường lối đổi mới của Đảng ta.

Tuy nhiên, một câu hỏi lớn được đặt ra là hệ thống các trường đại học, cao đẳng NCL cần phát triển theo hướng nào để bảo đảm cho nước ta có một nền giáo dục lành mạnh, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Muốn trả lời câu hỏi này cần xuất phát từ nhu cầu phát triển đất nước, đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm của thế giới.

3 - Các bài học kinh nghiệm từ một số hệ thống đại học tư trên thế giới

Để đề xuất chủ trương về GDĐH ở nước ta, cần tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, nhất là những nước đi trước ta. Xin nêu ví dụ về GDĐH NCL ở hai nước: một nước mà hệ thống GDĐH tư phát triển sớm nhất và đạt nhiều thành tựu nhất, đó là Hoa Kỳ, và một nước mà điều kiện lịch sử và kinh tế - xã hội rất giống ta nhưng đi trước ta, đó là Trung Quốc.

Về GDĐH NCL ở Hoa Kỳ: Năm 2005(2), hệ thống GDĐH Hoa Kỳ có 4.391 trường, trong đó có 1.737 trường công, 1.746 trường tư không vì lợi nhuận, 908 trường tư vì lợi nhuận (bao gồm phần lớn là các trường đào tạo theo hướng chuyên nghiệp, chỉ có 117 trường có cấp bằng cử nhân và cao hơn). Các trường tư nổi tiếng chất lượng cao của Hoa Kỳ thường có một tài sản hiến tặng rất lớn (tài sản này của Đại học Harvard năm 2007 khoảng 34,6 tỉ USD, đứng đầu bảng). Trong các nguồn kinh phí mà Chính phủ Liên bang đầu tư cho GDĐH có hai nguồn quan trọng: nguồn cho sinh viên vay trực tiếp (khoảng 86 tỉ USD năm 2007) và nguồn dành cho các giáo sư xuất sắc nghiên cứu. Các đối tượng thuộc đại học công hay tư đều được nhận 2 nguồn kinh phí này. Các số liệu trên cho thấy, ngay ở Hoa Kỳ, nước có nền kinh tế thị trường mạnh mẽ nhất, thì: 1 - Phần lớn các trường đại học tư là không vì lợi nhuận; 2 - Đầu tư của nhà nước không chỉ cho trường công, mà cả cho trường tư; 3 - Sinh viên học trường công hoặc trường tư đều được bình đẳng trước sự hỗ trợ của nhà nước. Như vậy, ranh giới trường tư và trường công ở Hoa Kỳ rất mờ, và các trường đại học tư của Hoa Kỳ thường muốn được gọi là các trường “độc lập” (tức là có mức độ tự chủ cao hơn) chứ không muốn được gọi là trường tư.

Tuy nhiên, rất khó noi theo gương đại học tư của Hoa kỳ, vì hệ thống này hình thành và phát triển rất mạnh mẽ qua nhiều thế kỷ, và những con số tài sản hiến tặng của các trường đại học lớn của họ là điều mà không có trường đại học nào của nước khác dám mơ ước.

Về GDĐH NCL ở Trung Quốc: Sau khi ban hành đường lối cải cách mở cửa, Hiến pháp Trung Quốc (năm 1982) công nhận các thành phần giáo dục ngoài nhà nước. Đó là cơ sở để các trường đại học NCL ra đời. Tuy khái niệm và luật lệ về các trường này còn chưa rõ ràng, nhưng chúng đã phát triển rất nhanh, ban đầu không được gọi là trường tư mà bằng các tên gọi khác như trường dân lập, trường dân quản lý... Nói chung GDĐH NCL có vị thế thấp hơn GDĐH công lập, thường tuyển những sinh viên không đỗ các trường công qua kỳ thi chung. Các trường tư hoạt động trong điều kiện thiếu cơ sở vật chất, thiếu giáo chức trình độ cao, phải sử dụng nhiều giáo chức thỉnh giảng từ trường công... Quản lý các trường tư thường được giao cho địa phương. Tuy nhiên, việc quản lý về chất lượng khá chặt chẽ. Năm 2007, Trung Quốc có khoảng 1.400 trường tư, trong đó chỉ có 4 trường được cấp bằng cử nhân, 129 trường được cấp bằng cao đẳng trở xuống, còn khoảng 1.200 trường tư khác không được cấp bằng, mà chỉ được xem như là nơi cung cấp các chương trình học để luyện thi đại học và tự học. Sinh viên các trường này nếu muốn có văn bằng phải dự các kỳ thi chung với sinh viên các đại học mở và người tự học.

Sau gần 20 năm phát triển GDĐH tư ở Trung Quốc, tháng 12-2002 Luật Giáo dục tư liên quan với mọi bậc giáo dục được thông qua, trong đó có một số điều khoản liên quan đến GDĐH. Có một luật riêng cho GDĐH nước ngoài. Điều 51 của Luật Giáo dục 2002 quy định: các nhà đầu tư cho giáo dục tư có thể thu một khoản lợi nhuận “hợp lý”. Tuy nhiên, mức hợp lý đó chưa được quy định rõ. Luật xem đó là phần thưởng của Nhà nước cho nhà đầu tư chứ không phải lợi nhuận. Luật cũng quy định: nếu các cá nhân và tổ chức hiến tặng tài sản cho trường tư thì phần hiến tặng sẽ được miễn giảm thuế. Sau năm 2002, Nhà nước lại cho phép xây dựng các trường hạng hai (second-tier colleges) trong các trường công, dựa vào cơ sở hạ tầng và đội ngũ giáo chức của trường công để kinh doanh thu học phí. Hiện có khoảng 300 trường hạng hai như vậy. Nhờ “ăn theo” uy tín các trường công, các trường hạng hai này có ưu thế hơn hẳn các trường tư, cho nên các trường đại học tư ở Trung Quốc cho rằng, với chủ trương đó

Nhà nước “đã kéo tấm thảm trải dưới chân họ”. Cuộc cạnh tranh giữa các trường đại học công và tư xảy ra khá quyết liệt mà ưu thế thuộc về các trường công hạng hai. Năm 2006, Trung Quốc có 20,2 triệu sinh viên, trong đó số sinh viên của các trường tư là 1,34 triệu (6,6%), của các trường công hạng hai là 1,47 triệu (7,3%)(3).

Qua tình hình phát triển GDĐH NCL của Trung Quốc, có thể thấy Trung Quốc cũng lúng túng trong chủ trương phát triển loại hình giáo dục này, tuy nhiên từ đó chúng ta có thể rút ra vài bài học kinh nghiệm: 1 - Trung Quốc đã chú ý thích đáng đến quản lý chất lượng (văn bằng) của các trường đại học NCL; 2 - Nếu không quy định rõ khái niệm vì lợi nhuận, không vì lợi nhuận, thì hệ thống GDĐH NCL không thể phát triển ổn định được.

4 - Về các chính sách của Nhà nước ta liên quan đến phát triển GDĐH NCL
Năm 1993, quy chế đầu tiên về đại học tư thục đã được Chính phủ ban hành theo Quyết định số 240/TTg, ngày 24-5-1993, nhưng chưa được thực hiện, vì lúc đó từ “tư thục” còn gây nhiều phân vân trong giới lãnh đạo. Với kinh nghiệm thí điểm từ hoạt động của Trung tâm ĐHDL Thăng Long, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tạm thời về ĐHDL (tháng 1-1994) để đáp ứng cho hàng loạt trường ĐHDL ra đời vào những năm 1993 - 1994. Đến tháng 7 năm 2000, Chính phủ ban hành quy chế chính thức về các trường ĐHDL. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, quy chế ĐHDL đã bộc lộ một số nhược điểm sau đây:

- Quy định ĐHDL phải do một “tổ chức” xã hội xây dựng, mỗi trường ĐHDL phải tìm cho mình một tổ chức nào đó một cách rất hình thức để hợp thức hóa, tổ chức này thực sự không giúp gì cho nhà trường trong hoạt động mà đôi lúc gây khó khăn. Quy chế quy định nhà trường theo chế độ sở hữu tập thể, nhưng không nói rõ tập thể nào là chủ sở hữu và quyền hạn của họ ra sao;

- Có một số quy định vi phạm quyền tự chủ của nhà trường, chẳng hạn áp đặt độ tuổi của ủy viên Hội đồng quản trị, của hiệu trưởng...

- Quy chế quy định nhà trường mặc nhiên được cấp bằng và văn bằng “nằm trong hệ thống bằng cấp quốc gia” mà không đòi hỏi một cơ chế kiểm định chất lượng văn bằng đó, do vậy trên thực tế, việc quản lý chất lượng văn bằng của ĐHDL đã bị bỏ trống.
Một số văn bản khác của Nhà nước ban hành trong những năm gần đây lưu ý nhiều đến các loại hình trường NCL. Chẳng hạn, Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, ngày 19-8-1999, về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao đã đưa ra những biện pháp khuyến khích các loại hình nhà trường NCL, như cấp đất cho trường và miễn thuế sử dụng đất, khuyến khích giáo chức từ các trường công lập chuyển sang làm việc ở các trường NCL... Tháng 4-2005, Chính phủ lại ra Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao. Nghị quyết này có một số ý quan trọng và mạnh hơn liên quan đến hệ thống các trường NCL:

- Quy định sẽ chỉ còn hai loại hình trường NCL (trường dân lập và trường tư), các trường NCL có thể hoạt động theo cơ chế vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, Nhà nước khuyến khích các trường theo cơ chế không vì lợi nhuận (Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo là ở bậc đại học chỉ có loại hình trường tư, còn loại hình trường dân lập dành cho các bậc giáo dục thấp);

- Định hướng đến năm 2010 số lượng sinh viên khối NCL chiếm khoảng 40% tổng số sinh viên;

- Sẽ xây dựng các chính sách khuyến khích khối các trường NCL: cấp đất, miễn thuế...

- Sẽ tạo một môi trường lành mạnh để các trường công lập và NCL cạnh tranh bình đẳng với nhau: thực hiện chính sách đấu thầu cung ứng dịch vụ do Nhà nước đặt hàng, mọi loại trường đều có quyền tham gia; cấp kinh phí hỗ trợ của Nhà nước trực tiếp cho người học để họ tự lựa chọn nơi học, không phân biệt công lập hoặc NCL... Trên đây là các nghị quyết và nghị định quan trọng, nhưng các ý tưởng trong các văn bản đó đi vào cuộc sống hết sức chậm chạp, do thói quen tư duy từ thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn rất nặng nề. Việc thực thi các chính sách cụ thể của Nhà nước đôi chỗ cũng chưa quán triệt tinh thần Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, như sinh viên các đại học NCL vẫn chưa được hưởng học bổng khuyến khích học tập (tuy tỷ lệ sinh viên nghèo ở các trường NCL có thể còn cao hơn một số trường công), giáo chức các đại học NCL chưa được thực sự bình đẳng với giáo chức các trường công về việc được học tập, bồi dưỡng về trình độ, nghiệp vụ ở nước ngoài v.v..

Một quy chế khác về đại học tư thục (ĐHTT) được ra đời theo Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17-1-2005 của Thủ tướng Chính phủ. Khác với quy chế ĐHDL, quy chế này quy định các ĐHTT đều là các trường vì lợi nhuận, bởi có chia lợi nhuận cho những người sở hữu. Như vậy, quy chế ĐHTT không thể hiện đầy đủ nội dung của Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP. Nghị định của Chính phủ số 75/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục khi nói về cơ cấu của hội đồng quản trị trong các trường ĐHTT cũng quy định hội đồng này chỉ bao gồm “những người góp vốn xây dựng trường”, không nhắc đến các thành phần đại diện cho cộng đồng xã hội và đại diện cho sinh viên mà các trường tư không vì lợi nhuận trên thế giới đều có.

Tháng 5-2006 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 122/2006/QĐ-TTg cho phép 19 trường ĐHDL chuyển sang ĐHTT và quy định thủ tục chuyển đổi phải hoàn thành vào cuối tháng 6 năm 2007. Tuy nhiên, cho đến ngày 31-12-2007 chỉ một trường duy nhất là ĐHDL Thăng Long hoàn thành thủ tục chuyển đổi. Lý do chính của sự chậm trễ này là quy chế ĐHTT năm 2005 không đáp ứng quá trình chuyển đổi, các khái niệm quan trọng liên quan đến quyền sở hữu cá nhân và quyền sở hữu tập thể, cơ chế vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận còn chưa được làm rõ. Các chính sách khác được nêu dưới dạng ý tưởng trong các nghị quyết chưa được thể hiện bằng luật lệ. Ngay đối với trường ĐHDL Thăng Long, trường duy nhất được quyết định chuyển đổi sang ĐHTT đầu tiên, thì quy chế ĐHTT năm 2005 cũng không hoàn toàn phù hợp: Đại học Thăng Long là một trường không vì lợi nhuận và không phân chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn với bất cứ tỷ lệ nào, nhưng quy chế ĐHTT năm 2005 lại quy định chia lợi nhuận. Chính phủ đã có kế hoạch soạn thảo một quy chế ĐHTT khác phù hợp hơn để chuyển đổi các ĐHDL sang các ĐHTT và quản lý các ĐHTT được thành lập trong mấy năm qua, nhưng cho đến nay quy chế đó vẫn chưa ra đời.

5 - Cần bảo đảm sự phát triển ổn định và lành mạnh của hệ thống đại học, cao đẳng NCL nước ta

Tư nhân hóa GDĐH là một xu hướng mới trên thế giới cũng như ở nước ta. Để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của hệ thống đó chúng ta cần khẩn trương xây dựng đủ các khung pháp quy cho hệ thống.

Qua phân tích kinh nghiệm thế giới và hoàn cảnh cụ thể của nước ta, chúng tôi đề nghị Nhà nước khẳng định GDĐH Việt Nam phù hợp với đường lối chính trị của nước ta, chủ yếu là không vì lợi nhuận. Khung pháp quy làm cơ sở cho hệ thống đại học tư không vì lợi nhuận phải bảo đảm các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, các khái niệm về sở hữu (sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng) cũng như các khái niệm vì lợi nhuận, không vì lợi nhuận phải được làm rõ.

Một trường tư không vì lợi nhuận không thuộc sở hữu nhà nước, nhưng cũng không thuộc sở hữu tư nhân của chỉ những người góp vốn xây dựng trường hoặc sở hữu tập thể của những người làm việc trong trường đó, mà là sở hữu cộng đồng, tức là những người quản lý có quyền khai thác nó để phục vụ cộng đồng nhưng không có quyền mua bán, chuyển nhượng. Hội đồng quản trị của đại học tư không vì lợi nhuận đại diện cho sở hữu cộng đồng này.

Khái niệm “không vì lợi nhuận” nên hiểu là “không vì lợi nhuận tối đa” như các doanh nghiệp tư nhân nói chung, nhưng ở nước ta nên chấp nhận một mức lợi nhuận hợp lý cho những người góp vốn, có như vậy mới khuyến khích các nhà đầu tư. Theo ý kiến một số người, mức lợi nhuận hợp lý có thể quy định ở mức cao hơn, nhưng không nhiều so với mức lãi suất tiền tiết kiệm của ngân hàng.

Thứ hai, để khuyến khích đầu tư cho giáo dục, Nhà nước nên có chính sách miễn thuế cho các trường không vì lợi nhuận, thu thuế tuyển dụng nhân lực của các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm của các trường đại học để tái phân phối hỗ trợ cho các trường.

Thứ ba, phải có cơ chế kiểm toán chặt chẽ bảo đảm tuyên bố “không vì lợi nhuận” của một trường không phải là lời nói suông, mà được thực hiện trên thực tế.

Thứ tư, về tổ chức, để trường đại học thực sự là một cơ sở không vì lợi nhuận, hội đồng quản trị của trường không thể chỉ bao gồm những người góp vốn, mà cần có thành phần đại diện cho cộng đồng và sinh viên.

Thứ năm, để bảo đảm chất lượng văn bằng của các trường đại học tư, chỉ nên cho phép trường cấp văn bằng chính thức sau khi được kiểm định công nhận.

Thứ sáu, bảo đảm bình đẳng thật sự giữa các trường đại học công và đại học tư không vì lợi nhuận: cả hai trường đều được quyền tham dự các đấu thầu cung ứng dịch vụ do Nhà nước đặt hàng, sinh viên và giáo chức hai loại trường đều bình đẳng trong việc hưởng các loại tài trợ của Nhà nước.

Trường đại học nào không chấp nhận các yêu cầu nêu trên để trở thành một trường không vì lợi nhuận thì phải tuân theo cơ chế vì lợi nhuận, lúc đó nhà trường được xem như một doanh nghiệp thông thường và phải đóng thuế.

Hệ thống GDĐH NCL ở Việt Nam còn khá non trẻ. Từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến khu vực này và sự quan tâm ngày càng tăng. Tuy nhiên, các luật lệ và chính sách để bảo đảm sự phát triển lành mạnh của hệ thống giáo dục này còn thiếu nhất quán và cụ thể. Kỳ vọng cao về sự đóng góp của khu vực các trường đại học NCL cho GDĐH là đúng đắn, nhưng kỳ vọng đó chỉ thật sự trở thành hiện thực khi có các chính sách và lộ trình hợp lý.

Chúng tôi hy vọng một khung pháp quy bao hàm các yếu tố đã đề nghị trên đây sẽ góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định và lành mạnh của hệ thống các trường đại học, cao đẳng NCL ở nước ta./.

Tài liệu dẫn:
(1) Daniel C. Levy: Private Higher Education: Patterns and Trends. Boston College, International Higher Education, N0 58, 2008


(2) The Chronicle of Higher Education, Vol LV, N0 1, August 29, 2008, Almanac Issue 2008 - 2009

(3) Ruth Hayhoe and Jing Lin: Chinas Private Universities: A Successful Case Study, Boston College, International Higher Education, N0 51, 2008