Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009

Mười câu hỏi kinh điển trong buổi phỏng vấn



DẠY VÀ HỌC. Có ít nhất 4 trong số 10 câu hỏi sau luôn được hỏi trong buổi phỏng vấn. Bạn có thể quá quen thuộc với chúng, nhưng hãy cẩn thận! Nếu không có cách trả lời phù hợp, bạn vẫn có thể bị loại ngay từ vòng đầu!

Câu hỏi 1: Hãy kể cho tôi nghe đôi điều về bạn
Có đến 98% các cuộc phỏng vấn tuyển dụng bắt đầu bằng câu hỏi này. Đừng bao giờ kể “tràng giang đại hải” về tiểu sử bản thân ở đây! Cái NTD muốn nghe chỉ là một đoạn mô tả ngắn gọn chừng 2-3 phút về bạn và “vốn” bạn đã chuẩn bị để có thể ứng tuyển vào vị trí này (bằng cấp, kinh nghiệm làm việc, thành tích đã đạt được…). Hãy chuẩn bị một vài điểm nhấn để quảng bá bản thân, nhưng phải phù hợp với vị trí bạn ứng tuyển để tránh gây phản tác dụng. Chẳng hạn, bạn không nên “khoe”: “Tôi vừa hoàn thành một khóa học thiết kế đồ họa với kết quả xuất sắc” khi ứng tuyển vào vị trí nhân viên kinh doanh hóa chất!

Câu hỏi 2: Tại sao bạn muốn làm việc ở công ty chúng tôi?
Khi hỏi câu này, NTD muốn kiểm tra xem bạn đã nghiên cứu, tìm hiểu về công ty trước khi đến dự phỏng vấn hay chưa. Đương nhiên là bạn cần nói tốt về công ty, nhưng đừng ca ngợi một cách sáo rỗng hay chỉ nói suông. Chẳng hạn, nếu bạn nêu lý do: “Tôi thích được làm việc trong những doanh nghiệp biết trân trọng người lao động như ở đây” thì nên giải thích thêm bạn dựa vào những thông tin, số liệu nào để đúc kết được điều này.

Câu hỏi 3: Bạn nghĩ lý do gì khiến chúng tôi nên tuyển dụng bạn?
Đây lại là một cơ hội tốt để bạn quảng bá cho bản thân. Hãy chuẩn bị 3 điểm mạnh để “PR” cho mình. Tuy nhiên, chúng phải cụ thể và phù hợp với vị trí bạn nộp hồ sơ vì NTD luôn muốn tuyển “đúng người” cho “đúng việc”. Chẳng hạn, nếu ứng tuyển vào vị trí giám sát bán hàng, bạn có thể trình bày như sau: “Với 4 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bán hàng và đã giúp công ty cũ tăng doanh thu 20%, tôi tự tin mình sẽ đóng góp được nhiều nếu trở thành nhân viên công ty”.

Câu hỏi 4: Tại sao bạn lại rời bỏ công việc cũ?
Đây là một câu hỏi “nhạy cảm”. Phần đông tài liệu tư vấn nghề nghiệp khuyên bạn tuyệt đối không đề cập đến những điểm tiêu cực trong công việc cũ vì sẽ làm bạn “mất điểm” trong mắt NTD. Thật ra, điều này còn tùy thuộc vào NTD. Chị X, Phụ trách nhân sự ở Văn Phòng Điều Hành Công Trình tại TP. HCM của công ty Bouygues Batiment International (Pháp), đã từng đánh giá rất cao một ứng viên khi cô trả lời như sau: “Em không muốn làm việc trong một công ty mà quyền hành tập trung vào tay một Trưởng phòng (người Việt Nam). Với em, môi trường làm việc như vậy là không lành mạnh. Em cần một môi trường tốt hơn để phát triển sự nghiệp”. Theo chị X, ứng viên này là người thẳng thắn, có bản lĩnh, dám nghĩ dám làm. Vì thế, cách tốt nhất là bạn đề cập một vài điểm tiêu cực (nếu có) ở công việc cũ nhưng đừng quên nhấn mạnh khía cạnh tích cực của lý do bạn ra đi như “Muốn thử sức ở một môi trường mới”.

Câu hỏi 5: Đâu là điểm yếu của bạn?
Cách hay nhất để trả lời câu hỏi này là thành thật thừa nhận điểm yếu của bạn, nhưng đồng thời phải chỉ ra được cách thức bạn đã khắc phục nó. Chẳng hạn nếu bạn từng yếu trong việc lập kế hoạch và quản lý thời gian thì hãy chỉ ra cách mà bạn đã khắc phục như lên lịch làm việc chi tiết vào đầu ngày rồi xếp mức ưu tiên cho từng công việc. Như vậy, NTD sẽ đánh giá bạn là người luôn quyết tâm cải thiện năng lực bản thân.

Câu hỏi 6: Khả năng làm việc nhóm của bạn có tốt không?
Gần như tất cả mọi người đều trả lời “Tốt” hoặc “Khá tốt” đối với câu hỏi này. Tuy nhiên, chỉ trả lời như thế thôi thì chưa đủ để thuyết phục NTD. Bạn nên nói thêm về lợi ích của làm việc tập thể so với làm việc cá nhân và những yếu tố giúp bạn làm việc nhóm tốt. Đồng thời, bạn cần cho ví dụ về một dự án bạn đã tham gia thực hiện. Chẳng hạn: “Tháng 2 năm rồi, tôi nhận trách nhiệm quản lý dự án sản xuất phần mềm cho một bệnh viện. Do nhóm của tôi có một số người mới nên lúc đầu sự phối hợp giữa các thành viên chưa tốt. Sau đó, tôi cải tiến lại quy trình làm việc, đồng thời gia tăng việc đào tạo cho các thành viên mới. Nhờ vậy, mọi chuyện dần cải thiện. Cuối cùng, phần mềm đó được khách hàng nghiệm thu, đánh giá cao và đưa vào sử dụng ngay.”

Câu hỏi 7: Bạn đã bao giờ có mâu thuẫn với đồng nghiệp chưa? Bạn giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?
Lưu ý đối với câu hỏi này, nếu bạn trả lời: “Tôi chưa bao giờ có mâu thuẫn với đồng nghiệp”, NTD sẽ nghi ngờ và tiếp tục “tra hỏi” cho đến khi tìm ra sự thật. Cách tốt nhất là bạn nên “nói giảm, nói tránh” một chút, đồng thời chỉ ra cách giải quyết của bạn, chẳng hạn: “Không đến mức gọi là mâu thuẫn. Tôi chỉ có một vài lần bất đồng ý kiến với đồng nghiệp. Khi chuyện xảy ra, tôi đề nghị được gặp trực tiếp họ và dành thời gian để lắng nghe quan điểm của họ. Sau đó, chúng tôi thảo luận cho đến khi tìm ra một giải pháp khả dĩ nhất cho đôi bên.”

Câu hỏi 8: Mục tiêu nghề nghiệp của bạn trong vòng 5 năm tới là gì?
Nếu bạn đã lập kế hoạch nghề nghiệp thì bây giờ chỉ việc sử dụng những thông tin trong đó để giới thiệu với NTD. Ví dụ: “Trong vòng 5 năm tới, tôi muốn trở thành trưởng phòng phân tích tài chính của một doanh nghiệp lớn. Chính vì thế, hiện nay tôi đang theo học một khóa Chartered Financial Analyst (CFA) ở Trung tâm FTMS.”

Câu hỏi 9: Bạn đề nghị mức lương ra sao?
Đây là câu hỏi khó nhất trong tất cả các câu hỏi, đặc biệt với những người ít kinh nghiệm. Để trả lời tốt câu hỏi này, trước khi đi phỏng vấn, bạn hãy tìm hiểu mức lương phổ biến trên thị trường đối với vị trí bạn ứng tuyển. Sau đó kết hợp với mức lương bạn mong muốn và mức lương gần đây nhất của bạn để có thể đưa ra câu trả lời thích hợp nhất. Tốt nhất là bạn nên đề nghị mức lương kiểu "khoảng" hơn là một con số chính xác.

Câu hỏi 10: Bạn có câu hỏi nào cho chúng tôi không?
Hãy tận dụng cơ hội này để thể hiện sự nhiệt thành của mình với công việc! Hãy hỏi NTD ít nhất một câu, có thể là về chế độ phúc lợi, điều kiện và thời gian làm việc …; chẳng hạn: “Tôi có phải làm việc vào ngày thứ bảy không?”. Không nên nói “Không, anh/chị đã trả lời tất cả các câu hỏi của tôi rồi.” hoặc “Không, tôi không có câu hỏi nào cả.”

Trả lời phỏng vấn tuyển dụng vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Vì là nghệ thuật nên bạn cần nghiên cứu mới biết cách trả lời. Tuy nhiên, do cũng là nghệ thuật nên bạn phải linh hoạt, khéo léo thì mới trả lời phỏng vấn tuyển dụng thật sự tốt được. Vì thế, bạn đừng bao giờ học thuộc lòng những ví dụ trên đây rồi “trả bài” cho NTD! Chúng chỉ đóng vai trò định hướng, gợi cảm hứng cho bạn sáng tạo và tìm ra những cách trả lời phù hợp nhất với bản thân. Chúc bạn may mắn khi tìm việc nói chung và dự phỏng vấn tuyển dụng nói riêng!

Nguồn: http://vnecon.com/

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2009

Lê Đạt, Người Hiền

Nguyên Ngọc, Tia Sáng 16/4/2009

Lê Đạt là người có ý thức sâu sắc, rõ rệt hơn cả về con đường đi của mình, cũng là con đường đi của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính trong những điều kiện khắc nghiệt của chuyển động lịch sử và xã hội đầy éo le của đất nước thời anh sống. Và anh hiểu điều đó vừa bằng một tâm hồn và một tài năng nghệ sĩ không hề nhỏ, vừa bằng một tri thức khổng lồ về văn hóa văn minh dân tộc và nhân loại mà anh kiên trì chiếm lĩnh suốt đời.

Trong tiến trình văn hóa và tư tưởng của chúng ta từ khoảng năm bảy chục năm nay có một hiện tượng rất đáng chú ý, chừng nào đó thậm chí có tính quy luật. Đó là hiện tượng về vai trò, vị trí và hành xử của người trí thức trong xã hội. Trí thức Việt Nam tuy nhỏ, có thể không bằng được ở một số quốc gia lớn và độc lập lâu đời, nhưng có đặc điểm nổi bật là hết sức yêu nước. Cũng dễ hiểu thôi, họ là trí thức của một dân tộc bị mất nước hàng thế kỷ, chính vì là trí thức nên trong họ nỗi đau và nỗi nhục mất nước nên càng sâu đậm, thống thiết. Mà cách mạng của ta, rồi tiếp liền sau đó là kháng chiến, trước hết và chủ yếu là cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc. Cho nên tuyệt đại đa số trí thức Việt Nam, những người ưu tú nhất trong số họ, đều đi với cách mạng và kháng chiến, số người vì lý do này khác không cùng đi hoặc không đi được đến cùng rất ít.

Lê Đạt như chúng ta biết, rất ít nói và rất khiêm nhường, rất súc tích cả trong lối sống lẫn trong phát ngôn bởi rất từng trải, chỉ những người thật từng trải qua trầm luân đắng cay lắm mới có được, thâm trầm và nhân hậu trong cuộc sống, sâu sắc và uyên thâm trong tri thức, chín chắn mà mới mẻ, luôn mới mẻ và dồi dào đến lạ trong sáng tạo. Như một Người Hiền.

Nhưng trí thức thì bao giờ cũng vậy, ở đâu cũng vậy, đối với họ khát vọng sâu xa nhất, lâu dài nhất, sống còn nhất là tự do. Độc lập và tự do không phải bao giờ cũng hoàn toàn là một, nhất là khi cuộc chiến đấu vì độc lập ở trong điều kiện khó khăn, khốc liệt như chúng ta đã phải đối mặt lâu dài vừa qua, và tự do là tự do cho đến tận từng con người, từng cá nhân. Trong điều kiện đó, khối tuyệt đa số trí thức của chúng ta đi với cách mạng và kháng chiến đã có một hành xử tuyệt đẹp: họ tự nguyện tạm dẹp lại những yêu cầu về tự do vốn là lẽ sống của họ, vì đòi hỏi cấp thiết hơn của cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc. Trong lực lượng chung đó nổi bật vai trò của trí thức văn nghệ sĩ, không phải vì họ “giỏi” hơn, sâu sắc hơn, nhưng vậy đó, cuộc sống đã giao cho họ chức năng đặc biệt là suy nghĩ và phát ngôn của xã hội. Cho nên cũng chính trong trí thức văn nghệ sĩ, chịu khó quan sát kỹ và tinh ý đôi chút, sẽ không khó nhận thấy thỉnh thoảng ít nhiều biểu hiện của mâu thuẫn tiềm ẩn được tạm dẹp lại vừa nói trên. Cuộc tranh luận về cái gọi là “nghệ thuật và tuyên truyền” ngay giữa thời kháng chiến chống Pháp, trong đó Tô Ngọc Vân - họa sĩ tài năng nhất và cũng tâm huyết nhất, người đã hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ - phải chịu nhận phần thua, là một trong những bằng chứng… Nghĩa là “tạm dẹp lại” vì nghĩa lớn của đại cuộc, nhưng về cơ bản không mất đi, không yên, không thể yên. Nó tất sẽ bùng dậy mỗi khi yêu cầu độc lập dân tộc bớt căng ... Tôi nghĩ cần hiểu cái gọi vụ Nhân văn Giai phẩm, và anh Lê Đạt, một trong những nhân vật trung tâm của sự kiện đó, trong bối cảnh lịch sử và xã hội ấy. Nó diễn ra sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, tức là khi vấn đề dân tộc đã được giải quyết một bước lớn - và sau năm 1975 khi vấn đề độc lập dân tộc đã được giải quyết về cơ bản thì lại có hiện tượng tương tự, lần này rộng lớn, sâu và dai dẳng hơn. Nghĩa là quả có một quy luật thật. Hoặc nói rõ hơn, trong người trí thức Việt Nam đi với cách mạng và kháng chiến ít nhiều đều có một “giằng xé” bên trong, mà họ phải vượt qua, và mỗi người đã vượt qua một cách khác nhau. Anh Lê Đạt đã vượt qua theo cách của anh, riêng anh, để trở nên một Lê Đạt như chúng ta biết, rất ít nói và rất khiêm nhường, rất súc tích cả trong lối sống lẫn trong phát ngôn bởi rất từng trải, chỉ những người thật từng trải qua trầm luân đắng cay lắm mới có được, thâm trầm và nhân hậu trong cuộc sống, sâu sắc và uyên thâm trong tri thức, chín chắn mà mới mẻ, luôn mới mẻ và dồi dào đến lạ trong sáng tạo. Như một Người Hiền.

Trong một bài viết gần đây trên Tạp chí Tia Sáng, anh Cao Huy Thuần có nói rất hay về hai kiểu ứng xử khác nhau của người trí thức trước những tình thế phức tạp và tế nhị của thế cuộc: kiểu André Malraux và kiểu Albert Camus1. Tôi nhớ chỉ vài tuần trước khi anh Lê Đạt mất, cũng chính ở Tòa soạn Tia Sáng, chúng tôi có trao đổi với nhau về hai cách hành xử của hai nhà trí thức lớn đó. Hôm ấy anh Lê Đạt bảo Camus triệt để hơn, anh trọng Camus hơn, về tư tưởng, cả về nhân cách lẫn tài năng mà anh cho là đều lớn hơn. Thậm chí, vốn rất cẩn trọng, vậy mà anh không ngại tỏ ý chê Malraux… Song, lạ vậy, trong cuộc đời thật của mình, đối mặt với những chọn lựa lớn mấy mươi năm dài, theo tôi anh Lê Đạt đã hành xử theo cách Malraux chứ không phải theo cách Camus. Hoặc đúng hơn, anh đã bị giằng xé trong chọn lựa giữa kiểu Malraux và kiểu Camus, và đã đi từ Malraux đến Camus. Rất có thể đây là một trường hợp khá điển hình về người trí thức Việt Nam trong cách mạng, điển hình không phải vì nó phổ biến, mà vì nó là biểu hiện tập trung tấn kịch căng thẳng đến sâu thẳm của người trí thức.

Hồi làm việc ở Hội Nhà Văn, tôi biết Hội sở hữu một thư viện không lớn lắm nhưng có một số sách hết sức quý do Sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng. Tôi thường mò xuống đấy, có khi lang thang suốt ngày giữa cái kho báu tuyệt vời ấy. Buồn thay, kho sách vô giá lại thường vắng tanh. Hôm nào tôi cũng chỉ gặp ở đấy duy nhất có một người cùng lang thang: anh Lê Đạt. Tôi biết anh đã lâu nhưng thân anh chính là từ dạo ấy. Bạn sách. Anh ấy là một con mọt sách, suốt đời. Anh sống đầm mình suốt đời trong trí tuệ lớn của toàn nhân loại. Từ đó tìm lấy chọn lựa sống và viết cho mình trên đời này. Những anh em thường tụ hội nhau ở Tạp chí Tia Sáng đều biết rõ con người rất thường lẫn khuất và hết sức giản dị ấy lại là một cuốn tự điển sống hầu như bất tận. Cả về tri thức đông tây kim cổ, lẫn trải nghiệm muôn mặt cuộc đời.

Có lẽ rồi chúng ta sẽ dần dần nhận ra khoảng trống anh vừa để lại cho chúng ta hôm nay là một khoảng trống chẳng biết bao giờ mới lấp được của một nhà hiền triết, người đã gian nan mà nhẹ nhàng đi qua những tình thế chẳng hề đơn giản và dễ dàng của đất nước gần ngót một thế kỷ qua.
—-
1 Xem bài “Giữa đất và trời” của Cao Huy Thuần – Tia Sáng số 8 – 20-4-2008

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2009

Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung: Một số nhiệm vụ cần triển khai



GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân

Với diễn biến hiện nay về biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng, bài viết đề cập đến những tác động lên môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng duyên hải miền Trung (DHMT); đề ra những nhiệm vụ cần tiến hành trong các lĩnh vực nghiên cứu triển khai, phát huy và đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với đất nước trong những thập kỷ tới, và cần được nhận thức đúng mức.

I.MỞ ĐẦU

Nếu ở thời điểm hiện nay còn có ý kiến khác nhau về nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì việc khí hậu trên hành tinh Trái Đất đang nóng lên, kéo theo nó là việc tan băng ở Bắc và Nam Cực cũng như mực nước biển trung bình đang dâng lên từ hơn một thế kỷ qua là một thực tế mà nhân loại phải ứng phó.

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã nhận định rằng những hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu trực tiếp tác động đến sự sinh tồn của loài người, cụ thể đến Tài nguyên nước, Năng lượng, Sức khỏe con người, Nông nghiệp và an ninh lương thực và Đa dạng sinh học [1]. Năm lĩnh vực này lại có liên quan mật thiết với nhau.

Là một quốc gia nằm trên bao lơn của Biển Đông thông ra Thái Bình Dương, với hơn 75% dân số sống dọc theo một bờ biển dài hơn 3200 km và tại hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, Việt Nam thuộc vào loại các nước bị uy hiếp nhiều nhất bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng. Câu hỏi hiện nay không còn là “Liệu các hiện tượng có ảnh hưởng đến đất nước ta hay không?”mà là “Ứng phó như thế nào để giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững”.

Bài viết này đề cập đến tác động của mực nước biển dâng, hệ quả trực tiếp của biến đổi khí hậu, lên môi trường tự nhiên cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của các tỉnh dọc duyên hải miền Trung. Từ đó nêu lên các nhiệm vụ cần triển khai [2]. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đầu nguồn Himalaya của sông Mê-kông và tác động của nó lên nguồn nước sông Mê-kông đổ vào đồng bằng sông Cửu Long được giả thiết là như hiện nay. Những địa bàn khác sẽ được đề cập đến trong một bài viết sau.

II.DỰ BÁO VỀ MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG

Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức liên chính phủ về Biến đổi khi hậu (IPCC) [3] đã đánh giá thực tế quá trình mực nước biển dâng trên thế giới trong 120 năm qua, từ 1880 đến năm 2000, và từ đó đã dự báo các kịch bản mức nước biển dâng đến cuối thế kỷ XXI, tuỳ theo các kịch bản về hiệu ứng nhà kính và tan băng. Hình 1.



Hình 1. Mực nước biển dâng trong 120 năm ( 1880-2000 ) và dự báo mực nước biển dâng trong thế kỷ 21

Mức độ nghiêm trọng của biển dâng tác động lên các châu thổ trên thế giới, tình hình xâm thực của các bờ biển, và tác động lên cư dân ở những nơi này cũng đã được dự báo. Hình 2 và Hình 3.

Đối với khu vực Đông Dương, IPCC dự báo nhiệt độ sẽ gia tăng +1°C vào 2010 - 2039, và +3° đến +4°C vào 2070 – 2099; vũ lượng sẽ giảm 20 mm vào 2010 – 2039, rồi sau đó tăng +60 mm vào 2070 – 2099; mực nước biển dâng cao 6 cm/năm, đạt mức 20 cm vào 2030, và 88 cm vào 2100.

Qua các đo đạc đã được tiến hành, IPCC đã ghi nhận những biến đổi về nhiệt độ nước biển bề mặt và mực nước biển ở Đông Nam Á. Hình 4 và Hình 5.

Qua các dự báo trên, Việt Nam được liệt vào các địa bàn bị uy hiếp nghiêm trọng nhất.



Hình 2. Dự báo ảnh hưởng của biển dâng đến các châu thổ trên thế giới



Hình 3. Dự báo ảnh hưởng của biển dâng đến bờ biển và cư dân ven biển

Theo dự báo của Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ở Việt Nam mực nước biển sẽ dâng cao từ 3 đến 15 cm năm 2010 và từ 15 đến 90 cm vào năm 2070; các vùng ảnh hưởng gồm có Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình. Cũng theo dự báo này, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét thì 23% dân số sẽ thiếu đất [4].



Hình 4. Biến đổi nhiệt độ nước biển bề mặt trong khu vực Đông Nam Á - Hình 5. Biến đổi của mực nước biển trong khu vực Đông Nam Á

III.DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN DÂNG LÊN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều vùng sẽ bị ngập. Nhưng hậu quả của biển dâng không phải chỉ có ngập tĩnh.

Động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỡ khi tiếp cận bờ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở hạ tầng ven biển bị đe dọa lớn hơn.

Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sâu hơn, thời gian ngập kéo dài hơn. Xâm nhập mặn sẽ vào sâu hơn, nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thủy văn, thủy lực trên từng địa bàn và trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho động thái bồi xói bờ sông, cù lao, cồn bãi, bồi lắng phù sa trên hệ thống sông chính và vùng cửa sông cũng thay đổi.

III. 1.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành vào khoảng 11000 năm trở lại đây. Cao trình mặt đất tương đối thấp. Trên nhiều vùng khá rộng, trong Đồng Tháp Muời, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau chẳng hạn, nhiều nơi cao trình chỉ vào khoảng 20 – 30 cm.

Với những tác động đã đề cập trên đây, các yếu tố thủy nông quyết định cơ cấu mùa vụ, sinh thái thủy vực, hệ sinh thái rừng ngập nước ngọt (trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và trong U Minh thượng và hạ), ... chịu tác động mạnh mẽ, thậm chí có nơi đe dọa cả chính sự tồn tại.

Đồng bằng sông Cửu Long trước đây rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong một thập kỷ, năm 1997 đã chịu cơn bảo Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão Durion quét qua (Hình 7). Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lích và đi về hướng đường xích đạo, với nhiệt độ nước biển trên bề mặt tăng, kết quả của dòng hải lưu bị thay đổi bởi biến đổi khí hậu toàn cầu.

Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng 5/2008 (Hình 6) và hậu quả nặng nề mà cơn bảo đã gây ra là một cảnh báo đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Tàn phá mà đuôi cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ còn lớn lao hơn và khắc nghiệt hơn nhiều nếu mực nước biển dâng lên so với hiện nay (Hình 7).



Hình 6. Bão NARGIS vào Myanmar 2/5/2008



Hình 7. Đuôi bão Durion vào ĐBSCL 11/2006

III. 2.VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG

Vùng duyên hải miền Trung được cấu tạo bởi một dải đất kẹp giữa dãy Trường Sơn về phía Bắc, và vùng cao Nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) về phía Nam, và Biển Đông. Dải đất bị chia cắt bởi nhiều nhánh núi Trường Sơn vươn ra đến tận biển, và một số con sông ngắn mà lưu vực chuồi về phía Biển Đông. Hình 9.

Từ vài thập kỷ gần đây, rừng đầu nguồn phía Tây bị tàn phá nhiều, địa mạo vùng duyên hải Trung Bộ trở nên ngày càng không ổn định, thể hiện rõ nhất là lỡ núi, lòng các hồ đập bị lấp dần [5], các cơn lũ tràn và lũ quét đổ ra Biển Đông. Lòng sông, địa mạo các cửa sông thay đổi nhiều sau mỗi mùa lũ. Hậu quả của các cơn bão, các trận lũ quét đối với hạ tầng cơ sở là khá nặng nề [6].

Với mực nước biển dâng, sự không ổn định của địa mạo còn đến từ phía Biển Đông nghĩa là đến từ hai phía của dãi đất hẹp miền Trung. Những năm gần đây, tình hình bờ biển bị xâm thực xảy ra nhiều hơn. Khác với hậu quả của các cơn bão hay lũ quét thường xảy ra vào mùa mưa bão hàng năm, sự đe dọa của biển dâng lên hạ tầng cơ sở dọc bờ biển theo mùa, theo kỳ triều và thường xuyên hơn.

IV.DỰ BÁO ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA BIỂN DÂNG

IV.1.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản tổng hợp và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế-xã hội, đồng bằng sông Cửu Long gồm có ba tiểu vùng : tiểu vùng mà quá trình sông chiếm ưu thế (A), tiểu vùng nơi quá trình biển chiếm ưu thế (C), và tiểu vùng chịu ảnh hưởng của cả hai quá trình sông và biển (B). (Hình 8). Có thể dự báo định tính tác động của mực nước biển dâng lên ba tiểu vùng như sau.

Tiểu vùng nơi ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế (A)

Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mê-kông tràn bờ và tràn đồng vào Đồng bằng sông Cửu Long.

Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng nhưng không mạnh như hai tiểu vùng B và C. Do quá trình biển mạnh lên do biển dâng, ranh dưới của tiểu vùng sẽ lùi về phía nguồn, độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng có thể kéo dài hơn. Bồi lở bờ sông, cồn bãi hoạt động mạnh hơn.

Về mặt kinh tế-xã hội, khu vực I của nền kinh tế biến động nhưng việc khắc phục không quá khó, vì chủ yếu vẫn còn là các hệ canh tác nước ngọt. Cơ cấu mùa vụ, hệ thống canh tác có thể xảy ra tại một số địa bàn và sự điều chỉnh các công trình thủy lợi ở những địa bàn này là cần thiết. Khu vực II và khu vực III của nền kinh tế có thể nhận phần dịch chuyển đầu tư và phát triển đô thị từ hai vùng B và C. Mật độ dân số và quá trình đô thị hóa chịu tác động từ sự dịch chuyển một phần dân cư, lao động và các cơ sở kinh tế của hai vùng B và C.




Hình 8. Sơ đồ ba tiểu vùng của ĐBSCL dưới tác động của biển dâng

Tiểu vùng nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế (C)

Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với Biển Đông và Vịnh Thái Lan.

Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò “đệm” giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn. Tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường ranh với tiểu vùng (B) sẽ bị “đẩy lên” về phía nguồn. Quy hoạch thủy lợi, đê bao ven biển cần được tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thủy văn thủy lực trong tiểu vùng.

Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước mặn” là chính. Vùng sản xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít. Vì những lý do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.

Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B)

Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa giữa hai quá trình sông và biển, với quá trình biển mạnh lên.

Tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn ra biển. Diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại.

Ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này rất to lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các hoạt động kinh tế-xã hội cho tới nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm.

Đối với khu vực I, ở một số địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền nước ngọt như canh tác lúa, vườn cây ăn trái bị tác động về mặt năng suất, về diện tích canh tác; chăn nuôi gia súc gia cầm giảm mạnh; diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt bị thu hẹp do bị nước lợ và mặn lấn lên.

Khu vực II, khu vực III, đô thị và dân cư bị ảnh hưởng và có thể bị xáo trộn khá nhiều. Một bộ phận sẽ dịch chuyển về tiểu vùng A hoặc ra ngoài vùng do thiếu nguồn nước ngọt, do ngập lụt hoặc do xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước ngọt và chống ngập quá tốn kém. Cũng vì những lý do này, sức thu hút đầu tư đã khó sẽ càng khó.

Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu sự tác động trên các mặt:

- Biến động trong sản xuất : Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế vườn sẽ giảm sút; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù đắp lại hai sự sụt giảm trên; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu hút hơn.

- Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.

- Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu lên trên đây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích hợp.

1. Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn;

2. Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng;

3. Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.

IV.2.VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG



Hình 9. Ảnh vệ tinh vùng Duyên hải miền Trung

Do tính không ổn định của địa mạo, hơn những địa bàn khác, ở vùng duyên hải miền Trung tác động về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội gắn chặt và trực tiếp với nhau, từ phía đồi núi phía Tây cũng như từ phía Biển Đông.

Những địa bàn bị ảnh hưởng mạnh nhất là các đồng bằng ven biển và ở cuối các con sông, nơi mật độ dân số rất cao và phải chịu sức ép từ hai phía biển và núi.

Sa cấu, độ phì của đất, xâm nhập mặn thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng.

Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội, văn hóa và du lịch tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng và ven biển, các cảng biển đã xây dựng dọc miền Trung sẽ chịu sự uy hiếp mạnh mẽ từ mực nước biển dâng.

Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng duyên hải miền Trung sẽ chịu sự tác động trên các mặt:

- Biến động về mặt tự nhiên tác động lên kết cấu hạ tầng, lên kinh tế biển và du lịch; sức hút đầu tư cho khu vực II và khu vực III có thể bị ảnh hưởng.

- Xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng tốn kém hơn;

- Sẽ diễn ra sự dịch chuyển dân cư, lao động, các đô thị và cơ sở kinh tế trong nội vùng từ vùng thấp lên vùng cao, và ra ngoài vùng. Biến động này, đến lượt nó, có thể tác động đến sự ổn định địa mạo nếu không tính toán và chuẩn bị kỹ vị trí các địa bàn tiếp nhận.

Những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu lên trên đây có ảnh hưởng đến sự bền vững của sự phát triển của vùng duyên hải miền Trung, mà còn đối với cả nước trong chừng mực mà kết cấu hạ tầng nối liền Bắc Nam hiện nay đều đi qua vùng này.

V.NHỮNG NHIỆM VỤ CẦN TRIỂN KHAI

Ứng phó với biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng chẳng những của hai vùng này mà còn của cả nước.

Biển dâng là một quá trình tiệm tiến. Nếu nhân loại không có biện pháp ngăn chận quyết liệt sự biến đổi khí hậu ở quy mô toàn cầu, quá trình mực nước biển dâng sẽ diễn ra ngày càng nhanh. Do vậy cần có sự chuẩn bị ứng phó đúng mức và ngay từ bây giờ.

Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới, có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (hay chống đở, đương đầu), thích nghi và rút lui về phía sau. Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp, và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái đầm lầy

Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc. Để ứng phó tốt nhất cần nắm rõ tình hình cụ thể của địa bàn, khả năng bảo vệ có hay không, tính khả thi và hiệu quả tổng hợp kinh tế, xã hội, văn hóa của phương án ứng phó.

Chính vì vậy, phải tranh thủ thời gian để điều tra nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa, điều gì sẽ đến với các phương án mực nước biển dâng, từ đó chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất.

Để góp phần vào việc chuẩn bị ứng phó, xin gợi ý một số nhiệm vụ cần triển khai dưới đây:

(1) Làm cho cả xã hội nhận thức đầy đủ về tính tất yếu Việt Nam phải ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng, và tác động của nó, từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng;

(2) Xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu triển khai cần thiết :

Lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn của các vùng ven biển, các vùng trũng; lập bản đồ các vùng địa mạo không ổn định do phá rừng và do biển dâng;

Phân định các tiểu vùng A, B, C của đồng bằng sông Cửu Long theo các phương án biển dâng; mô phỏng các tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho việc ứng phó, trên từng địa bàn trong từng phương án mực nước biển dâng;

Phân vùng thủy văn - thủy lực các tiểu vùng theo các phương án mức nước biển dâng.

Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe dọa do biển dâng. Hợp lý hóa hệ thống giao thông thủy bộ, kết hợp với các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thủy lợi;

Nâng cao công nghệ hạn chế xâm thực bờ biển, công nghệ xây dựng trên nền đất yếu, bị ngập nước; các vật liệu nhẹ, bền trong môi trường nước lợ và mặn;

Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, cao thân, ...;

Thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với bối cảnh mới trong từng tiểu vùng;

Đề xuất những mô hình công nghiệp hóa trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập giảm, khan hiếm nước ngọt, ...) vì sự phát triển bền vững;

Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và hoàn cảnh mới. Ngoài phưong thức quần cư trong đê bao (như ở Sa-rài), trong cụm dân cư vượt lũ, nghiên cứu hiện đại hóa nhà sàn, thiết kế các nhà nổi và khu dân cư nổi;

Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư và lực lượng sản xuất khác; dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí;

(3) Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực:

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phát huy đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo, đến mô phỏng và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức;

Thiết lập ở các trường đại học các khoa, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về biến đổi khí hậu và biển dâng nhằm đào tạo một nguồn nhân lực cho lâu dài cho đất nước;

Đào tạo thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài mà thực tế đặt ra.

(4) Về mặt quản lý nhà nước:

Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này.

Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển;

Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc bờ biển miền Trung những nơi bị đe dọa xâm thực, và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn trên từng độ cao mà không làm tổn hại đến sự ổn định của địa mạo;

Xác định các địa bàn cư trú mới tiềm năng, mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng;

Quản lý nghiêm việc khai thác và bảo vệ các tầng nước ngầm ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long;

Tổng kết việc xây dựng các cảng biển trong thời gian qua dọc duyên hải miền Trung; đề xuất xây dựng đồng bộ một số cảng biển nước sâu, được che chắn tốt, tồn tại bền vững;

Cần quy định từ nay mọi quy hoạch, dự án ở những vùng ven biển, cửa sông đều phải tính tới yếu tố ổn định của địa mạo và yếu tố biển dâng một cách tường minh;

Cần rà soát lại các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành tại các đại bàn phải đối mặt với biển dâng;

Cần có tầm nhìn và quy chế phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, trung ương-địa phương (nhất là giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, giữa Duyên hãi miền Trung với Tây Nguyên, ...) để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển một bộ phận nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất. Thách thức biển dâng phải chăng chính là thời cơ thúc đẩy Nhà nước suy tính sâu sắc hơn việc quản lý kinh tế theo vùng lãnh thổ ?

Mọi quy hoạch cần được phản biện nghiêm túc, đặc biệt các quy hoạch các vùng duyên hải và cận duyên, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước tại những địa bàn được dự báo có nhiều khả năng bị tổn thương do biển dâng, bảo đảm công trình bền vững, đạt hiệu quả tổng hợp cao.

(5)Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu được cập nhật liên quan đến biến đổi khí hậu và biển dâng ở Việt Nam; hợp tác trong công tác đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên cứu những đề tài khoa học đặt ra cho khu vực và thế giới.

(6) Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về đa dạng sinh học và những hiệp định quốc tế khác có liên quan. Vì vậy, và để thực thi các nội dung đã được đề cập trên đây, cần thể chế hóa các chính sách liên quan đến giảm thiểu biến đổi khí hậu và biển dâng và các hệ quả của chúng vào các luật và bộ luật. Giám sát việc thực thi pháp luật đã ban hành.





[1] Các hậu quả này được gọi tắt là WEHAB từ Water, Energy, Health, Agriculture, Biodiversity.

[2] Bài viết này tổng hợp hai báo cáo “Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với biển dâng” đã trình bày tại Hội thảo khoa học Khí tượng thủy văn, Tp. Hồ Chí Minh, 26-27/6/2008, và “Về biến đổi khí hậu và biển dâng tác động lên Duyên hải Miền Trung. Nhiệm vụ khoa học công nghệ cần triển khai”, tại Hội thảo khoa học do Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia và Đại học Huế tổ chức tại Huế, 24-25/6/2008.

[3] IPCC viết tắt của Intergovernmantal Panel on Climate Change.

[4] Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường, ngày 22/5/2007.

[5] Ở tỉnh Bình Định, theo báo cáo của Ts. Lương thị Vân và Th.s. Nguyễn thị Huyền, Khoa Địa lý, Đại học Quy Nhơn, việc bồi lắng các hồ chứa, làm giảm tuổi thọ của các hồ từ 40 - 60% so với mức thiết kế ban đầu tại các hồ Hòn Gà, hồ Thủ Thiện (Tây Sơn), hồ Núi Giằng (Phù Mỹ), hồ Thạch Khê (Hoài Ân). Các hồ Vĩnh Sơn, Hội Sơn, Vạn Phú, Núi Một, Phú Ninh, Đồng Tre … cũng đang diễn ra quá trình bồi lắng lòng hồ với các mức độ khác nhau.

[6] Từ năm 1951 đến 2007, đã thống kê được 116 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định, bằng 37% số cơn bão đã vào Việt Nam trong cùng thời kỳ. Cường độ bão ngày càng mạnh, thời gian hoạt động của bão sớm hơn và kết thúc muộn hơn, vị trí đổ bộ của bão vào phía Nam tăng dần là những điều đã được ghi nhận.

Tác giả nguyên là Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007), Ủy viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (từ năm 1992).

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

Phan Thanh Giản một tấm lòng yêu nước

Việt Chung

DAYVAHOC. Trang Web Đồng bằng Sông Cửu Long đã đăng bài "Phan Thanh Giản một tấm lòng yêu nước" của Việt Chung (Vĩnh Long). Bài này đã in ở báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 583, ngày 28.4.1989

Về mặt văn học, Phan Thanh Giản là người có công lớn đối với đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long - WSCL) nói riêng. Điều thực tế đó không ai chối cãi được.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 tự là Tĩnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê và Ước Phu, biệt hiệu là Mai Xuyên, người làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Thuở nhỏ nhà nghèo mồ côi mẹ sớm, nhưng rất chăm học. Năm 1825 đậu cử nhân, năm sau đậu tiến sĩ, là người giành học vị tiến sĩ đầu tiên ở Nam Kỳ. Tính tình cương trực và thanh liêm, làm quan nhà Nguyễn trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, "từng bị thăng giáng nhiều phen, gần như cuộc đời của Nguyễn Công Trứ" (1).

Năm 1828 vâng lệnh vua đi làm quan xa, ông phải nhờ vợ ở lại thay ông phụng dưỡng cha già. Khi đi, ông làm bài thơ “Từ giã vợ nhà đi làm quan”. Bài này nổi tiếng trong giới văn học lúc bấy giờ, nội dung diễn tả một cảm xúc mạnh mẽ, chân thực trong tình cảm vợ chồng:

"Từ thưở duyên se mối chỉ hồng
Lòng này ghi tạc có non sông
Đàng mây cười tớ ham giong ruổi
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng
Ơn nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng
Mấy lời dặn bảo cơn lâm biệt
Rằng nhớ, rằng quên lòng hỡi lòng?" (2)

Trên đường ra kinh nhậm chức – từ đất Vĩnh Long ra đến Huế - trải bao nhiêu sông suối, núi rừng, qua bao nhiêu trạm, đường xa xôi hiểm trở. Trên đường đi, ông đã tức cảnh làm bài thơ “Trên đường ra kinh”. Qua bài này chúng ta cũng thấy được tâm trạng của ông sớm ý thức sâu sắc triết lý cuộc đời:

"Trải bảy mươi hai trạm đến kinh
Bao nhiêu non nước bấy nhiêu tình
Hồn quê muôn dặm mây lòn núi
Đất khách năm canh sóng vỗ ghềnh
Gió bụi, đất đà quen với mặt
Ruột gan, trời có biết cho mình
Lá lay về bởi nơi con tạo
Lận đận cũng vì một chữ danh" (3)

Trong những ngày làm quan ở Quảng Nam (1836) tỉnh này bị hạn luôn, nhân dân rất đói khổ, thông cảm vời nỗi khó khăn cơ cực của nhân dân, ông làm bài thơ “Mong mưa”. Một sự quan tâm gần gũi, chia sẻ vời người dân, ít được thấy ở các ông quan khác:

"Mấy tháng trời không mưa
Chiều tối chỉ hơi mát
Làn mây muốn hợp lại
Gió đông thổi tan đi
Khắp trời đều oi bức
Vừa sáng trời sương bay
Trông ra ruộng cao thấp
Một nửa mạ úa vàng
Vụ chiêm dù có được
Sang thu giá gạo cao
Huống chi bị hạn hán
Nông dân thật đáng thương
Mong sao mưa đến sớm
Kịp thời cứu nhân dân

(Việt Chung dịch)

Ông cũng có cơ hội tiếp xúc với ngư dân để tìm hiểu đời sống và phong cách làm ăn của họ. Nhân dịp đi sứ Trung Quốc, ông làm bài thơ “Vịnh đùa người thả chim cộc” (4) vừa tả cách làm ăn của ngư dân Trung Quốc, vừa ngụ ý nhắc khéo thái độ của một nước lớn đối với nước nhỏ:

"Nhà chài có một chiếc thuyền
Nhà bảy tám miệng sống trên mặt hồ
Chẳng đan lưới, chẳng đặt lờ
Đánh cá, đơm cá, chẳng lo phải làm
Chuyên nghề nuôi cộc quanh năm
Kết bè đóng tại một dằm nước xuôi
Đàn cộc tấp nập đùa chơi
Con lớn con nhỏ tới lui từng bầy
Nhà chài thả cộc suốt ngày
Cộc lội xuống nước, cá thời chạy ngay
Cộc với cá tuy khác loài
Nhưng cộc biết cá ở nơi chốn nào
Cá lớn cá bé chia nhau
Cộc đều bắt cá nuốt vào túi bên
Lớn hay bé đều mang lên
Lớn thì bỏ giỏ, nhỏ liền bỏ nong
Cộc không riêng muốn no lòng
Chủ không riêng hưởng để hòng hưởng lâu
Cá lớn chủ được chọn đầu
Cá bé cho cộc chia nhau ăn dần (5)

(Lê Thước dịch)

Năm 1863, ông được đề cử cầm đầu sứ bộ sang Pháp thương thuyết chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhưng không có kết quả. Ở Pháp về, ông có báo lại những điều tai nghe mắt thấy về sự tiền bộ văn minh khoa học kỹ thuật của Âu châu để triều đình kịp thời cải cách tổ chức lại guồng máy nhưng không được ai nghe. Ông ghi lại nỗi lòng trăn trở ấy trong mấy câu thơ:

"Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc châu Âu luống giật mình
Nhắn nhủ đồng bang mau tỉnh dậy
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin" (6)

Thái độ bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn đã đưa đến việc tiếp tục mất thêm ba tỉnh miền Tây và dần dần mất cả nước. Với tư cách là một vị đại thần có trách nhiệm đến sự mất còn của sáu tỉnh Nam kỳ, ông phải tự sát bằng cách tuyệt thực 17 ngày và sau uống thuốc độc (1867). Bài thơ “Tuyệt cốc” là sáng tác cuối cùng của ông, chấm dứt cuộc đời của một vị quan trung thành với chế độ nhà Nguyễn và một người trí thức tận tụy với nhân dân:

"Trời thời, đất lợi, lại người hòa
Há dễ ngồi coi phải nói ra
Lăm trả ơn vua, đền nợ nước
Đành cam gánh nặng ruổi đường xa
Lên ghềnh, xuống thác, thương con trẻ
Vượt biển, trèo non, cám phận già
Cũng tưởng một lời an bốn cõi
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba!" (7)

Trong cuộc đời ông chịu lắm gian truân, đã nhiều lần bị quở trách, giáng chức vì dám thẳng thắn khuyên can vua, bảo vệ lẽ phải. Vì điều kiện khách quan của lịch sử, ông đã thất bại trong cuộc thương thuyết và trong việc bảo vệ ba tỉnh miền Tây.

Cụ thể, năm 1851, mấy tỉnh miền Nam không được yên, nhà vua sai Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản vào trấn đất Nam kỳ. Năm sau, căn cứ vào tình hình thực tế trong nước, khi ông dâng sớ về triều gồm tám điều đề nghị sửa đổi, đại ý:

" - Xin chẳng nên gần gũi kẻ nịnh, thấp hèn, lanh lợi như chín đứa chầu chực hát xướng mà vua đang yêu vì.

- Xin đừng cho tìm mua châu ngọc quý báu, trong cơn đói lạnh không làm được áo cơm, trong cơn tranh chiến không làm được gươm giáo, đã tốn lại gây cho đình thần cái tính dâng lạ, nạp báu để cầu thân.
- Xin bớt cho binh lính rảnh rang tập võ, kẻo khi có giặc thì quân không tinh, chỉ làm bia đỡ đạn" (8)

Nhưng việc đâu vẫn hoàn đấy, trong triều vẫn không có sự sửa đổi gì cho nước mạnh dân giàu.

Khi ba tỉnh miền Tây thất thủ (1867), triều đình đổ lỗi cho ông và nhà vua bắt tội ông, cho đục tên ông ở bia tiến sĩ. Hồi ấy dư luận cũng lên án ông gay gắt. Nhưng sau triều đình nhà Nguyễn xét lại cho ông phục hồi.

Thực tế, việc mất thành Vĩnh Long sử chép như sau:

“Trung tuần tháng 6, quân đội Pháp đã chuẩn bị sẵn sàng. Ngày 18.6, người ta đã triệu tập 1.000 lính săn đá và 400 lính tập tại Mỹ Tho. Ngày 19, Đơ-la-gơ-ran-de ngồi tàu Ôn-din-nơ đến Định Tường để kiểm duyệt, rồi hồi nửa đêm tàu từ Định Tường nhổ neo, và sáng hôm sau dân sư Vĩnh Long lo lắng nhìn thấy quân đội Pháp đến Vĩnh Long.

Thiếu tướng Đơ-la-gơ-răn-de sai người đưa tối hậu thư cho Phan Thanh Giản. Phan than dài với các quan:

- Đem sức đọ nhau, mình kém người xa lắm. Tôi nay đã 71 tuổi rồi, nếu đem thân ra chốn chiến trường cầu lấy cái chết rạng danh thì có gì hay bằng. Song các quan thử nghĩ: Tôi có cái nghĩa vụ giữ đất chăn dân, nay trên đối với vua không đành giữ được thì chết là đáng phận, dưới đối với dân còn nỡ nào bắt chúng chịu lầm than để nhẹ tội mình.

Đề cao lòng trách nhiệm, Phan lại đứng ra xin cho điều đình. Đờ-la-gơ-răn-de bằng lòng, mời xuống tàu, Phan cùng với Án sát Vĩnh Long là Võ Doãn Thanh xuống tàu hội đàm.

Đờ-la-gơ-răn-de đưa điều kiện buộc nhường luôn ba tỉnh miền Tây, Phan tê tái gớm ghê cho lòng người, thốt lời đau đớn:

- "Tôi có quyền giữ đất chứ không có quyền giao đất. Xin cho tôi hỏi lại ý kiến triều đình".

Và đây sự đã xảy ra, chép theo lời khai của lãnh đốc Trương Văn Uyển. Vĩnh Long Án sát Võ Doãn Thanh và lãnh binh Huỳnh Chiêu (người đứng trên vọng lâu Vĩnh Long mục kích cuộc nhập thành của quân đội Pháp) khai với triều đình sau khi đã để Vĩnh Long thất thủ:

"…Vào lúc tảo thìn, tàu chiến Pháp đã đậu dài trước thành. Một viên quan ba và cố đạo quen gọi là cụ Trường (Lơ-gơ-răn-đờ-la-li-rây) vào thành trao tối hậu thư. Sau khi bàn bạc, Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh xuống tàu hội đàm. Đờ-la-gơ-răn-de bằng lòng chờ cho Phan Thanh Giản hỏi lại ý kiến triều đình. Nhưng lúc Phan Thanh Giản vừa lên bờ, trước sau có binh sĩ Pháp kềm giữ, thì…cũng là lúc quân đội Pháp bốn mặt ào vào thành…”

Vĩnh Long thất thủ trong một buổi sáng ngày 20.6.1867”

Như vậy rõ ràng là quân Pháp "bức chiếm tỉnh Vĩnh Long" (11). Phan Thanh Giản chỉ là nạn nhân của ý đồ bất chánh (thủ đoạn gian trá) của giặc Pháp và cũng là nạn nhân đáng thương của chế độ phong kiến nhà Nguyễn suy tàn. Đồng thời chúng ta thấy tâm trạng cân nhắc, lựa chọn của ông trước cái chết – cái chết khi đối mặt với quân thù bằng một nhát gươm, một mũi đạn nhanh như chớp mắt so với cái chết dần mòn kéo dài sự hành hạ đau đớn từ thể xác đến tinh thần, thì cái chết nào đòi hỏi nhiều nghị lực hơn? Ông đã dũng cảm chọn cái chết sau. Tuy nhiên, ông phạm một sai lầm là không có cái dũng cảm thoát ra khỏi khuôn khổ “trung quân ái quốc” theo kiểu phong kiến. Có lẽ đó là điều hạn chế của bản thân ông, vì ông là người xuất thân từ trong nền đạo lý của chế độ phong kiến. Cho nên chúng ta không nên quá chủ quan lấy quan niệm, tư tưởng của người nay mà phê phán hành động của người xưa. Vì mỗi con người, mỗi hoàn cảnh, mỗi giai đoạn lịch sử, chế độ khác nhau, thì không thể bắt buộc phải xử lý giống y hệt nhau được.

Cảm thương cho ông trước khi chết, đã thận trọng dặn dò con cháu của mình không được cộng tác với người Pháp và bảo con cháu đề trên tấm minh sinh và mộ phần của mình mấy chữ:

“Quan tài (mộ) người học trò già họ Phan”.

Tới giờ phút cuối cùng, ông trút bỏ tất cả hư danh, cân đai áo mão, để trở về với bản chất trung thực của mình là người học trò suốt đời còn học nữa, học mãi – học ở người và học ở đời. Ối thật giản dị và khiêm tốn!

Nối tiếp truyền thống bất khuất và theo lời dặn của ông, hai người con ông là Phan Tôn, Phan Liêm và cháu ông là Phan Lữ, sau này phất cờ khởi nghĩa ở Bến Tre, gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất.

Sau khi ông mất, những người bạn sống đương thời với ông đã thương trọng và làm thơ, văn điếu để viếng ông:

"Minh sinh chín chữ lòng son tạc
Trời đất từ đây bặt gió thu".

(Tú tài Nguyễn Đình Chiểu khóc Phan Thanh Giản)

Và:

"Đôi hàng biểu để lòa trời đất
Một tấm lòng son tạc sử sanh"

(Án sát tỉnh An Giang Phạm Viết Chánh điếu Phan Thanh Giản)

Phan Thanh Giản còn để lại hai tập “Lương khê thi thảo” và “Lương khê văn tập” gồm tất cả 474 bài thơ và 103 bài văn.

Qua thơ văn, chúng ta thấy ông là con người giàu tình cảm. Đó là lòng thương nhớ gia đình, làng xóm, quê hương. Một nhà Nho trong sạch, thương dân và chết vì việc nước (12). Riêng đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Cửu Long ông là người có công gieo hạt giống văn học, đã cùng với Nguyễn Thông thành lập Văn Thánh miếu và Văn Xương Các.

Chú thích:

(1,6) Tự điển Văn học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội, 1984.
(4) Cồng cộc, loại chim lông màu đen, thường lặn bắt cá giỏi.
(2,3,4,7) Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam (tập 4) – Nhà xuất bản Văn Học – Hà Nội , 1984
(8) Phan Thanh Giản của Nam Xuân Thọ, Nhà xuất bản Tân Việt – Sài Gòn, 1957
(9) Viên chỉ huy cao cấp gồm coi ba tỉnh.
(10) Phan Thanh Giản của Nam Xuân Thọ, Nhà xuất bản Tân Việt – Sài Gòn , 1957
(11,12) Chữ của Nguyễn Thông dùng khi nói về Phan Thanh Giản – Theo Nguyễn Thông con người và tác phẩm của Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.

Sự thật lịch sử chỉ có một

Nhị Hà

DAYVAHOC. Trên trang Website Sông Cửu Long, nhà văn Hoàng Lại Giang có bài viết: "Về cụ Phan Thanh Gian: Trao đổi với đồng nghiệp" ủng hộ quan điểm dựng tượng đài và tôn vinh nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản. Bài viết của Nhị Hà (TP. Hồ Chí Minh) "Sự thật lịch sử chỉ có một" đã phản bác lại quan điểm trên. Trang tư liệu DAYVAHOC lưu giữ những thông tin phản biện trái chiều này nhằm tìm hiểu sâu hơn về vấn đề đã nêu.

Vừa qua, trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam và trên Website Đồng Bằng Sông Cửu Long, ông Hoàng Lại Giang có bài viết “Trao đổi với đồng nghiệp” xoay quanh nhân vật Phan Thanh Giản. Bài viết này đã đưa ra nhiều vấn đề nhằm phản bác lại quan điểm của một số bài trên các báo trước đó để bênh vực Phan Thanh Giản và ủng hộ việc tỉnh Bến Tre cho dựng tượng đài Phan Thanh Giản. Đọc bài “Trao đổi với đồng nghiệp”, tôi không đồng tình với nhiều vấn đề mà ông Hoàng Lại Giang đề cập như cách cảm nhận thơ văn cụ Đồ Chiểu viết về Phan Thanh Giản, việc Phan Thanh Giản “đòi lại được” tỉnh Vĩnh Long từ tay Pháp, vấn đề “tin ai” – tin Trần Huy Liệu hay tin cụ Đồ Chiểu, vấn đề đổi mới lịch sử, việc dựng tượng… mà tôi cho rằng những cách biện giải của ông Hoàng Lại Giang vừa chủ quan, thiếu thực tế vừa thiếu khoa học và xây dựng. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ giới hạn phân tích ba vấn đề trong số đó nhằm để rộng đường dư luận.

Thứ nhất: Chúng ta sẽ không trung thực với lịch sử nếu đổ trách nhiệm để mất Nam Kỳ vào tay Pháp cho Nguyễn Tri Phương, vị tướng anh hùng đã “vị quốc vong thân” và là chủ soái của phe “chủ chiến” trong triều đình Tự Đức bấy giờ.

Ông Hoàng Lại Giang dẫn dắt người đọc từ việc Nguyễn Tri Phương đánh thua Pháp trong trận Kỳ Hòa, rồi “đánh đâu thua đó, thua cho đến khi hy sinh”, “Nguyễn Tri Phương vẫn luôn chủ chiến, nhưng chiến như thế nào thì trước sau vẫn theo cách … đại bại” đến việc so sánh sứ mệnh đàm phán của Phan Thanh Giản với Pháp ngày đó và việc đàm phán của thủ tướng Phạm Văn Đồng với Pháp khi ký Hiệp định Genève. Ông viết:

“Kinh nghiệm của những cuộc đàm phán với kẻ thù xâm lược phải nói đến thế và lực của hai bên. Hiệp định Genève là một minh chứng rõ ràng nhất. Nếu không có chiến thắng vang dội ở Điện Biên Phủ thì liệu nhà ngoại giao Phạm Văn Đồng có ký được Hiệp định Genève không? Trong mọi cuộc đàm phán, quân sự bao giờ cũng đi trước một bước, đúng hơn là phải áp đảo kẻ thù thì mới hy vọng trên bàn ngoại giao ta mới có được thế chủ động và có lợi”.

Điều này không sai, nhưng ông Hoàng Lại Giang lại chỉ ra cho người đọc thấy rằng do Nguyễn Tri Phương đánh đâu thua đó “Một vị tướng tài của triều đình nhà Nguyễn mà như thế thì làm sao có một nhà ngoại giao tài để có thể dùng ba tấc lưỡi buộc kẻ xâm lăng trả lại những đất đai chúng đã chiếm” làm cho Phan Thanh Giản mới không có thế và lực để bước vào đàm phán nên ta mới … mất nước.

Ông Hoàng Lại Giang quên mất một điều cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi và dấu son Hiệp định Genève có được là do có Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ lãnh đạo, là sự thống nhất ý chí cao độ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Đó còn là kết quả của cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài 9 năm mà những năm đầu thế và lực của ta so với Pháp như Bác Hồ từng nói “Nay tuy châu chấu đá voi. Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”. Còn nước Việt Nam đứng trước sự tồn vong 150 năm trước, lãnh đạo cao nhất của quốc gia là Tự Đức thì “sáng đòi đánh, tối đòi đánh, đánh miết thì mệ con ta ở mô?”. Chỉ riêng một câu đó thôi của người nguyên thủ quốc gia dội xuống đầu phe chủ chiến thì thử hỏi quân sĩ nào còn đủ ý chí chiến đấu! Đó là chưa kể một loạt những mưu sĩ “chủ hòa” và cả tướng “chủ bại” bao quanh nhà vua như Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, Nguyễn Bá Nghi, Trương Quốc Dụng, Trần Văn Trung …

Xin trích một đoạn trong sách “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” của tác giả Nhật Yoshiharu Tsuboi (Sách in từ tài liệu luận án tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi) để bạn đọc thấy rõ hơn về sự “lãnh đạo” của Tự Đức đối với đạo binh của Nguyễn Tri Phương:

“Năm 1872, để giải quyết “vấn đề Dupuis”, Phương được cử ra Bắc Kỳ với tư cách phái viên cao cấp của nhà vua, Khâm mạng tuyên sát đổng sức đại thần, có toàn quyền thương thuyết với Pháp/ Thái độ của ông đối với Pháp vẫn luôn luôn không khoan nhượng và Jean Dupuis kể lại một vài kiểu nói của ông:/ “Nguyên soái nói nguyên văn: “Ta sẽ tiêu diệt gia đình chúng nó tận gốc”. Ông cũng nói là ông sẽ ngăn cản thuyền của tôi ngược lên Vân Nam, và nếu chúng tôi không ra đi ngay lập tức, ông sẽ cho băm vằm chúng tôi ra từng mảnh nhỏ”/ Cuộc đụng độ giữa Nguyễn Tri Phương và Jean Dupuis kéo dài dù có sự dàn xếp của giám mục Puginer. Lúc bấy giờ Tự Đức làm một việc vụng về nghiêm trọng là yêu cầu Thống đốc Nam Kỳ thuộc Pháp giúp đỡ và Thống đốc đã cử Francis Garnier ra Bắc Kỳ, với nhiệm vụ “san bằng” vụ Dupuis/ Cũng vấp phải sự không khoan nhượng của Nguyễn Tri Phương, Garnier quyết định chiếm thành Hà Nội. Ngày 20-11-1873, vào bảy giờ sáng, thành bị chiếm. Phương bị thương nặng vì trúng mảnh đạn trái phá và con trai ông là Nguyễn Lâm bị giết. Một tháng sau, Phương từ trần/… Cái chết của Phương cũng là một biểu tượng, bởi vì nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết ấy, một mặt là sự không nhất quán trong chính sách ngoại giao của Tự Đức - khi cầu viện Thống đốc Nam Kỳ thuộc Pháp, triều đình đã đưa nước Pháp đến chỗ can thiệp ở Bắc Kỳ - mặt khác là sự yếu kém trong công cuộc phòng thủ của phía Việt Nam”.

Yoshiharu Tsuboi là người Nhật, hẳn ông ta không bênh ai khi làm luận án tiến sĩ của mình. Cái kiểu “điều binh” đâm sau lưng chiến sĩ của Tự Đức như vậy mà Nguyễn Tri Phương không thua mới là lạ.

Khi quy tội “Nếu trung thực với lịch sử thì phải nói rằng người đã để mất thành Kỳ Hòa và sau đó là 3 tỉnh miền Đông và một tỉnh miền Tây – Vĩnh Long là Nguyễn Tri Phương”, ông Hoàng Lại Giang cũng quên mất là sau khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ tháng 2-1861, Nguyễn Tri Phương bị điều ngược ra Huế, mặt trận Nam Kỳ được Tự Đức giao lại cho Nguyễn Bá Nghi. Nguyễn Bá Nghi tuy là tướng đánh trận nhưng vừa vào đến chiến trường, chưa đánh đã vội tâu về triều: “Trừ một chước hòa, tôi chỉ còn biết chịu tội”. Sau đó khi nghe tin Pháp sắp đánh Biên Hòa, Tự Đức lại sai Nguyễn Tri Phương đem quân xuống phía Nam cứu viện. Binh tướng Nguyễn Tri Phương chưa vào đến Bình Thuận thì Pháp đã chiếm được Biên Hòa ngày 14-12-1861. Kế tiếp, quân cứu viện chưa vào được Nam Kỳ thì Pháp đã công phá thành Vĩnh Long ngày 20-2-1862. Trong khi đó, Khâm sai Nguyễn Bá Nghi bỏ ngỏ thành Biên Hòa, đem đại quân rút chạy ngược ra Bình Thuận.

Trong hơn mười năm đau thương của đất nước, Nguyễn Tri Phương đã hai lần hành quân ra cứu nguy Hà Nội, hai lần điều binh vào Nam Kỳ đánh nhau với Pháp, hai lần bị Tự Đức rút khẩn cấp về dẹp loạn ở Huế và gần một năm trời tổ chức tử thủ ở mặt trận Đà Nẵng khiến Pháp sa lầy phải lui binh. Một vị tướng cầm quân vào Nam ra Bắc không biết mệt mỏi rồi hy sinh anh dũng vì sự tồn vong của dân tộc lại bị ông Hoàng Lại Giang quy cho cái tội làm mất một phần đất nước! Một vị tướng mà ngay cả kẻ thù của ông lúc bấy giờ cũng phải ca ngợi là: “Một con người xuất sắc về nhiều mặt, là người yêu nước nồng nàn, là chiến sĩ dũng cảm” (Lời Étienne Louvet). Còn qua ngòi bút của Hoàng Lại Giang, tôi có cảm tưởng vị tướng không đội trời chung với quân cướp nước chỉ biết hùng hục đánh, đánh kiểu nào cũng đại bại không khác gì hữu dõng vô mưu. Sao mà tội nghiệp cho Nguyễn Tri Phương quá. Nhằm để “nâng” Phan Thanh Giản mà lại đi “hạ” Nguyễn Tri Phương, quả là rất không nên.

Thứ hai: Phải chăng ông Hoàng Lại Giang muốn bạn đọc hiểu là chính những người cách mạng đã sáng tác ra câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” để cho quần chúng căm ghét triều đình nhà Nguyễn? (Thực chất là “mại quốc” chứ không phải “mãi quốc” như ông Hoàng Lại Giang ngộ nhận).

Ông Hoàng Lại Giang viết: “Trong cuộc tọa đàm về Phan Thanh Giản năm 1996 ở 43 Nguyễn Thông, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư có nói hai câu này xuất phát từ quê ông ở Hà Tĩnh do Trần Tấn và Đặng Như Mai tung lên để kéo quân vào kinh thành lật đổ triều đình nhà Nguyễn”. Nếu tách riêng đoạn văn này ra khỏi bài viết ta có thể hiểu câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” là do Trần Tấn và Đặng Như Mai ở Hà Tĩnh “tung lên” trong Cách mạng Tháng Tám và lần đầu tiên ông Nguyễn Đình Tư nghe được là từ hai người này. Người “tung lên” không nhất thiết là người sáng tác ra. Nhưng khi ông viết tiếp: “Còn dân Nam Kỳ vẫn tôn trọng triều đình. Với lại khẩu khí này không phải là khẩu khí của dân Nam Kỳ. Tôi thấy nhiều người nghiêng về ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư” và đặt cả đoạn văn trong mạch bài viết thì người đọc không thể hiểu khác là ý ông Hoàng Lại Giang muốn cho thấy chính những người cách mạng sau này đã đặt điều với lịch sử.

Trước hết, dựa vào đâu mà ông Hoàng Lại Giang (hoặc ông Nguyễn Đình Tư) cho rằng “dân Nam Kỳ vẫn tôn trọng triều đình. Với lại khẩu khí này không phải là khẩu khí của dân Nam Kỳ”?. Hay các ông là người Nam Kỳ chăng? Trong “Tuyên ngôn Quản Định” (Tạp chí Sử Địa – trang 44) khẩu khí của dân Nam Kỳ, của Trương Công Định là như thế này đây: “Chúng tôi sẽ chống lệnh triều đình” nếu vẫn “duy trì sự đã rồi bằng cách nhường một phần đất nước và giúp đỡ quân giặc”, “nhân dân ba tỉnh tha thiết muốn khôi phục địa vị cũ bèn tôn chúng tôi lên làm lãnh tụ. Vậy nên chúng tôi sẵn sàng chiến đấu và ở miền Đông cũng như miền Tây, chúng tôi sẽ đề kháng, chúng tôi sẽ xông pha”, vì “dân chúng đã nói “Chúng ta thà chết chứ không làm tôi tớ cho giặc””. Khẩu khí của dân Nam Kỳ trả lời triều đình là hàng chục ngàn nấm mồ nghĩa binh đã đi theo Quản Định, Thiên Hộ Dương, Thủ khoa Huân, Đốc binh Kiều, Nguyễn Trung Trực, Quản cơ Thành. Lớp trước ngã xuống lớp sau lại nón chóp tầm vông xông lên. Họ đâu có nghe theo triều đình khi được Phan Thanh Giản kêu gọi “hãy bẻ gãy giáo và gươm giao thành trì khỏi chống lại”. Khẩu khí ấy còn là “Thà cho trước mắt mù mù/ Chẳng thà nhìn thấy kẻ thù quân thân”, “Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ” (Đồ Chiểu).

Trở lại với câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, xin cứ hỏi bất kỳ một vị học giả cao niên nào chánh gốc Nam Kỳ cũng sẽ nhận được câu trả lời là họ nghe được từ thời nào. Giáo sư Trần Văn Giàu, cụ Ca Văn Thỉnh, nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Oanh – Tác giả cuốn "Chân dung Phan Thanh Giản" xuất bản năm 1974 tại Sài Gòn và rất nhiều vị đã qua tuổi hoa niên thời tiền cách mạng không lẽ họ đã nhầm lẫn khi viết sách. Cứ cái kiểu “nói vống không sợ đánh thuế” thì rồi sẽ có người khác bảo những câu như “Bệ hạ muốn hàng thì trước hết hãy chém đầu thần đi đã”, hoặc “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” cũng là do sau này người ta đặt ra để làm tăng sĩ khí và lòng tự tôn dân tộc nhằm chiến thắng quân xâm lược! Chính nhà vua Tự Đức đã xác nhận dư luận của quần chúng nhân dân Nam Kỳ lúc bấy giờ trong một bài thơ của mình “Khí dân triều trữ cửu. Mại quốc thế gian bình”. Giấy trắng mực đen còn đó.

Thứ ba: Ông Hoàng Lại Giang cho rằng Phan Thanh Giản yêu nước. Mở đầu đoạn văn này, ông Hoàng Lại Giang dựa vào uy tín của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt “Một lần cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói với tôi rằng…” (Xin lưu ý cụm từ “nói với tôi” chứ không phải được trích dẫn từ một bài phát biểu nào của Thủ tướng Võ Văn Kiệt) để khẳng định là “Phan Thanh Giản yêu nước theo cách của Phan Thanh Giản”. Lập luận này tôi rất không đồng tình.

Là mưu sĩ, nhà ngoại giao số một của triều đình đồng thời cũng là chủ soái của phe “chủ hòa”, chân dung Phan Thanh Giản đã được chính Tự Đức hai lần vẽ nên. Lần thứ nhất khi Phan Thanh Giản thay mặt nhà vua đi thương lượng với giặc nhưng lại tự ý cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp bằng hòa ước Nhâm Tuất 1862, Tự Đức trách phạt: “Hai ngươi (chỉ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp) không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”. Lần thứ hai Tự Đức kỳ vọng giao trách nhiệm vào trấn giữ 3 tỉnh miền Tây nhưng Phan Thanh Giản lại sốt sắng dâng nộp nốt 3 tỉnh này cho Pháp khiến Tự Đức nổi giận xuống chỉ: “Đến như Phan Thanh Giản thì thủy chung đều quanh quất, lời nói không theo được việc làm, đem học vấn danh vọng một đời trút sạch ra bể Đông, thực là táng tận lương tâm, quá đỗi phụ ơn. Mặc dù lấy cái chết để tự phạt nhưng cũng chưa đủ đền bù cho trách nhiệm”. Chân dung Phan Thanh Giản tưởng không gì rõ hơn thế.

Trong bức “Công thơ” của Phan Thanh Giản gởi Tổng đốc An Giang và Hà Tiên ngày 20-6-1867 sau khi mở ngỏ cửa thành Vĩnh Long rước Pháp vào, ta sẽ thấy “cách yêu nước” của Phan Thanh Giản: “Người Phú – lang – sa có chiến thuyền to, chở đầy quân và đại bác. Không người nào có thể chống lại. Người Phú – lang – sa muốn đến đâu cũng đặng, những đồn lũy chắc chắn cũng phải bể…. Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như cho các tướng võ hãy bẻ gãy giáo và gươm giao thành trì khỏi chống lại…. Hỡi các quan và lê dân, các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú – lang – sa, những người này chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi”. Người Việt Nam vốn có truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, vậy những lời lẽ trên của Phan Thanh Giản thì phải giải thích làm sao? Có phải vì quá khiếp sợ mà đầu hàng giặc hay là chỉ vì thương và tránh cho “con dân” khỏi nạn binh đao? Cứ cho là Phan Thanh Giản thương dân nên đầu hàng, giao đất giao thành cho giặc nhưng nếu tiền nhân nước Việt ai cũng thương dân kiểu đó thì liệu còn nước Nam này cho dân ta không? Còn nước để mà yêu không? Việc Phan Thanh Giản gởi mật thư cho Bonard, cho Tự Đức đề nghị tiêu diệt Trương Định, Võ Duy Dương, bắt giữ người liên lạc của Trương Định rồi gởi thư thông báo cho Pháp là yêu nước sao?

Khi Quản cơ Thành, tức Trịnh Quang Nghị bắt giết những người theo Pháp (sau này Quản cơ Thành cũng rời bỏ triều đình, mộ quân khởi binh chống Pháp ở An Giang), Phan Thanh Giản dâng sớ về triều đề nghị xử tội. Tự Đức không những tha cho Trịnh Quang Nghị mà còn phán: “Nghị chỉ vì yêu nước mà hoạt động. Giết Nghị tức là tự mình ly gián với nhân dân”. Một ông vua ươn hèn, khiếp nhược như Tự Đức còn có lúc biết thế nào là yêu nước, thế nào là lòng dân. Còn Phan Thanh Giản thì lại sốt sắng, quyết liệt bảo vệ quyền lợi xâm lược của Pháp một cách triệt để, coi những nghĩa sĩ chống Pháp như kẻ thù của mình. Đây là một đoạn trong thư Phan Thanh Giản gởi Lagrandière để chia buồn về cái chết của Trung tướng Hải quân Bonard – là người đã cùng ký Hiệp ước Nhâm Tuất với Phan Thanh Giản: “Hồi ấy, Đại Phú – lang – sa đã lưỡng lự về vấn đề lấy xứ Nam Kỳ làm thực dân địa. Khi một lần đối thoại giữa ông ấy và tôi để định ngày cho cuộc thương nghị và vấn đề một khi đã giải quyết xong, những tư tưởng và nguyện vọng của chúng tôi hóa thành một”. Còn gì để nói nữa khi chính Phan Thanh Giản là người chủ động thúc dục Bonard chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa trong khi viên tướng này còn lưỡng lự chưa quyết. Và như vậy, nói Phan Thanh Giản yêu nước … Pháp theo cách của Phan Thanh Giản có lẽ thuyết phục hơn.

Những hoài nghi, những đoan quyết về một Phan Thanh Giản yêu nước thực ra đều khởi nguyên từ một chén thuốc độc mà ông đã tự xử. Vị tiến sĩ văn tài như thế, thanh liêm như thế, cúc cung tận tụy 3 triều vua mà cuối cùng phải dành cho mình chén thuốc độc. Nhiều người xót xa thương cảm. Tôi cũng xót xa thương cảm. Nhưng cái chết của Phan Thanh Giản là tử tiết thì tuyệt đối không phải. Tôi đã có bài viết phân tích về cái chết của Phan Thanh Giản nhưng nhân việc ông Hoàng Lại Giang cho rằng Phan Thanh Giản yêu nước, thiết nghĩ cũng cần đề cập lại.

Ngày 20-6-1867, Phan Thanh Giản giao thành Vĩnh Long cho Pháp, sau đó gởi báo cáo kèm triều phục và ấn triện theo tàu Mẫn Thỏa hỏa tốc về Huế để nhận phạt. Đến ngày 19-7-1867, tức là gần trọn một tháng không thấy Tự Đức trả lời, Phan Thanh Giản mới bắt đầu tuyệt thực. 15 ngày sau nữa tin nhạn vẫn bặt tăm, Phan Thanh Giản quyết định uống thuốc độc tự vận. Ông vật vã gần ba ngày mới tắt thở. Đó là ngày 4-8-1867.

Đã có quá nhiều bút mực lý giải cái chết của Phan Thanh Giản nhưng Phan Thanh Giản chờ Tự Đức trả lời trong một tháng rưỡi mới tự tử là có thật. Nếu tử tiết sao ông không tự sát ngay như Tổng đốc Hoàng Diệu, như Tổng trấn Võ Duy Ninh? Tại sao phải chờ đợi? Chúng ta lại nhớ, lần tự ý nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, Tự Đức tuy phán Phan Thanh Giản là tội đồ, mà tội ấy phải xử trảm, nhưng chỉ xử Phan Thanh Giản tội cách lưu. Tất nhiên là vì Tự Đức vẫn rất cần Phan Thanh Giản trong mối quan hệ với Pháp. Mặt khác, bội ước với Pháp sẽ lãnh hậu quả đáng sợ hơn. Sự chờ đợi trong lần nhận tội thứ hai này, không gì khác hơn là Phan Thanh Giản vẫn kỳ vọng vào ân sủng của thánh chúa. Nhưng lần này Phan Thanh Giản đã đi quá xa, Tự Đức không những không cứu được Phan Thanh Giản mà còn phải xử ông tội trảm hậu. Phan Thanh Giản đã chọn chén thuốc độc để chết trước!

Có một chi tiết khá lạ lùng được ghi trong thư của Thiếu tá Ansart gởi Thiếu tá Tổng tham mưu trưởng Reboul về những giây phút hấp hối của Phan Thanh Giản. Thiếu tá Ansart, linh mục Marc và y sĩ Coniat là 3 người Pháp có mặt thường trực lúc Phan Thanh Giản lâm chung. Ansart viết: “Chúng tôi đã phải gần như ép buộc ông và lợi dụng một trong những lúc ông ngất đi mới khiến ông nuốt được một chút giải độc. Nhưng, ngay khi ông được biết là các quan đã bỏ đi, và chỉ còn có mình ông với chúng tôi, thì ông đã thuận mọi điều. Than ôi, khi đó đã quá muộn! Và điều cho thấy rõ tư tưởng của ông đã theo một chiều tốt đẹp hơn, là hai lần ông hỏi cha Marc: “Tôi sẽ thoát được chăng?” Rủi ro thay, Thiếu tá biết chung cục như thế nào”. Xin được dành sự luận giải đoạn thư trên cho người đọc.

Việc triều đình Tự Đức yếu hèn để mất nước nhanh chóng và việc Phan Thanh Giản chủ động dâng Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa là những sự thật lịch sử không thể chối cãi. Nguyên nhân và tác nhân có thể có rất nhiều, nguyên nhân khách quan và chủ quan, tác nhân trực tiếp và gián tiếp… Chúng ta đều thuộc lớp hậu thế, việc nghiên cứu phẩm bình công tội của người đi trước phải hết sức cẩn trọng, không thể chủ quan áp đặt. Lịch sử là khoa học. Khoa học không phải là bất biến nhưng cũng không hề bay bổng như văn chương. Sự thật lịch sử chỉ có một. Điều khác biệt là người ta giải mã sự thật lịch sử ấy bằng tâm ý nào.

TP.HCM, Tháng 3 năm 2008

Trong bài viết “Trao đổi với đồng nghiệp” của ông Hoàng Lại Giang về cụ Phan Thanh Giản đăng trên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn và trên Website Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù ông viết rằng ông chỉ muốn trao đổi với các ông Lê Văn Duy, Vũ Hạnh, Trần Thanh Đạm – là những người ông đã biết tên tuổi họ. Còn một số người khác, ông bảo “những người này tôi không quan tâm” vì “tôi chưa được biết tên tuổi và một công trình hay tác phẩm nào của họ” nhưng liền sau đó ông Hoàng Lại Giang đã thẳng thừng công kích bài viết của những người mà ông không quan tâm ấy với giọng cay cú: “bài viết của họ với giọng văn hằn học, kết cấu lỏng lẻo, tư liệu méo mó, cách quy chụp thiếu khoa học và xây dựng đã gây phản cảm”. Là một trong số những người có bài viết không đáng để ông Hoàng Lại Giang quan tâm trao đổi nhưng lại hân hạnh được ông chỉ trích, tôi chỉ muốn đề cập đến một số điểm trong bài viết mà tôi cho rằng chính ông đã biện giải một cách méo mó, thiếu khoa học và xây dựng để rộng đường dư luận.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2009

Cuộc trò chuyện của hai nhà văn hóa: Tuổi trẻ chưa lớn

DAYVAHOC. Tuổi Trẻ trực tuyến đã dẫn nguồn tin của báo Người đô thị giới thiệu cuộc trò chuyện giữa hai nhà văn hóa: nhà văn Nguyên Ngọc và GS.TS Lê Ngọc Trà, hai nhà văn hóa đã hàn huyên trong một buổi gặp gỡ, với những khắc khoải, suy tư về bản lĩnh thế hệ trẻ hôm nay, những người đang tiếp nối thế hệ của họ đưa đất nước tăng tốc phát triển.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Những ngày gần đây, tôi suy nghĩ nhiều về lớp trẻ hiện nay. Nói cho cùng, vận mệnh đất nước ở trong tay họ. Nếu suy nghĩ về tương lai đất nước, nói cách nào đó là suy nghĩ về lớp trẻ.

Nói thật, những năm trước đây tôi bi quan cho rằng lớp trẻ thụ động, ý thức xã hội ít, nhạt nhẽo, thậm chí một bộ phận nào đó biểu hiện không tốt. Nhưng vài năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, họ có ý thức xã hội đấy. Những biểu hiện của họ đi vào chiều sâu tư duy hơn. Và, khi chúng ta thấy sự im lặng của họ trước mọi vấn đề xã hội, đó là điều chúng ta phải suy nghĩ! Thật sự họ đang nghĩ gì? Biểu hiện bên ngoài có song hành với suy nghĩ bên trong tâm hồn thực?

Tuổi trẻ im lặng: vấn đề cần suy nghĩ!
• GS.TS Lê Ngọc Trà: Tôi nghĩ không phải cái gì người lớn áp đặt cũng được tuổi trẻ chấp nhận cả đâu. Đôi khi im lặng cũng là phản kháng đấy. Anh có thấy một hiện tượng: ước mơ của tuổi trẻ hiện nay là đi du học bất cứ nước nào. Ra đi, các em mang theo hoài bão tiếp thu kiến thức mới, song hình như đấy cũng là sự phản ứng với nền giáo dục còn quá yếu kém của chúng ta hiện nay. Có phải vậy không anh?

• Nhà văn Nguyên Ngọc: Đúng. Lớp trẻ hiện nay phần lớn đều có tâm tư với nền giáo dục nước nhà. Trong cái im lặng hoặc vâng dạ của các em hôm nay, bao nhiêu % là sự thật. Tôi đã thấy trong nhiều trường hợp, ở một môi trường xã hội nào đó, các em có những biểu hiện, suy nghĩ rất khác. Bởi, nếu chúng ta áp đặt những suy nghĩ chủ quan của người lớn lên lớp trẻ, sẽ có hai tác hại: Thứ nhất, vô tình chúng ta tạo ra một lớp nào đó nói dối (trong bụng suy nghĩ khác, dù ngoài vâng dạ), thậm chí cơ hội. Thứ hai, kìm hãm năng lực phát triển của nó.

• GS.TS Lê Ngọc Trà: Tôi chia sẻ suy nghĩ này với anh Ngọc. Người lớn tuổi như chúng ta và lớp trẻ luôn có khoảng cách về hành động cũng như suy nghĩ, đó là tất nhiên. Nhưng, nếu khoảng cách đó đẩy tới trạng thái kìm hãm sự phát triển của tuổi trẻ, đó là sự nguy hiểm. Tôi nghĩ, tuổi trẻ bây giờ có tiềm năng lớn về tri thức, thông tin, sức bật. Nhưng, vì sao hầu hết người lớn chúng ta đều cảm thấy họ dường như chưa lớn, chưa thể hiện được bản lĩnh của những người trẻ tuổi trong mọi vấn đề của xã hội cũng như chính cuộc đời họ.

Tôi đã ray rứt, khi mới đây trong một cuộc gặp mặt của thanh niên với các nhà lãnh đạo, giữa những khó khăn bộn bề của một đất nước đang cố vươn lên, trong bối cảnh suy thoái của nền kinh tế toàn cầu mà đất nước chúng ta không đứng ngoài, có những thanh niên đặt câu hỏi: có nên yêu sớm… Tôi hiểu tình yêu là thế nào với tuổi trẻ, nhưng liệu rằng ở một cuộc họp như thế có phải là lúc nêu những câu hỏi như vậy. Lỗi này thuộc về tuổi trẻ hay ai? Tôi nghĩ, lỗi thuộc về hoàn cảnh xã hội. Anh nghĩ sao?

• Nhà văn Nguyên Ngọc: Nói cho thật, thế hệ chúng mình may mắn lớn lên trong một môi trường xã hội thuần hơn, sống đầy lý tưởng giải phóng đất nước. Còn thế hệ hôm nay lớn lên trong hòa bình, trong một xã hội mở cửa bước vào toàn cầu hóa, cái lý tưởng thật sự không hiển hiện trước mắt, mà mỗi con người phải tự tìm cho mình một mục đích để đuổi theo. Do đó, nếu không có sự dẫn dắt khoa học - tôi nhấn mạnh là khoa học - thì các em dễ mất phương hướng, sinh ra hoài nghi và chán chường. Từ đó sẽ sinh ra chán nản hoặc cơ hội.

Tôi đồng ý với anh. Lỗi không phải của tuổi trẻ, lỗi của môi trường xã hội.

Không dạy sống - sao rèn được bản lĩnh!

Nhà văn Nguyên Ngọc: Xã hội hôm nay, với sự bùng nổ của Internet và các phương tiện thông tin hiện đại, giới trẻ có tràn đầy thông tin không chỉ đến từng ngõ ngách trong nước mà cả toàn cầu. Đó là thế mạnh mà các em, cháu đang hơn thế hệ cha ông. Nhưng những kiến thức đó không tự dưng mang đến cho người ta một lý tưởng sống.

Tôi cho vấn đề của con người không phải chỉ là thông tin. Vấn đề là cái lõi, cái tinh thần của thông tin đó như thế nào. Giáo dục hôm nay nhét đầy kiến thức cho con trẻ, đến độ chúng bội thực thông tin. Đó là vấn nạn. Rồi với những thông tin đó, không xài thường xuyên sẽ dần quên hết. Và, con người còn lại sẽ sống với cuộc đời đầy xô bồ hiện nay như thế nào!?

• GS.TS Lê Ngọc Trà: Nãy giờ tôi dõi theo ý của anh, cuối cùng thấy chúng ta cùng gặp nhau ở một điểm: giáo dục ở ta đang thiếu một triết lý, điều này nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu cũng nghĩ như tôi và anh. Quan trọng nhất của giáo dục không chỉ là tri thức, mà còn là cách sống. Theo tôi, giáo dục phổ thông là dạy làm người, còn giáo dục đại học là dạy nghề. Ông J. Dewey có một tư tưởng rất hay: giáo dục chính là cuộc sống. Tôi cho đây là tư tưởng cực hay. Dạy đứa trẻ chính là dạy nó sống. Nó không biết sống cho đúng thì làm sao có đủ bản lĩnh trước cuộc đời.

Đã đến lúc phải xem lại toàn bộ chương trình giáo dục. Nhà trường quan trọng trước hết phải dạy người ta sống. Chứ không phải chỉ cung cấp tri thức, dạy hiểu biết, dạy tư duy, cho dù là tư duy sáng tạo. Ở Singapore, vừa qua họ đã cho bớt giờ khoa học ở bậc tiểu học mà tăng giờ dạy kỹ năng sống ngoài xã hội cũng như trong gia đình. Bởi con người dù hiểu biết thông minh, sáng tạo đến mấy cũng không đủ làm con người có bản lĩnh.

• Nhà văn Nguyên Ngọc: Ý anh hay. Từ thông tin đến tư duy, cũng vẫn chỉ là kỹ thuật, cái kỹ thuật tư duy trong đầu. Vấn đề là phải thao tác kỹ thuật đó như thế nào. Mà tôi cho rằng để sống làm người có bản lĩnh, cái cảm là vô cùng quan trọng. Buồn thay, nay môn văn không dạy cho con trẻ cái cảm mà biến thành một môn khoa học. Sai hết rồi!

GS.TS Lê Ngọc Trà: Bây giờ bên cạnh chỉ số IQ (thông minh) người ta còn đặt vai trò quan trọng của chỉ số EQ (cảm xúc).

Dân chủ, cần bản lĩnh từ cả hai phía

Nhà văn Nguyên Ngọc: Gần đây ở Nga người ta có in lại quyển “Những ý nghĩ không hợp thời” của M. Gorki viết thời kỳ cách mạng Nga mới lật đổ Sa Hoàng, trong đó ông nói: Cuộc cách mạng đã rất quan trọng và vĩ đại. Song, mới chỉ đưa những căn bệnh ngoài da vào trong nội tạng.

GS.TS Lê Ngọc Trà: Nhân anh nói tới M.Gorki, tôi nhớ tới Mandela, tôi xem ông là bậc hiền triết. Sau khi lãnh đạo việc xóa bỏ chế độ Apactha, ông nói: Chúng ta chưa có tự do. Chúng ta mới giành được quyền để được tự do. Các bệnh của dân tộc chúng ta còn nguyên si. Suy nghĩ về dân tộc phải suy nghĩ tới mức như vậy. Phải có cuộc cải tạo dân tộc bằng văn hóa. Bởi lớp trẻ có thể biết nhiều, thông minh, song một khi phần con người nhân văn nó chông chênh, rất nguy hiểm. Tư tưởng của Tổng thống Obama (Mỹ): bản chất sự thay đổi của nước Mỹ không nằm ở vũ khí, không nằm ở sự giàu có mà nằm ở sự thay đổi tính nhân văn của dân tộc.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Tôi chia sẻ. Tuổi trẻ là tuổi lãng mạn, kéo dài 10-15 năm. Tới khi có gia đình cái lãng mạn đã giảm nhiều. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn cũng đã thốt lên trong lời ca: “Ai cũng có một thời trai trẻ…”. Chính tuổi trẻ cần có lý tưởng để vươn tới. Mà nói đến lý tưởng là nói đến cái chất lãng mạn của con người. Ở đây xin đừng hiểu lãng mạn là “than cùng mây và khóc với gió”, mà là một sự hướng thiện, khao khát lý tưởng, vươn lên cái đẹp trong cuộc sống. Phải tạo điều kiện cho tuổi trẻ giải phóng năng lực.

Nhưng, tôi muốn đề cập đến vấn đề nhạy cảm: dân chủ. Chính sự dân chủ sẽ giúp thế hệ trẻ tìm thấy hoài bão đích thực của mình, chứ không phải là thứ hoài bão gán ghép cho họ. Làm sao trao cho người ta quyền dân chủ mà người ta không lợi dụng nó để hành động bậy. Đó là bản lĩnh của nhà lãnh đạo, cũng như của nền giáo dục trong việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, trong việc tạo cho họ một tình yêu gia đình - xã hội và cộng đồng, một nhân sinh quan đúng đắn.

Chúng ta đã không giáo dục đầy đủ tính nhân văn cho tuổi trẻ, cũng như những định chế về luật pháp và đạo đức để sống trong một xã hội đang có những chuyển đổi dữ dội, nhưng lại cũng chưa được quản lý một cách khoa học, vì vậy ta mới lo sợ khi mở rộng cửa…

GS.TS Lê Ngọc Trà: Chính vì vậy, hiện nay có hiện tượng ở một bộ phận tuổi trẻ: chuyện gì cũng có thể chém giết nhau được. Một khi thông tin thiếu cái lõi nhân văn, loạn là thế. Tôi cảm nhận, có một chỗ nào đó trong căn bệnh xã hội của chúng ta hiện nay chưa được tháo gỡ.

Phẩm chất thật sự của trí thức là nhân cách

Nhà văn Nguyên Ngọc: Nguy hiểm ở chỗ khi con người chỉ được cung cấp thông tin đơn thuần, họ sẽ trở nên khô khan, lạnh lùng và những tội ác sẽ đến từ đấy. Bởi, thông tin không tạo nên tâm hồn. Nói cho cùng, bản lĩnh chính là phẩm chất lãng mạn trong con người. Những con người vĩ đại, họ lãng mạn lắm.

GS.TS Lê Ngọc Trà: Khi người ta biết yêu cái đẹp, khó làm điều xấu. Khi anh biết rung cảm với một chiếc lá rơi, anh dễ rung động trước nỗi khổ của con người, nhân loại, lương tri anh thức dậy, chế ngự được dục vọng. Do đó, phải chuẩn bị cho con trẻ nhân cách, làm người bên cạnh trang bị tri thức.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Tri thức tự bản thân nó luôn luôn vươn tới sự hoàn thiện. Khi đạt đến sự hoàn thiện tri thức có vẻ đẹp của nó, chứ không còn là kiến thức trần trụi. Khi nói tới trí thức người ta thường nghĩ tới người có tri thức, có học thức. Thật ra phẩm chất thật sự của người trí thức nằm ở nhân cách trí thức của anh ta.

GS.TS Lê Ngọc Trà: Đúng rồi. Nhân cách trí thức này rất quan trọng, nó thể hiện trước hết không phải ở những phẩm chất đạo đức thông thường: hiền lành, nhân hậu… mà chủ yếu là khát vọng về chân lý và sự trung thành đến cùng với chân lý, sự thật. Theo tôi ở Việt Nam, đội ngũ trí thức hiểu theo nghĩa này còn rất mỏng.

Văn hóa chính là cái phanh

GS.TS Lê Ngọc Trà: Tôi cũng muốn nói rõ hơn, tuổi trẻ không thiếu thông tin, khoa học, nhưng cái họ thiếu chính là tính nhân văn trong các lõi thông tin đó. Và, điều gì sẽ xảy ra nếu bản lĩnh của họ trước cuộc đời trở nên yếu ớt hoặc lệch lạc. Nhất là khi đất nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường, giữa những giông bão của thị trường, tuổi trẻ dễ xốc nổi, nếu bản lĩnh yếu liệu rằng họ có bị nghiêng ngả không. Tất nhiên, kinh tế thị trường là bắt buộc nhưng nó phải xây dựng trên một nền tảng pháp lý, đạo đức lành mạnh, tương hợp, nếu không sẽ đẻ ra những hậu quả rất nguy hiểm.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Kinh tế thị trường của ta hiện nay vẫn còn thời kỳ hoang dã, thiếu hầu hết những định chế đạo đức ràng buộc. Do đó, phát triển thế nào đó là hạnh phúc, và thế nào đó lại là đau khổ. Bill Gates tham vọng và khao khát làm giàu. Nhưng trong ông ta vẫn là con người lãng mạn, do đó đồng tiền ông ta làm ra đã dành phần lớn để cống hiến trở lại vì hạnh phúc của nhân loại qua công tác từ thiện.

GS.TS Lê Ngọc Trà: Tôi cũng nghĩ như anh, lãng mạn không hề mâu thuẫn với khát khao vươn tới. Và, văn hóa chính là cái phanh. Đất nước đang tăng tốc phát triển, chính lúc này lại cần cái phanh văn hóa để xã hội không lệch lạc.

Tôi cho rằng thanh niên hiện nay đang chịu cái gánh rất nặng trong giai đoạn chuyển đổi của đất nước. Cùng một lúc, chuyển từ nông thôn thành thành thị, từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, từ chuyên chính sang dân chủ, từ vô thần sang thừa nhận tự do tôn giáo, từ sản xuất nhỏ sang sản xuất công nghiệp hóa… Hàng loạt sự chuyển đổi đó lại đặt trên vai một xã hội còn nghèo nàn, lạc hậu, chịu không nổi bứt hết... Một sự đứt gãy văn hóa khủng khiếp. Không chỉ tuổi trẻ, mà tuổi già cũng khủng hoảng.

Nhà văn Nguyên Ngọc: Tôi thông cảm cho thanh niên đang đứng giữa dòng nước siết. Chính vì vậy, lúc này chính văn hóa - giáo dục phải có sự vươn lên, dẫn dắt con người vượt qua khủng hoảng. Không tự dưng mà trong diễn văn nhậm chức của mình cách đây không lâu, bà hiệu trưởng ĐH Harvard nổi tiếng đã nói: Giáo dục đại học không chỉ lo cho bây giờ. Nó còn phải kết nối quá khứ với tương lai. Lo cho cả cuộc đời con người.

Theo MAI LAN (Người Đô Thị)