Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2009

Nhà phê bình - người bạn lớn của những nhà sáng tác



DAYVAHOC. Blog Nguyễn Trọng Tạo New. Nhà phê bình - người bạn lớn của những nhà sáng tác. Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: "Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy". Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: "Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn"...(ảnh Nguyễn Trọng Tạo bởi Nguyễn Đình Toán)

1. Một tác phẩm văn học dù là một hai câu thơ hay nghìn trang văn xuôi sẽ thật hạnh phúc khi có người đọc, hạnh phúc hơn nữa khi có người bình, và cực kỳ hạnh phúc khi được nghiên cứu thẩm định hay, dở, khen, chê một cách khoa học khách quan và công bằng. Vì thế, không một nhà sáng tác nào lại dại dột từ chối người đọc, từ chối nhà nghiên cứu phê bình khi họ khen hoặc chê tác phẩm của mình một cách đích đáng. Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: "Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy". Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: "Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn". Nếu gọi nhà văn là "giáo sư của tâm hồn" thì vị thế của những nhà khen chê đích đáng thật là to lớn. Tôi nghĩ một cách khiêm tốn rằng, chắc chả có nhà phê bình nào lại hợm hĩnh nhảy lên đầu nhà văn để làm thầy của những giáo sư tâm hồn, nhưng cái câu "chê đúng là thầy của nhà văn" đã xác định tầm quan trọng của phê bình văn học trong lịch sử văn chương của mỗi dân tộc và trên toàn thế giới.

2. Một nhà phê bình văn học, bao giờ cũng phải được thể hiện trên ba góc nhìn văn hoá cơ bản, đấy là văn hoá sống, văn hoá đọc và văn hoá viết. Không có đời sống phong phú, không thể chia sẻ với đời sống đầy phức tạp trong tác phẩm; Không có cách đọc sẽ không có chìa khoá để mở cửa tiếp cận tác phẩm; và không có một văn hoá viết thì không thể truyền đạt sâu sắc cảm nhận, đánh giá, phán xét tác phẩm. Chúng ta không ấu trĩ đến nỗi coi phê bình chỉ mang ý nghĩa phê phán đơn thuần. Theo từ điển Hán-Việt thì chữ bình ở đây mang bộ ngôn, có thể hiểu là phát ngôn một cách công bằng; còn chữ phê thì mang khá nhiều nghĩa: Phê là phán quyết, phân xử phải trái, phê là khởi lên một công việc, phê là chẻ ra từng mảnh, nhưng phê cũng có nghĩa là lấy tay đánh vào mặt người khác. Cái nghĩa thứ tư này của chữ phê nghe hơi kinh, nên những nhà từ điển đã không giải thích nghĩa này trong từ ghép Phê bình, mà chỉ giải nghĩa rằng: Phê bình là thẩm định, đánh giá hay dở, phải trái một cách công bằng. Tôi hiểu ý nghĩa này đối với nhà phê bình là phải hơn cả. Còn khi nhà phê bình đạt tới trình độ "hạ bút châu phê" thì đấy chính là "nhà phê bình minh vương" rồi.

3. Tôi có cảm giác rằng phê bình văn học của ta gần đây có vẻ thiên về ý nghĩa thứ tư của chữ phê, nghĩa là "lấy tay đánh vào mặt người khác". Cái kiểu phê bình này kích động tính tò mò hả hê của công chúng, giống như chuyện vụ án, giết người, hiếp dâm, chỉ điểm, bắt cóc nhan nhản trên báo chí nhằm câu khách kiếm tiền. Khá nhiều tờ báo lợi dụng lối viết dung tục, rẻ tiền này nên nó mới có cơ phát triển lũng đoạn thị hiếu, vấy bẩn tâm hồn giấy trắng. Xem truyện bạo lực nhiều, trẻ con chưa kịp lớn đã trở thành tội phạm; xem nhà văn lấy dao chữ đâm vào nhau trên diễn đàn văn học nhiều, công chúng sẽ coi thường nhà văn và coi thường luôn cả nền văn học thực tại, dẫn tới sự rạn vỡ tình yêu văn học của công chúng.

Tôi không phải là người quá lo xa cho dòng phê bình phê phán nhưng tôi rất ái ngại cho phê phái phê bình đao búa. Nhìn lại các cuộc tranh luận văn nghệ nửa đầu thế kỷ XX như tranh luận về Quốc học (1924 - 1941), tranh luận về Truyện Kiều (1924 - 1945), Tranh luận về Duy tâm và Duy vật (1933 - 1939) tranh luận Thơ mới và Thơ cũ (1932 - 1942), tranh luận về Nghệ thuật vị (1935 - 1939), tranh luận Văn nghệ Việt Bắc (1949 - 1950), v.v... dù có lúc phải bàn đến văn hoá tranh luận nhưng đều mang tới những bài học bổ ích và lý thú về học thuật và quan niệm phát triển tất yếu của văn nghệ nước nhà. Cũng có lúc, những ý kiến mạnh tạm thời thắng thế, nhưng rốt cuộc, qui luật phát triển tất yếu của văn nghệ vẫn có con đường đi rất âm thầm và kiên trì của nó. Trường hợp "tranh luận thơ không vần" đã khiến Nguyễn Đình Thi phải sửa thành thơ có vần, nhưng cuối cùng ông vẫn trở lại thơ không vần; và trường hợp "tranh luận sân khấu" 1950 gạt bỏ sân khấu cải lương, nhưng cuối thể kỷ, cải lương vẫn tồn tại như ta đã thấy. Điều ấy chứng tỏ rằng, tranh luận có đúng và có sai, nhưng có tranh luận dân chủ mới thu hút được sự chú ý đối với văn học, và xác định được con đường lớn của văn học. Tại sao chúng ta thiếu tranh luận thực sự dân chủ? Là vì người đưa ra tranh luận chỉ khăng khăng mình đúng mà không chấp nhận những ý kiến khác, cho rằng tất cả các ý kiến khác mình, đều sai. Hơn nữa, dù đối tượng tranh luận không sợ phê bình phê phán, nhưng họ lại sợ phê bình đao búa. Có lẽ đây là điều nhức nhối nhất của phê bình văn học ta hiện nay. Hình như đã có dấu hiệu xuất hiện chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa háo danh trong phê bình văn học, điều mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng đả phá.

4. Trong lao động, chúng ta yêu cả người trồng rừng lẫn người đốt cỏ, bởi chúng ta cần rừng xanh. Chính vì thế, chúng ta căm thù những kẻ đốt rừng. Trong phê bình văn học cũng vậy, sự chăm chút tài năng, phát hiện tài năng, ghi nhận các giá trị thực sự, là điều vô cùng quan trọng. Nếu có tỉa cây đốt cỏ trong khu rừng văn học, thì đấy là điều rất cần thiết, nhưng phải hết sức cẩn trọng, và phải chuẩn bị sẵn xe cứu hoả. Tôi nói điều này, vì tôi quan niệm rằng, chúng ta hãy tìm đến cái hay cái đẹp của văn chương mà thưởng thức nó, khiến cho người khác cũng cảm yêu cái hay cái đẹp ấy, nghĩa là tôi thích làm người trồng rừng chứ không thích làm người đẵn cây.

Kinh nghiệm phê bình văn học cho thấy, Lá cỏ của Uýt-man bị phỉ báng ở Mỹ khi vừa ra đời, nhưng đã lọt vào mắt xanh của một người Anh, và rồi nó trở thành tác phẩm vĩ đại. Thơ Mới 32-45 tồn tại trong lời khen của Hoài Thanh, Hoài Chân cho mãi tới hôm nay. Đương thời có thể cho rằng Chế Lan Viên đã "bốc thơm" Hàn Mặc Tử khi ông nói: "Mai sau còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử", nhưng bây giờ nhìn lại, thấy quả là ông nói đúng. Khen và chê vốn không có tội, vấn đề là khen đúng và chê đúng. Nhưng đối với phê bình, làm được điều đó quả là không dễ, huống hồ người đọc luôn yêu cầu cao hơn việc khen đúng và chê đúng, đấy là phải khen thật hay, thật thuyết phục, và chê cũng phải thật hay, thật thuyết phục. Khen chê để người đọc "thủng nhĩ" là điều mà phê bình văn học của chúng ta phải phấn đấu rất nhiều.

Dù sao, tôi vẫn nghĩ, phê bình văn học của ta cần tăng cường hơn nữa tính phát hiện, nâng đỡ tài năng và tác phẩm. Phê bình không chỉ dẫn dắt người đọc, dẫn dắt nhà văn mà còn phải nâng đỡ họ đến với những giá trị mới mẻ và hữu ích, chứ không phải chỉ nói rằng thích hay không thích. Chỉ nói thích hay không thích thì chẳng cần đến nhà phê bình.

5. Cuối cùng, là một người làm thơ và có viết nhiều bài về thơ, tôi tha thiết đề nghị các nhà phê bình ở ta để tâm đến thơ nhiều hơn nữa. Có người nói, thế hệ các nhà thơ chống Mỹ đóng góp rất lớn cho thơ Việt nửa cuối thế kỷ XX, nhưng họ thiếu mất một Hoài Thanh của thế hệ họ. Chính vì thế mà hiện tượng một số nhà thơ nhảy vào viết phê bình tiểu luận về thơ. Đấy là hiện tượng không có gì lạ đối với thế giới, và đối với nước ta, nhưng điều đó là rất đáng ghi nhận trong lúc sân bóng thơ trống vắng những cầu thủ phê bình, bởi ở đấy có thể đăng tải khối lượng rất lớn các vấn đề thơ ca trong nước và thế giới. Và tôi tin rằng, các nhà phê bình sẽ thực sự là bạn của nhà thơ, nhà văn, độc giả, và hơn thế nữa, các nhà phê bình sẽ là bạn thân thiết của nhau.

Hà Nội, 12.8.2003
Nguyễn Trọng Tạo
(Sông Hương số 176/10-2003)

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009

Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận kiến thức

DAYVAHOC. Nguyễn Hào Hải viết trên CAND.COM. "Những người cấp kinh phí, tiền của cho các chương trình nghiên cứu, đào tạo khoa học mạnh mẽ nhất là các tập đoàn sản xuất, những ngành kinh tế, những ngành sản xuất, các hãng, các công ty lớn xuyên quốc gia…đầy tiềm lực tiềm năng. Các nhà tài trợ này sẽ không bao giờ bỏ tiền của của họ cho những công tác nghiên cứu, đào tạo khoa học chỉ để có những "Tiến sĩ giấy", hay cho những mục đích quảng bá vu vơ, hão huyền. Tính hiệu quả sẽ là thước đo, là chỉ tiêu hàng đầu để họ sẽ đưa ra quyết định có tài trợ hay không? Tính hiệu quả không những chi phối công tác đào tạo khoa học mà còn chi phối cả những công tác hoạt động khoa học, quản lý khoa học, rồi sẽ có nhiều sự điều chỉnh, đổi thay trong công tác này..."

Có thể thấy hai kiểu để tìm hiểu, thu nhận kiến thức. Cách thứ nhất: cách học để biết nhằm gia tăng thêm kiến thức (La savoir) hay nói cách khác kiến thức có được nhờ sự học và đặc điểm của cái sự học này là phát huy trí óc từ khả năng thuộc, nhớ...

Nhiều người rất thông minh, rất giỏi, thuộc nhớ rất nhiều. Bộ óc của họ có thể gọi là "Một cuốn từ điển bách khoa" kiến thức rộng lớn, biết mọi điều Đông- Tây- Kim- Cổ và được người đời rất thán phục, ngợi ca. Đây là điển hình người tài của thời kỳ tiền hiện đại và một phần của hiện đại.

Cái học của tinh thần hậu hiện đại rất khác. Học không chỉ để biết mà học để sáng tạo. Do vậy tinh thần khoa học hậu hiện đại không đề cao dạng kiến thức La savoir- có được do khả năng thuộc, nhớ mà có (những kiến thức này chủ yếu là những kiến thức cố định, có sẵn do nền học vấn của những người đi trước tạo ra) mà đề cao loại kiến thức La connaissance- có được chủ yếu nhờ vào năng lực nhận thức (Lacapacité de la connaissance). Những người có năng lực (Capacité) hay có thể gọi là năng lượng (énergie) nhận thức không cần học nhiều nhưng biết nhiều.

Những nhà bác học chế tạo ra các con tàu vũ trụ chưa hề bao giờ học lái con tàu vũ trụ hay học cách ra khỏi con tàu vào khoảng không để sửa chữa khi bị hư hỏng, nhưng họ biết mọi việc của một phi hành gia, và chỉ dẫn những cách thức thao tác cho phi hành gia ra ngoài khoảng không để sửa chữa..

Người có năng lực, năng lượng nhận thức ngoài yếu tố bẩm sinh, còn nhờ kinh nghiệm sống, kỹ năng sống, sự nhạy cảm, óc tưởng tượng phong phú…tất nhiên không thể bỏ qua việc học tập để thu nhận, hiểu biết những kiến thức nền tảng (La savoir). Và đặc biệt một đặc điểm nổi trội nhất là khả năng tạo phong cách tư duy phản biện với những điều mình biết, mình hiểu trong sách vở, trong đời sống.

Xin lưu ý rằng tư duy phản biện của tinh thần khoa học hậu hiện đại đã khác về chất, về cường độ so với tư duy phản biện như là một yếu tố cặp đôi với chính thuyết trong tiến trình nghiên cứu khoa học đã có từ lâu đời ở phương Tây (Argumentation). Sự phản biện trong truyền thống nghiên cứu khoa học trước đây thường đưa ra những ý kiến phản bác lại, cãi lại những lý thuyết, những kết luận khoa học đã được đưa ra, nhằm góp ý để chỉnh sửa lại cho tốt hơn, hoàn hảo hơn những lý thuyết, những kết luận khoa học đó.

Tư duy phản biện với tinh thần của khoa học hậu hiện đại vẫn mang tinh thần truyền thống đó nhưng riết ráo hơn, mạnh mẽ hơn rất nhiều. Có thể mượn khái niệm "Transvaluation" (lật ngược giá trị) trong "Thuyết siêu nhân" của F.Nietzshe trước đây để nói về tinh thần phản biện đó: Tức là trong khoa học, nhiều khi không chỉ có chỉnh sửa những lý thuyết cũ, chân lý cũ mà cần phải lật ngược hẳn lại để tìm, để khám phá ra những cái khác, mang được những giá trị mới, chân lý mới.

Chẳng hạn, trong phương pháp tư duy khoa học thời hiện đại, nguyên lý hệ thống là một trong những phương pháp tư duy nền tảng. Nguyên lý này là thước đo quan trong nhất để nhận thức, để nghiên cứu mọi sự vật, mọi hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội. Nguyên lý hệ thống luôn luôn truy tìm ra những yếu tố điển hình nhất, qui luật nhất, mang tính phổ quát nhất… Một sự vật, hiện tượng nào mang được nnững yếu tố như vậy, đặc tính như vậy sẽ mang được tính bản chất nhất và đồng thời cũng mang được tính chân lý. Tinh thần khoa học hậu hiện đại vẫn coi trọng những điều đó, nhưng sẽ đưa ra những phản biện mạnh mẽ, rốt ráo hơn để phản bác, xây dựng một lối nhìn khác hẳn, mới hoàn toàn trên con đường đi tìm chân lý.

Với những nguyên lý hệ thống, nó thấy rằng nguyên lý này quá "tôn thờ" cái ổn định nên đã không biết đến những "biến số", những "khúc quanh", những sự đan chéo, những quá độ, những biệt lập, những dị biệt nằm ngoài hệ thống mà vai trò của nó cũng không hề kém quan trọng trong tiến trình hình thành, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, của mọi vấn đề trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tự nhiên. Lối tư duy phản biện này trong lý luận nhận thức của triết học hậu hiện đại được thể hiện rõ nhất, đúng nhất ở thuyết "Nghịch luận" (Paralogie). Thuyết này (Paralogie) chúng ta thấy có tiếp đầu ngữ là para: có nghĩa là song song, cận kề, chuẩn bị xuất hiện, ẩn bóng, chưa xuất hiện…

Một trong những đặc điểm của nhận thức luận hậu hiện đại hay có thể gọi là logic hậu hiện đại là truy tìm, khám phá ra những cái (chân lý) nằm cận kề, nằm song song với những cái đã khẳng định, ổn định, những cái chuẩn bị xuất hiện hay ẩn mình, chưa xuất hiện, những cái chưa từng có, chưa từng thấy để tìm ra những giá trị mới, chân lý mới. Chính vợ chồng nhà tỷ phú Bill Gattes hiện nay đã không ngại ngùng bỏ ra rất nhiều tiền của để tài trợ cho một số nhà khoa học tài ba tìm ra, phát hiện ra, sáng tạo ra những cái mới có giá trị cho nhân loại mà vẫn còn ở phía trước mà đầu óc của các nhà khoa học bình thường không hình dung ra được, hoặc cho là ngược đời phi lý- đó chính là những para- những cái chuẩn bị xuất hiện, còn ẩn bóng, còn chưa xuất hiện…Nói tóm lại đó là những "cú" đột phá, những bước nhảy vọt của sự khám phá, sáng tạo của tinh thần khoa học hậu hiện đại.

Sự học của thời kỳ hậu hiện đại đã khác xa kiểu học cũ, nhất là lối học giỏi, học để có một tấm bằng. Trong thời hậu hiện đại, một nhà khoa học, chỉ có một bằng tiến sĩ (dù đó là loại giỏi chứ chưa nói đến loại tầm tầm hay loại "tiến sĩ giấy") cũng sẽ khó trụ vững trên con đường sự nghiệp của mình, nếu không nỗ lực để có thêm những bằng của những chuyên ngành khác phù trợ. Sự phát triển như vũ bão của khoa học trong thời hậu hiện đại đã đẩy nhanh tốc độ gia tăng tính liên ngành (Interdisciplinarité) trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, cho nên với một tấm bằng của một chuyên ngành, của một bộ môn sẽ làm cho các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn, cản trở cho công việc, bởi có nhiều ngành khoa học, nhiều ngành sản xuất cần phải phối hợp nhiều chuyên ngành, nhiều bộ môn khoa học khác nhau mới tiến hành tốt hơn được.

Các bậc tiến sĩ là vậy, sinh viên của thời hiện đại ở bậc đại học cũng không chỉ đạt được một tấm bằng là sự nghiệp của cuộc đời đã tạm ổn. Do tính liên ngành càng phát triển rộng, sâu, có nhiều ngành khoa học mới, ngành nghề mới ra đời, khoa học trong một thế giới phẳng nhưng phân khoa theo kiểu cũ ngày càng trở nên cứng nhắc, hạn hẹp, không đáp ứng sự phát triển khoa học cũng như nguồn lực lao động mới sẽ phải điều chỉnh lại.

Sẽ không còn ranh giới trong các khoa, các bộ môn của các trường Đại học được phân chưa rõ ràng như cũ. Chính tính liên ngành trong khoa học đòi hỏi phải có những cơ cấu mới trong tổ chức nghiên cứu khoa học cũng như trong đào tạo khoa học. Sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao của khoa học kỹ thuật thời hậu hiện đại làm cho người ta không có thể biết trước chắc chắn được rằng trong 10, 15, 20 năm nữa ngành nào cũ sẽ còn đắc dụng và ngành nào, bộ môn nào mới sẽ là "hot" nhất, quan trọng nhất…Vì vậy người sinh viên của thời hậu hiện đại phải biết hơn một chuyên ngành mà mình học.

Công tác đào tạo tri thức cho sinh viên không thể theo kiểu chuyển giao trí thức trọn gói một lần là xong. Các trường đại học, các trường cao đẳng, các trường nghề luôn luôn phải đặt ra các chương trình đào tạo lại, đào tạo thêm. Người sinh viên có thể học để lấy thêm một bằng hoặc hơn (nếu có điều kiện), nếu không có thể học thêm theo cách "chọn từng món" (à la carte) để tìm việc làm, để làm việc có hiệu quả. Cũng do tính liên ngành trong khoa học phát triển, nên kiểu học "gạo", học một mình, học theo kiểu "dùi mài kinh sử"…sẽ bị hạn chế kết quả rất nhiều, thậm chí sẽ không thực hiện được những đề tài khoa học mới. Do vậy sinh viên muốn thực hiện, phát triển được những nghiên cứu khoa học đạt được kết quả tốt phải kết hợp, phải xây dựng thành các nhóm nghiên cứu- tập hợp nhiều cái đầu để cùng bàn, cùng nghĩ, cùng làm sẽ cho hiệu quả tốt hơn khi chỉ có một cái đầu. (các giải Nobel khoa học trong nhiều năm gần đây thường trao cho các nhóm nghiên cứu). Tóm lại có thể nói về cách học, phong cách học của thời hậu hiện đại đã có rất nhiều điều khác xa với lối, kiểu học cũ…

Mục đích học tập cũng vậy. Học chỉ cốt có một tấm bằng, để làm "bùa hộ mệnh", để có danh, để làm sang, để làm quan…cũng sẽ bị tinh thần khoa học hậu hiện đại loại khỏi cuộc chơi. Một trong những rào chắn cứng rắn, mạnh mẽ, hữu hiệu để chặn các mục đích trên của học hành, thi cử cũ là tính hiệu quả của khoa học thời hậu hiện đại.

Ở các xã hội hậu công nghiệp (điển hình là các nước phát triển), hiện nay khoa học này càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được tư bản hoá, thương mại hoá vì vậy công tác đào tạo đại học, sau đại học sẽ bị tính hiệu quả chi phối rất mạnh.

Tất cả mọi biểu hiện của chủ nghĩa hình thức được sinh ra từ những tiêu cực của công tác đào tạo cũ như tạo ra rất nhiều bằng cấp, học hàm, học vị theo kiểu: "có tiếng nhưng không có miếng", "hữu danh vô thực"…sẽ khó còn đất tồn tại, bởi lẽ những người cấp kinh phí, tiền của cho các chương trình nghiên cứu, đào tạo khoa học mạnh mẽ nhất là các tập đoàn sản xuất, những ngành kinh tế, những ngành sản xuất, các hãng, các công ty lớn xuyên quốc gia…đầy tiềm lực tiềm năng. Các nhà tài trợ này sẽ không bao giờ bỏ tiền của của họ cho những công tác nghiên cứu, đào tạo khoa học chỉ để có những "Tiến sĩ giấy", hay cho những mục đích quảng bá vu vơ, hão huyền. Tính hiệu quả sẽ là thước đo, là chỉ tiêu hàng đầu để họ sẽ đưa ra quyết định có tài trợ hay không?

Tính hiệu quả không những chi phối công tác đào tạo khoa học mà còn chi phối cả những công tác hoạt động khoa học, quản lý khoa học, rồi sẽ có nhiều sự điều chỉnh, đổi thay trong công tác này...

Nguyễn Hào Hải

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009

Thông tin từ một trong mười đại học hàng đầu nước Mỹ

DAYVAHOC. Dartmouth là trường tư, luôn thuộc nhóm 10 đại học hàng đầu của Mỹ. Ở đây có môi trường học tập rất tốt để đào tạo và chuẩn bị cho sinh viên trở thành những người lao động sáng tạo xuất sắc và những người lãnh đạo tài giỏi đầy trách nhiệm. Với tỷ lệ trung bình 1 giảng viên cho 8 sinh viên, trường là nơi lý tưởng để trao đổi và học hỏi kiến thức. Hàng ngàn sinh viên có điều kiện để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ một-trò-một-thầy. Nhiều giảng viên của trường là những người có bộ óc thông minh bậc nhất nước Mỹ. Trao đổi của anh Vũ Duy Mẫn, hiện sống và làm việc tại New York

KIẾM LỢI TỪ GIÁO DỤC



Vũ Duy Mẫn
Hiện sống và làm việc tại New York


Viết Từ Forest Hills

Em bạn tôi ở Việt Nam kinh doanh giáo dục, xây trường, mở lớp, tuyển sinh, để kiếm lợi. Bạn tôi tin chắc rằng, ở các trường trên thế giới, người ta cũng đều kiếm lời bằng tiền học phí thu của học sinh / sinh viên.

Hôm qua đọc Dartmouth Alumni Magazine (*), có vài con số cụ thể về chi phí đào tạo, tôi muốn ghi ra đây để chia sẻ với những người có cùng ý nghĩ như bạn tôi.

Dartmouth là trường tư, luôn thuộc nhóm 10 đại học hàng đầu của Mỹ. Ở đây có môi trường học tập rất tốt để đào tạo và chuẩn bị cho sinh viên trở thành những người lao động sáng tạo xuất sắc và những người lãnh đạo tài giỏi đầy trách nhiệm. Với tỷ lệ trung bình 1 giảng viên cho 8 sinh viên, trường là nơi lý tưởng để trao đổi và học hỏi kiến thức. Hàng ngàn sinh viên có điều kiện để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ một-trò-một-thầy. Nhiều giảng viên của trường là những người có bộ óc thông minh bậc nhất nước Mỹ.

Và đây là vài con số cụ thể về việc "kinh doanh" của đại học Dartmouth, lấy từ năm học 2007-2008.



- Chi phí đào tạo 1 năm cho một sinh viên: 99630 đô la

- Tiền thu học phí, ở và ăn 1 năm từ 1 sinh viên: 45483 đô la

- Sau khi được trợ cấp, trung bình tiền thu học phí, ở và ăn 1 năm từ 1 sinh viên: 16203 đô la

Vậy kinh phí hoạt động của trường được lấy từ đâu?




Tiền học phí, ở và ăn thu từ sinh viên chỉ chiếm 43% chi phí đào tạo. Phần còn lại là từ các khoản thu nhập do đầu tư, tiền/quà tặng của các cựu sinh viên, gia đình, bè bạn, ...

Nhiều trường tư được bắt đầu thành lập bằng một qũy từ thiện. Trường giỏi là trường có môi trường tốt cho việc học tập, có đội ngũ giảng viên giỏi và luôn tuyển chọn sinh viên giỏi. Nếu như chỉ có tiền để trả học phí, thì sinh viên không hề đủ tiêu chuẩn để được nhận vào các trường tốt.

Thiết nghĩ, nếu coi mục đích của một cơ sở giáo dục đại học là kiếm lợi từ tiền thu của sinh viên, thì làm sao có thể có được chất lượng giáo dục cao.

26/6/2009.

(*) Hà Linh, con gái thứ hai của chúng tôi tốt nghiệp đại học Dartmouth năm 2008, nên gia đình vẫn thường xuyên nhận được báo của trường



About Dartmouth

I joined this community as its 17th president on July 1, 2009. Many months ago, as I first explored the College through conversations with faculty, students, staff, and alumni/ae, I was struck by the depth of the bonds that Dartmouth people seemed to feel with Dartmouth and with one another. I have begun to immerse myself in all aspects of life and learning on this campus, and on the basis of my own experience, I am gaining a clearer understanding of the power of this place.

Dartmouth is a paradox. Located in beautiful, rural New Hampshire, it is an intimate community that explodes with energy and benefits from extraordinary connections and collaborations with thinkers, artists, and institutions nationally and internationally. We pride ourselves on our undergraduate education. It is one of the finest in the world. Study at Dartmouth inevitably draws undergraduates not only into rich contacts with faculty throughout the Arts and Sciences, but also with faculty at our outstanding professional schools – the Tuck School of Business, Thayer School of Engineering, Dartmouth Medical School – and graduate programs in the Arts and Sciences. We attract undergraduate and graduate students who are adventurous, creative, and drawn to independent study. Our faculty is renowned for their teaching and their scholarship. The openness and the availability of the faculty to the students are integral to the Dartmouth experience.

Dartmouth educates our students for leadership. We are interested in ideas that have not yet been thought, in images that have not yet been seen, in words that have not yet been said. We seek students and faculty who care deeply about the purpose of their work and its widest implications. The Dartmouth environment is rich with questions, and it is a place where we often find lifelong friends. I welcome you to explore Dartmouth through these web pages and in person.

Sincerely,

Jim Yong Kim
President

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2009

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng




DAYVAHOC. Sống trong đời sống cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi ... Bài hát vàng, giai điệu ngọt ngào, sâu lắng "Để gió cuốn đi" của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn trong anbum vàng NHACSO.NET với lời bình thật hay của anh Trần Đức Khiêm. Bản nhạc này tối nay lại tiếp tục cất lên làm xúc động lòng người. Mời bạn cùng lắng nghe ...

Tác giả: Trịnh Công Sơn

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không ?
Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi
Gió cuốn đi cho mây qua dòng sông
Ngày vừa lên hay đêm xuống mêng mông
Ôi trái tim đang bay theo thời gian
Làm chiếc bóng đi rao lời dối gian

Những khi chiều tới cần có một tiếng cười. Để ngậm ngùi theo lá bay. Rồi nước cuốn trôi, rồi nước cuốn trôi

Hãy nghiêng đời xuống nhìn hết một mối tình
Chỉ lặng nhìn không nói năng
Để buốt trái tim để buốt trái tim
Trong trái tim con chim đau nằm yên
Ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu
Và sớm mai chim bay đi triền miên
Và tiếng hót vang trong trời gió lên

Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. Còn cuộc đời ta cứ vui. Dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai.

ĐỂ GIÓ CUỐN ĐI

“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không ?
Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi...”

Ai trong chúng ta cũng đều có một tấm lòng, một tấm lòng nhân hậu thật sự. Bạn rơi nước mắt khi thấy các hoàn cảnh bất hạnh. Tôi nhoi nhói nơi tim lúc chứng kiến những tai nạn thương tâm. Và chúng ta, luôn ghi nhớ lời dạy của cô thầy năm xưa: “ở hiền thì sẽ gặp lành nghe con”, cố gắng đem lại niềm vui, hạnh phúc cho cộng đồng chung quanh mình. Rồi đêm về, nằm hân hoan, một sự hân hoan thầm kín trong tâm hồn, hân hoan vì đã và đang làm việc tốt.



Sáng tác: Trịnh Công Sơn
Các ca sĩ khác trình bày
- Hồng Nhung
- Lô Thủy

Nhưng đó là giai đoạn đầu đời. Càng bước sâu vào cuộc sống, tôi càng cảm thấy lung lay ý nguyện “người tốt việc tốt” hôm nào. Sự giả tạo, phản bội, sụp đổ cứ lấn lướt ngày qua ngày, đập tan, ném vỡ cụm từ “ở hiền gặp lành” trong tôi. Tôi không tin có vế sau, quả thật không tin...

Và, phản ứng theo bản năng của một đứa trẻ người non dạ, yếu kém tinh thần, tôi “xù lông” phản ứng gay gắt với tất cả. Đôi mắt tôi giờ đây chỉ thấy sự ám hại và mỉa mai. Tôi dè chừng, hơn thua trong mọi việc. Một vỏ bọc cứng cáp, trải đời, nhưng bên trong chắc gì không phải là một sự yếu đuối?

Thêm tuổi, đọc thêm sách, được thêm nhiều lời dạy dỗ, tôi lờ mờ nhận ra rằng hình như ranh giới giữa đúng-sai, trắng-đen quá hư ảo? Những gì tôi làm trong quá khứ chưa chắc đã là tốt cho người xung quanh. Những gì tôi nhận được cũng không hẳn là xấu. Tôi rơi nước mắt, thương xót cho nhận thức của mình. Một nhận thức bị suy dinh dưỡng trầm trọng, một nhận thức bị căn bệnh “tiêu cực” ngặt nghèo làm chậm phát triển...

Tôi vốn ít nghe nhạc Trịnh. Là kẻ hậu bối, tôi chỉ biết và ngưỡng mộ cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những trang viết về ông, qua những câu chuyện, những giai thoại của người trong cuộc kể về người đã khuất. Nhưng tôi đặc biệt thích ca khúc Để gió cuốn đi. Tôi nghe để an ủi lòng mình: hãy sống thật “người”, sống như ngày mai ta và họ không còn nữa...

Giữ vững được nhân cách trong cuộc sống thực tế không bao giờ dễ dàng. Khi cao hứng, tôi có thể ghi ra đây những dòng đầy tính nhân văn. Nhưng, biết đâu ngay hôm sau, vì đấu tranh quyền lợi-công danh, tôi lại thực hiện ngay những việc mình vừa chỉ trích hôm qua?

Tôi mừng vì mình đang sống trong thời đại số hóa, có thể mua một chiếc máy nghe nhạc nhỏ gọn, lưu vào bài hát yêu thích. Và sau đó? Những khi cần sẽ hòa mình vào từng lời ca da diết “...hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người, còn cuộc đời ta cứ vui...”.

Hãy yêu, dù cho gió sẽ cuốn đi tất cả.

Trần Đức Khiêm (Tạp chí Thế giới @ - Chuyên đề tin học viễn thông báo Người Lao Động)


Khúc ruột miền Trung đang oằn mình trong cơn lũ dữ. Rất nhiều năm nay chưa có cơn lụt nào to như cơn lụt này. Cần lắm, cần lắm những tấm lòng...



http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Bỏ quên nông dân, không thể công nghiệp hóa vững chắc



GS.VS. Đào Thế Tuấn (1), TS. Đào Thế Anh (2)

DAYVAHOC. Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững. Nếu công cuộc Đổi mới dẫn đến sự phân hóa xã hội quá mức, tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước một cách vững chắc được.

Lượng nông sản thấp, giá thành cao

Vấn đề đầu tiên là nông nghiệp. Hiện nay, có ý kiến cho rằng nông nghiệp nước ta trong thời gian qua đã phát triển tương đối tốt, đã giải quyết được an ninh lương thực, đồng thời việc xuất khẩu nông sản gần đây đang phát triển tốt trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới tăng. Trong quá trình công nghiệp hóa, phần của nông nghiệp trong sản phẩm trong nước (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm.

Hai nước công nghiệp lớn của thế giới là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới: Hoa Kỳ và Pháp. Chúng ta vẫn khen các nước Đông Á đã giải quyết tốt nhất vấn đề nông nghiệp trong thời gian công nghiệp hóa, nhưng hiện nay họ nhập khẩu lương thực và nông sản ngày càng nhiều vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng.
Việc các nước phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều, làm cho các nước đang phát triển gặp khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.

Một vấn đề khác là các nước đang phát triển hiện nay có số lượng lao động nông thôn quá cao và không được sử dụng hết trong quá trình công nghiệp hóa. Do đó, sau khi công nghiệp hóa vẫn còn một tỷ lệ lao động nông thôn và nông nghiệp cao.

Một dự báo của tổ chức Carnegie về Trung Quốc cho thấy, vào năm 2020, lúc nông nghiệp chỉ chiếm 4,8% GDP, lao động nông nghiệp vẫn còn 34,6% và dân số nông thôn còn 45%.



GS. Đào Thế Tuấn, người ngồi đầu tiên bên phải, trong một buổi khảo sát nông nghệp phía Nam tại Trung tâm Hưng Lộc Đồng Nai (ảnh tư liệu Hoàng Kim)

Dự báo do chúng tôi thực hiện cho thấy ở nước ta, năm 2020, nông nghiệp sẽ còn 9,6% trong GDP, lao động nông nghiệp sẽ còn từ 22,6% đến 49% và lao động nông thôn sẽ chiếm tới 61,3 -72,6%, tùy kịch bản phát triển, nghĩa là cao hơn ở Trung Quốc vì tốc độ tăng dân số ở nước ta là 1%/năm trong khi ở Trung Quốc chỉ có 0,6%.

Như vậy, ngay cả khi đã công nghiệp hóa, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn còn cao. Về thực chất, các nước này vẫn còn là nước công – nông nghiệp.

Các vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta sau quá trình Đổi mới là chất lượng nông sản còn thấp nên giá trị gia tăng thấp vì chủ yếu xuất khẩu nông sản thô. Quy mô sản xuất nhỏ nên giá thành cao, năng suất lao động thấp.

Dịch vụ công phục vụ nông nghiệp còn yếu
Muốn tăng giá trị gia tăng của nông sản, phải cải tiến chất lượng sản phẩm bằng cách phát triển các sản phẩm có xuất xứ địa lý, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm quốc tế, sản phẩm hữu cơ.

Để làm được việc này, cần xây dựng thể chế quản lý chất lượng nông sản đi đôi với việc phát triển công nghiệp chế biến, tiếp cận thị trường. Có nhiều tác nhân có mục đích khác nhau tham gia quá trình sản xuất và lưu thông. Vì vậy muốn có được nông sản có chất lượng, cần có các thể chế điều phối để quy định sự hợp tác của các tác nhân tham gia trong mỗi ngành hàng, có thể gọi chung là các thể chế thị trường.

Thể chế thị trường nông sản nếu chủ yếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp theo kiểu nông nghiệp hợp đồng, sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông, giá cả do doanh nghiệp quyết định, nông dân không có quyền mặc cả trên thị trường.

Muốn phân phối thu nhập được công, phải phát triển song song các hợp tác xã có các hoạt động chế biến và buôn bán. Nhà nước không thể trợ giúp nông dân thông qua doanh nghiệp nhà nước vì doanh nghiệp có mục tiêu thu lợi nhuận, mà phải hỗ trợ thông qua các dịch vụ công. Hiện nay các dịch vụ công phục vụ phát triển nông nghiệp còn yếu, đặc biệt các hộ nghèo ít được hưởng lợi.

Thời cơ phát triển nông nghiệp?

Đất nông nghiệp tốt đang bị mất dần và nạn đầu cơ ruộng đất trở thành phổ biến tạo điều kiện cho sự tham nhũng. Theo Hiến pháp, ruộng đất của nước ta thuộc quyền sở hữu của Nhà nước tức là sở hữu công, người sử dụng chỉ có quyền sử dụng nhưng quyền ấy lại mang lợi nhiều hơn là quyền sở hữu.

Giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp đang tăng mạnh mà giá nông sản không theo kịp, nông dân đang chán sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đang bỏ nông thôn ra đô thị kiếm việc, lao động nông nghiệp đang bị nữ hoá và chuyển từ thâm canh sang quảng canh, chăn nuôi và nghề phụ đang bị giảm sút… Lao động nông nghiệp nhiều vùng đang bị thiếu nghiêm trọng và giá lao động tăng rất cao.

Giá một số nông sản như lúa mì, ngô, đậu tương đang tăng rất nhanh trên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để phát triển sản xuất trong nước. Nông thôn đang có xu hướng quay trở về độc canh lúa, từ giã việc đa dạng hóa sản xuất. Trong điều kiện này, chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếu biện pháp để tăng năng suất lao động.

Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực và thực phẩm như các nước công nghiệp mới Đông Á và Đông Nam Á. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, trong thế kỷ 21, thế giới sẽ thiếu lương thực, đây có phải là một thời cơ cho chúng ta phát triển nông nghiệp không?

Khoa học kỹ thuật nông nghiệp nước ta chưa có câu trả lời cho các câu hỏi của công nghệ nông nghiệp thế kỷ 21 như vấn đề hướng công nghệ sinh học bảo đảm sức khỏe của con người và môi trường, vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự báo sẽ chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới, vấn đề phòng chống hiện tượng nóng lên của khí quyển, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng vựa lúa, vấn đề nông nghiệp chính xác áp dụng công nghệ định vị, vấn đề nông nghiệp thẳng đứng hay không đất để giải quyết thiếu đất và bảo vệ môi trường…

Các vấn đề biến đổi khí hậu và rủi ro trong nông nghiệp ngày càng tăng, mà chúng ta chưa có các biện pháp bảo vệ nông nghiệp chống thiên tai và rủi ro. Hệ thống bảo hiểm chống thiên tai và rủi ro mặc dầu khó làm nhưng không phải không có cách thực hiện được.

Chúng ta cũng chưa có một chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào trong điều kiện đất ít người đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp.

Nông dân: Khởi xướng nhưng ít hưởng lợi từ Đổi mới

Nông dân là những người khởi xướng Đổi mới nhưng nay lại ít được hưởng lợi của Đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững.

Nông dân ít được hưởng phúc lợi xã hội hơn cả, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách cơ bản: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trường.

Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cư ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử như công dân loại hai mặc dù là động lực chủ yếu của Đổi mới. Việc này đang xảy ra một cách tự phát, không có quy hoạch, không có một sự hỗ trợ của Nhà nước, của thị trường trong lúc quá trình này là điểm mấu chốt của quá trình Đổi mới, của công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Trong công cuộc Đổi mới này, chúng ta đang chuyển đổi bộ mặt của nông thôn để thúc đẩy sự phát triển, để thực hiện công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quá trình đang diễn ra chủ yếu hiện nay là “nhân khẩu nông nghiệp thừa” đang chuyển ra thành thị để hình thành “hậu bị quân công nghiệp”, kho lao động rẻ mạt để phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài. Chính quá trình này đã tạo nên mâu thuẫn chủ yếu đang xảy ra trong xã hội nước ta hiện nay, nếu không được thực hiện một cách công bằng.

Muốn nông thôn và nông nghiệp phát triển một cách bền vững, tăng được năng suất lao động và thu nhập của nông dân, phải rút bớt lao động thừa ở nông thôn ra thành thị và khu công nghiệp. Đây chính là lực lượng mới của giai cấp công nhân, cần phải được hỗ trợ để có công nhân chất lượng cao. Đây là con đường giảm nghèo nhanh nhất và bền vững nhất. Và cũng là biện pháp chủ yếu để công nghiệp hóa nhanh, bảo đảm tính công bằng và bền vững.

1) GS.VS. Đào Thế Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO)
2) TS. Đào Thế Anh, Giám đốc Trung tâm NC và PT Hệ thống nông nghiệp (CASRAD),
Ủy viên ban chấp hành PHANO

(Sử dụng văn bản tài liệu hội thảo)