Thứ Ba, 30 tháng 6, 2009

Xếp hạng đại học và cách tiếp cận mới trong xếp hạng đại học



DAYVAHOC. TSKH. Phạm Đỗ Nhật TiếnTạp chí Cộng sản 28/6/2009). Giáo dục đại học Việt Nam cũng đang đứng trước bài toán xếp hạng. Tuy nhiên, để tìm ra lời giải của bài toán này, cần có cách tiếp cận sòng phẳng trong một số vấn đề tuy đơn giản nhưng nhạy cảm. Về chính danh, hiện nước ta chỉ có 5 đại học, bao gồm 2 đại học quốc gia và 3 đại học khu vực, còn lại là các học viện và trường đại học. Tuy nhiên, thực tế lại khá lộn xộn. Tiếp đến lại là việc phân loại trong nội bộ các đại học để làm rõ đại học nào là đại học nghiên cứu. Trên thế giới, các đại học nghiên cứu đều có tiêu chí riêng, trong đó có tiêu chí về vai trò trung tâm của nghiên cứu khoa học trong các hoạt động của nhà trường; tiêu chí về tỷ lệ cao các nghiên cứu sinh trong tổng số người học trong trường. Nếu xét theo các tiêu chí này, e rằng, trước mắt cũng như trong trung hạn, chúng ta chưa có đại học nào đủ tiêu chuẩn là đại học nghiên cứu.Vì thế, giáo dục đại học Việt Nam cần làm rõ cái lõi hợp lý trong xếp hạng, từ đó tìm ra lối đi riêng với những lựa chọn ưu tiên phù hợp. Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, ưu tiên là nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống và vì vậy cần tập trung vào xếp hạng quốc gia.Để thử sức trên sân chơi quốc tế thì sự lựa chọn hợp lý hơn cả là Webometrics. Với sự thâm nhập mạnh mẽ của ICT vào đời sống giáo dục, chắc chắn trong tương lai không xa, đây sẽ là một “sân chơi” có hạng về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chúng ta lại đang có một số lợi thế nhất định trên “sân chơi” này, dù rằng vị trí xếp hạng còn rất khiêm tốn.(Hình trên: Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, giảng đường Phượng Vĩ)


TCCSĐT - Vấn đề xếp hạng các đại học (university) và trường đại học (college) trong phạm vi quốc gia vốn đã có từ lâu. Cách đây 26 năm, tuần báo US News & World Report (USNWR) có sáng kiến đầu tiên trong việc xếp hạng các đại học và trường đại học Mỹ.

Các xếp hạng quốc gia

Về cơ bản, đây là một sáng kiến cạnh tranh trong một thị trường truyền thông rất khốc liệt ở Mỹ. Việc xếp hạng này nhắm tới đối tượng độc giả đông đảo là học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh. Nó giúp cho lớp khách hàng này có một đánh giá tổng thể về cơ sở giáo dục đại học dựa trên thứ bậc của cơ sở đó trên thang xếp hạng. Điểm số xếp hạng được tổ hợp từ các tiêu chí liên quan đến 7 dữ liệu đầu vào, 4 dữ liệu về quá trình, 4 dữ liệu đầu ra. Bên cạnh các dữ liệu khách quan nói trên, còn phải tính đến một dữ liệu chủ quan là việc đánh giá danh tiếng nhà trường trên cơ sở thu thập ý kiến các nhà quản lý của các trường khác.

Thành công không thể chối cãi được của USNWR là đã đi đầu trong công tác xếp hạng phức tạp này, đã thiết lập được nguồn dữ liệu cốt lõi cho việc đánh giá, đã cung cấp được thông tin minh bạch cho sinh viên trong việc chọn trường. Tuy nhiên, đến nay, rất nhiều học giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu vẫn phê phán gay gắt việc xếp hạng của USNWR trên nhiều phương diện như sự võ đoán trong cách chọn tiêu chí và trọng số, độ tin cậy của dữ liệu, khả năng bóp méo thực tế nhà trường, tác động tiêu cực tới hoạt động dạy và học. Thậm chí một loạt hiệu trưởng các trường đại học Mỹ, trong năm 2007, đã lên tiếng bất cộng tác với USNWR trong việc trả lời các phiếu khảo sát.

Ở Anh, từ năm 1992, báo The Times đã công bố hằng năm bảng xếp hạng các đại học Anh dựa trên một số tiêu chí liên quan đến chất lượng giảng dạy, kết quả nghiên cứu khoa học, sự hài lòng của sinh viên, điểm trung bình nhập học, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên khá giỏi, tỷ lệ sinh viên kiếm được việc làm sau tốt nghiệp. Nhiều báo khác như The Guardian, Daily Telegraph, Financial Times… cũng công bố các bảng xếp hạng riêng tạo thành một thị trường cạnh tranh trong xếp hạng đại học.

Ngày nay, ở khá nhiều nước trên thế giới, việc xếp hạng đại học đã trở thành một hoạt động phổ biến và quan trọng. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về phương pháp luận và tác động mặt trái của việc xếp hạng đại học, nhưng tác dụng tích cực của nó trong việc chiếu X quang vào các cơ sở giáo dục đại học đã khiến đại bộ phận các nhà chính trị và công chúng đi đến kết luận rằng, giáo dục đại học cần tìm cách chung sống với việc xếp hạng.

Xu thế xếp hạng quốc tế

Xu thế này hình thành ngẫu nhiên từ cố gắng của các nhà khoa học Trung Quốc muốn trả lời một số câu hỏi thoạt đầu không hề liên quan đến việc xếp hạng. Đó là: 1/ thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế; 2/ khoảng cách giữa các đại học hàng đầu của Trung Quốc với các đại học đẳng cấp quốc tế là bao xa.

Để có câu trả lời khách quan, chính xác và tin cậy, các nhà khoa học của Đại học Giao thông Thượng Hải (SJTU) tiến hành khảo sát, đánh giá và xếp hạng các đại học hàng đầu thế giới. Do yêu cầu về tính khách quan và đo được của các tiêu chí đánh giá nên chất lượng dạy và học vốn là một tiêu chí không đo được, bị đặt ra bên ngoài việc đánh giá. Việc đánh giá và xếp hạng quy về một chiều đo duy nhất là thành tựu nghiên cứu khoa học của đại học, với các tiêu chí khách quan như số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học hàng đầu, số nhà khoa học được trích dẫn thường xuyên nhất, số giải Nobel và Fields. Vì thế phạm vi khảo sát của Đại học Giao thông Thượng Hải thu lại đáng kể, chỉ gồm khoảng 2000 đại học trên toàn thế giới, với kết quả công bố hằng năm từ 2003 đến nay là bảng xếp hạng của top 500.

Theo SJTU, đại học đẳng cấp quốc tế là đại học thuộc top 100. Trung Quốc hiện mới có 2 đại học hàng đầu thuộc top 200, 6 thuộc top 300, 15 thuộc top 400, 18 thuộc top 500.

Trên một phương diện khác, báo The Times Higher Education (THE) cho rằng, đại học đẳng cấp quốc tế phải dựa trên 4 cột đỡ chính là chất lượng giảng dạy; chất lượng nghiên cứu; khả năng làm việc sau tốt nghiệp; tầm quốc tế. Vì vậy, THE chủ trương một sự đánh giá toàn diện hơn. Tuy nhiên, bảng xếp hạng của THE không được đánh giá cao bằng bảng xếp hạng của SJTU vì THE đưa vào một tiêu chí mang nặng tính chủ quan là ý kiến đánh giá của các chuyên gia giáo dục và các nhà tuyển dụng toàn cầu. Các ý kiến đánh giá chủ quan này lại được cho điểm với trọng số cao là 50%. Khá nhiều học giả cho rằng, đây là một kiểu đánh giá thiếu tin cậy. Mặc dù vậy, từ 2004 đến nay, THE vẫn công bố đều đặn bảng xếp hạng hằng năm của các trường thuộc top 100, top 200… trong tổng số khoảng 600 đại học trên thế giới được xem xét để xếp hạng.

Với sự quan tâm đến các đại học đẳng cấp quốc tế, hiển nhiên SJTU và THE mới tạo ra một “sân chơi” cao cấp dành riêng cho các đại học nghiên cứu có tầm cỡ. Vì vậy, cũng vào năm 2004, Webometrics đã tạo ra một “sân chơi” đại chúng hơn, dành cho mọi cơ sở giáo dục đại học miễn là cơ sở đó có trang web. Việc xếp hạng dựa trên 4 dữ liệu đo được là kích thước trang web, khả năng nhận diện, số lượng các files giàu, số lượng các tài liệu khoa học được công bố trên mạng.

Với mức độ phủ rộng, Webometrics đưa được vào diện khảo sát tới hơn 16.000 cơ sở giáo dục đại học thuộc 191 nước và lãnh thổ, hằng năm 2 lần công bố bảng xếp hạng top 4000.

Trong năm 2009, Việt Nam có 89 cơ sở giáo dục đại học được đưa vào cơ sở dữ liệu của Webometrics, trong đó 17 được xếp hạng với vị trí rất khiêm tốn. Thứ hạng cao nhất là Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 1.522), thấp nhất là Trường đại học Kỹ thuật công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 4986).

Cách tiếp cận mới trong đánh giá và xếp hạng đại học

Trong mấy năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành hội chứng xếp hạng đại học. Mặc cho cảnh báo của những người am hiểu, rằng đây chỉ là “sân chơi” của các đại gia đại học, tâm lý được “ngồi cùng chiếu” gần như đã trở thành một nỗi ám ảnh toàn cầu.

Việc xếp hạng đại học vốn có một mục tiêu cụ thể và một chiều đo xác định, nhưng giờ đây dường như đã trở thành một hoạt động mang mục đích tự thân. Vì vậy, cũng giống như căn bệnh thi gì học nấy, trong giáo dục đại học thế giới đang nảy sinh xu hướng xếp hạng thế nào thì hoạt động thế nấy. Chẳng hạn muốn được có mặt trong bảng xếp hạng của SJTU, cần tăng cường mời giảng viên là các nhà khoa học được giải Nobel hoặc Field, cần có phụ cấp ưu đãi cho các giảng viên có bài báo khoa học đăng trên Nature và Science. Còn muốn lọt vào bảng xếp hạng của THE thì, theo cách nói của GS Marginson, cần phát triển du lịch học thuật, ưu đãi các học giả nước ngoài theo chế độ “5 sao”.

Có một điều mà ai cũng hiểu là không có đại học nào là vua trong mọi lĩnh vực, cũng không có đại học nào chiếm vị trí “ngôi báu” trong sự chọn lựa của mọi sinh viên. Các bảng xếp hạng đại học quốc tế chỉ là bức tranh phiến diện, tập trung phản ánh một chiều đo của nhà trường đại học, chứ chưa thể hiện hết chân dung đa chiều của nó. Trong đó, điều đáng nói nhất là chưa phản ánh đầy đủ các chiều đo cốt tử khác là giảng dạy, học tập và phục vụ xã hội.

Vì thế, việc xếp hạng đại học đang dần nhường chỗ cho những lối đi mới, cách tiếp cận mới trong đánh giá và xếp hạng.

Chẳng hạn, ở Đức, Trung tâm phát triển giáo dục đại học CHE và tuần báo Die Zeit đã đưa ra một hướng xếp hạng mới. Điểm xuất phát cơ bản trong cách xếp hạng này là cho rằng, mọi xếp hạng đều mang tính chủ quan trong việc tổ hợp các tiêu chí và chọn trọng số. Cho đến nay, việc xếp hạng chỉ phục vụ cho mục đích của người xếp hạng chứ không phải người sử dụng. Vì vậy, trong tiếp cận của CHE, các đại học và trường đại học chỉ được phân thành 3 nhóm tốt, trung bình và kém. Dữ liệu về cơ sở giáo dục đại học trong từng nhóm được cung cấp đầy đủ. Việc xếp hạng các cơ sở đó như thế nào là do người học tự thực hiện trên cơ sở tự quyết định các tiêu chí và trọng số cần thiết theo định hướng của riêng mình.

Tuy nhiên, có lẽ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đang chờ đợi hơn cả là cố gắng của khối EC trong việc đưa ra cách tiếp cận mới trong xếp hạng quốc tế. Trong cách tiếp cận này việc xếp hạng từng đại học riêng lẻ được thay thế bằng việc xếp hạng từng hệ thống đại học giữa các quốc gia. Cách xếp hạng đơn nhất, một chiều cũng được thay thế bằng cách xếp hạng đa chiều phản ánh tính đa dạng trong tổ chức cũng như sứ mệnh của các hệ thống đại học trên thế giới. Mục đích của việc xếp hạng này không phải là để tạo ra người thắng, kẻ thua giữa các đại học mà là đem lại sự đối sánh cần thiết giữa các hệ thống đại học trong việc thực hiện sứ mệnh chung là đáp ứng các thách thức mới trong bước chuyển sang nền văn minh trí tuệ.

Sự lựa chọn của Việt Nam

Giáo dục đại học Việt Nam cũng đang đứng trước bài toán xếp hạng. Tuy nhiên, để tìm ra lời giải của bài toán này, cần có cách tiếp cận sòng phẳng trong một số vấn đề tuy đơn giản nhưng nhạy cảm.

Trước hết là việc làm rõ các loại trường đại học của nước ta. Theo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục, nước ta có ba loại trường đại học là đại học, học viện và trường đại học. Khái niệm đại học của nước ta tương đồng với khái niệm university trên thế giới; khái niệm học viện và trường đại học tương đồng với khái niệm college.

Về chính danh, hiện nước ta chỉ có 5 đại học, bao gồm 2 đại học quốc gia và 3 đại học khu vực, còn lại là các học viện và trường đại học. Tuy nhiên, thực tế lại khá lộn xộn. Phần lớn các trường đại học đều tự xưng là đại học trong tên gọi bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh. Vì vậy, cũng chẳng có gì để trách cứ khi Webometrics, suốt nhiều năm nay, đã đặt một số trường đại học thành viên ở vị trí cao hơn cả cơ sở mẹ là Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Dĩ nhiên, hiện có một số học viện và trường đại học nước ta đã hội đủ tiêu chuẩn để được gọi là đại học. Nhưng để việc xếp hạng được phù hợp và công bằng, nhất thiết phải có bước phân loại đầu tiên bằng một văn bản pháp quy liệt kê rõ ràng cơ sở nào là đại học, cơ sở nào là học viện, trường đại học.

Tiếp đến lại là việc phân loại trong nội bộ các đại học để làm rõ đại học nào là đại học nghiên cứu. Trên thế giới, các đại học nghiên cứu đều có tiêu chí riêng, trong đó có tiêu chí về vai trò trung tâm của nghiên cứu khoa học trong các hoạt động của nhà trường; tiêu chí về tỷ lệ cao các nghiên cứu sinh trong tổng số người học trong trường. Nếu xét theo các tiêu chí này, e rằng, trước mắt cũng như trong trung hạn, chúng ta chưa có đại học nào đủ tiêu chuẩn là đại học nghiên cứu.

Vì thế, giáo dục đại học Việt Nam cần làm rõ cái lõi hợp lý trong xếp hạng, từ đó tìm ra lối đi riêng với những lựa chọn ưu tiên phù hợp. Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, ưu tiên là nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống và vì vậy cần tập trung vào xếp hạng quốc gia. Dự kiến kết quả xếp hạng này sẽ được công bố trong năm 2009, tuy nhiên công việc này còn phải vượt qua rào cản về việc phân loại các đại học và trường đại học như đã nói ở trên, đồng thời phải không ngừng hoàn thiện từ năm này sang năm khác để nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Riêng đối với tầm nhìn 2020, giáo dục đại học Việt Nam chỉ nên tập trung vào cuộc đua khu vực, chưa nên dấn mình trong cuộc đua thế giới. Trong xếp hạng quốc tế, chúng ta đều biết hiện Việt Nam chưa có đại học nào trong top 500 của SJTU và trong top 400 của THE.

Việc phấn đấu để có thứ hạng cao trong khối ASEAN xem ra khả thi hơn, tuy rằng cũng không đơn giản chút nào. Ngoài ra, cũng phải làm rõ các tiêu chí xếp hạng trong nội khối, trong đó có tính đến việc triển khai thực hiện “Tuyên bố Thăng Long - Hà Nội về không gian giáo dục ASEAN” công bố ngày 23-11-2007 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Để thử sức trên sân chơi quốc tế thì sự lựa chọn hợp lý hơn cả là Webometrics. Với sự thâm nhập mạnh mẽ của ICT vào đời sống giáo dục, chắc chắn trong tương lai không xa, đây sẽ là một “sân chơi” có hạng về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chúng ta lại đang có một số lợi thế nhất định trên “sân chơi” này, dù rằng vị trí xếp hạng còn rất khiêm tốn. Một tin vui để chúng ta hy vọng và tin tưởng: trong bảng xếp hạng về mức độ nổi tiếng trang web nhà trường 2009, của công cụ tìm kiếm 4 International Colleges and Universities với 8.750 cơ sở giáo dục đại học, thì Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng thứ 58, trên hẳn rất nhiều đại học danh tiếng khác trên thế giới./.

TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến
Tạp chí Cộng sản 28/6/2009

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

Trường đại học Việt Đức đào tạo theo tiêu chuẩn Đức tại Việt Nam



DAYVAHOC. Theo http://niemtin.free.fr/daihocduc.htm dẫn nguồn tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng bốn trường đại học, với mục tiêu lọt vào top 200 trường đại học tốt nhất thế giới vào năm 2020. Đây là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009 - 2020. Bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ Đại học ( Bộ Giáo dục và Đào tạo ) cho biết, 4 trường này được xây dựng theo mô hình đại học công lập phi lợi nhuận, với hệ thống đào tạo đa ngành, đạt trình độ quốc tế. Hiện, đã có một trong số 4 trường đại học nói trên được thành lập, đó là Đại học Việt Đức tại Tp.Hồ Chí Minh (Trang web http://www.vgu.edu.vn). Đại học Việt Đức khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 10/9/2008 với 80 học viên cho 2 khoa điện tử và xây dựng. Trường dự kiến sẽ có 5.000 sinh viên vào năm 2020. Đại học Khoa học Công nghệ (Hà Nội) cũng đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý thành lập về nguyên tắc. Hai trường tiếp theo dự kiến sẽ thành lập tại Cần Thơ và Đà Nẵng. Được biết, số tiền đầu tư cho mô hình giáo dục đại học chất lượng nói trên là 400 triệu USD, vay của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Thông tin về Trường Đại học Việt-Đức

Trường Đại học Việt-Đức ( VGU ) là trường công lập của Việt Nam có cơ cấu đào tạo và quản lý theo mô hình của đại học Đức đã chính thức khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 10 tháng 9 năm 2008 tại Tp. Hồ Chí Minh. Trường hợp tác chặt chẽ với các trường đại học danh tiếng ở Đức, những trường đã liên kết với nhau thành lập Hiệp hội các trường đại học hỗ trợ VGU từ tháng 2 năm 2009, cùng chung sức thiết kế, xây dựng và triển khai một chương trình đào tạo đa dạng cho các bậc đại học, cao học và nghiên cứu sinh trong những năm tới. Cùng với sự đầu tư của chính phủ Việt Nam, việc xây dựng VGU cũng nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ liên bang và chính phủ bang Hessen với nguồn ngân sách đáng kể cũng như từ Tổ chức DAAD.

Trong năm đầu thành lập, trường đã tuyển được 32 sinh viên theo học chương trình đào tạo bậc đại học ngành " Kỹ thuật điện và Công nghệ thông tin " được thiết kế bởi trường đại học Khoa học ứng dụng Frankfurt am Main. Bốn chương trình đào tạo bậc cao học sẽ được VGU cùng với các Đại học đối tác tại Đức trực tiếp triển khai tại VGU trong tháng 9 năm 2009. Tất cả sinh viên của VGU khi tốt nghiệp được cấp bằng của Đức.

Trọng tâm đào tạo của VGU sẽ là các ngành kỹ thuật và khoa học tự nhiên. Ở phạm vi nhỏ hơn trường cũng sẽ mở thêm những ngành đào tạo trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như các ngành kinh tế. Ngôn ngữ giảng dạy và học tập tại trường là tiếng Anh, nhưng trong quá trình học tại trường sinh viên cũng được học tiếng Đức song song.

Chiến lược của VGU là triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao của Đức trực tiếp tại Việt Nam. Chương trình đào tạo hiện đại, sát thực tế và mối liên kết chặt chẽ của VGU với nền kinh tế Đức mở ra cho các sinh viên tốt nghiệp của trường các cơ hội việc làm tốt trên thị trường lao động.

Ngoài ra, VGU cũng chính là cánh cửa mở sang nước Đức : ở một số chương trình đào tạo, sinh viên sẽ theo học một vài kỳ tại Đức; ở các chương trình đào tạo khác, sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp sẽ có cơ hội hoàn thành chương trình đào tạo ở bậc cao hơn ( trình độ thạc sỹ và tiến sỹ ) tại một trường đại học ở Đức hoặc ngay tại VGU. Một mục tiêu quan trọng của VGU là cùng với sự hỗ trợ của một trường đại học đối tác ở Đức đào tạo và tuyển dụng các giảng viên đại học xuất sắc của Việt Nam một cách lâu dài.

VGU là một trường còn non trẻ mang trọng trách của chính phủ Việt Nam giao phó là trong vài năm tới phát triển thành một trong những trường đại học định hướng nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam. Do vậy, chúng tôi mong muốn tạo cơ hội cho những sinh viên học lực khá, giỏi tiếp cận với những chương trình đào tạo và nghiên cứu đầy thách thức trong môi trường quốc tế tại quê hương của họ. Một khía cạnh khác của chiến lược chất lượng cao của chúng tôi là mức học phí phải chăng và chính sách học bổng dựa trên thành tích học tập.

Hiện tại, cơ sở của VGU tọa lạc tại khu đại học Thủ Đức của Đại học Quốc gia Tp. HCM, nằm cách trung tâm quận 1 khoảng 15 km. Trong những năm tới, cùng với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới cũng tại Thủ Đức, một khu đại học hiện đại của riêng VGU sẽ được hình thành. Tại đây, đến năm 2020, VGU kỳ vọng sẽ được phát triển thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu xuất sắc tại Việt Nam và tạo được tên tuổi.

Lời chào mừng của Hiệu trưởng GS. Rieck:

Các bạn sinh viên, các đồng nghiệp, các đối tác và các bạn thân mến !

Chào mừng các bạn đến với Website mới của trường Đại học Việt - Đức ( VGU ).

Năm học đầu tiên tại VGU với Lễ khai giảng và khai trương long trọng vào tháng 9 năm 2008 cùng việc tuyển được 32 sinh viên theo học chương trình đào tạo bậc đại học ngành " Kỹ thuật điện và Công nghệ thông tin " đã sắp kết thúc. Các sinh viên đã hoàn thành chương trình Năm đại cương và hiện tại đã có sự chuần bị tốt nhất để bước vào chương trình đào tạo chuyên ngành thực sự cùng với các giáo sư của trường đại học Khoa học ứng dụng Frankfurt sẽ bắt đầu vào mùa thu năm 2009.

Cũng trong mùa thu, lần đầu tiên VGU sẽ tiếp nhận những sinh viên nhập học 4 chương trình đào tạo trình độ thạc sỹ được triển khai chung cùng với các đại học đối tác tại Đức. Qua đây, bước tiến tiếp theo đưa VGU dần vào vị trí của trường đại học chuyên ngành kỹ thuật công nghệ cao đã được thực hiện.

Ngay trên các "công trường" còn lại của VGU cũng đang được tích cực và gấp rút làm việc :

- Tới mùa thu năm 2009, cơ sở làm việc cho các nhà nghiên cứu từ Đức và Việt Nam, những người đến VGU để thực hiện các dự án sẽ được tạo dựng. Tương tự như vậy, các kế hoạch cho việc hình thành trung tâm nghiên cứu đang được gấp rút chuẩn bị.

- Sau khi Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ký và ban hành Quy chế trường Đại học Việt - Đức ngày 24-3 , việc bổ nhiệm các Phó hiệu trưởng đầu tiên của VGU và việc thành lập Hội đồng trường sẽ được tiến hành trong thời gian ngắn sắp tới.

- Việc xây dựng cơ cấu hành chính và quản lý tại VGU cũng tiến triển cùng việc hợp tác với bang Hessen thông qua việc cử các chuyên gia sang công tác.

- Cùng việc hợp tác với Hiệp hội các trường đại học Đức hỗ trợ VGU, đề án phát triển VGU đang ở giai đoạn hoàn thành và việc triển khai " Dự án tiền khả thi VGU " là một phần của Đề án vay vốn Ngân hàng thế giới thông qua việc thành lập một nhóm các chuyên gia cũng đang ở " giai đoạn cao độ ".

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn các Bộ ngành, các tổ chức và các cá nhân tại Việt Nam và CHLB Đức, những người từ trước tới nay đã luôn khích lệ và hỗ trợ mạnh mẽ công cuộc xây dựng VGU.

VGU đang trên đà phát triển đúng hướng - với mong muốn này, xin gửi tới các bạn lời chào nồng nhiệt.

Prof. Dr. Wolf Rieck

Hiệu trưởng

Trường Đại học Việt - Đức: Chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn Đức tại Tp. Hồ Chí Minh

VGU tại Tp. Hồ Chí Minh là một dự án chung giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ CHLB Đức với sự hợp tác chặt chẽ của hơn 30 trường Đại học danh tiếng của Đức.

Trong năm học 2009-2010 Trường Đại học Việt- Đức ( VGU ) triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật công nghệ cao sau đây:

Bậc cao học (Graduate Programmes):

- Kỹ thuật tính toán, trình độ Thạc sỹ ( 2 năm ) - Computational Engineering, Master Sc. ( 2 years ) .

- Cơ điện tử và Công nghệ hệ thống cảm biến, trình độ Thạc sỹ ( 2 năm ) - Mechatronics and Sensorsystem Technology, Master Sc. ( 2 years ) .

- Tin học kinh tế, trình độ Thạc sỹ ( 2 năm ) - Business Information Systems, Master Sc. ( 2 years ) .

- Quy hoạch phát triển đô thị, trình độ Thạc sỹ ( 2 năm ) - Urban Development Planning, Master Sc. ( 2 years )

Bậc đại học (Undergraduate Programme):

- Kỹ thuật điện và Công nghệ thông tin, trình độ cử nhân Kỹ sư ( 1 + 3 năm ) - Electrical Engineering and Information Technolgy, Bachelor Eng. ( 1+3 years ) .

Bạn sẽ có được những lợi thế gì?

- Bằng tốt nghiệp tiêu chuẩn của Đức ngay tại Tp. Hồ Chí Minh.

- Sự dẫn dắt tận tình của đội ngũ giáo sư giàu kinh nghiệm từ các trường Đại học Đức.

- Các chương trình đào tạo xuất sắc, được giảng dạy bằng tiếng Anh.

- Học phí phải chăng và chính sách học bổng ưu đãi dựa trên thành tích học tập .

Yêu cầu tuyển sinh:

- Sẵn sàng học toàn thời gian .

- Đã tốt nghiệp đại học các ngành có liên quan và xếp loại tốt nghiệp từ khá trở lên.

- Đạt các môn thi ở kỳ thi kiểm tra đầu vào của VGU.

- Tiếng Anh đạt trình độ upper-intermediate ở kỳ thi kiểm tra đầu vào của VGU .

Các mốc thời gian cần lưu ý đối với bậc cao học:

- Hạn chót nhận hồ sơ : 15/07/2009 .

- Thi kiểm tra đầu vào của VGU : 21/07/2009 - 22/07/2009

BUỔI NÓI CHUYỆN :

Bạn sẽ nhận được thông tin đầy đủ về VGU và chương trình đào tạo tại VGU :

Thứ năm, ngày 25 tháng 6 năm 2009 lúc 18 giờ.

Khách sạn Lavender, 208 - 210 Lê Thánh Tôn, Quận 1, Tp. HCM .

Liên hệ :

Để biết thêm thông tin chi tiết, hãy liên hệ info.vgu@gmail.com hoặc điện thoại : 08-3725 1901-35.

Trang Web : http://www.vgu.edu.vn


Học đại học Đức tại Việt Nam

Đại học Việt Đức (VGU) là một “gương mặt” mới của làng Đại học Việt Nam, được thành lập ngày 1-9-2008 trên cơ sở thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Đức ( phía Đức đóng góp 12 triệu EUR, phía Việt Nam góp 125 triệu USD ). Trường hoạt động theo quy chế riêng, phi lợi nhuận, với định hướng đào tạo chất lượng cao tiến tới trình độ quốc tế. Nhân mùa tuyển sinh Đại học - Cao Đẳng năm nay, PV Báo SGGP có buổi trao đổi với GS-TS Wolf Rieck, Hiệu trưởng VGU.

Là hiệu trưởng người nước ngoài đầu tiên của một trường Đại học do Chính phủ Việt Nam thành lập, suốt thời gian chuẩn bị đến nay, ông có gặp khó khăn gì không ?

GS-TS WOLF RIECK : Không gặp khó khăn gì trong công tác chuẩn bị. Chúng tôi nhận được nhiều hỗ trợ của chính phủ 2 nước. Tôi thích làm việc tại đây cùng các bạn.

Dư luận quan tâm đến sự ra đời và hoạt động của VGU vì hy vọng trường sẽ trở thành một hình mẫu về đào tạo Đại học và sau Đại học ở Việt Nam. Ông thấy thế nào ?

VGU được tổ chức và hoạt động như một trường Đại học kỹ thuật tiên tiến ở Đức. Chúng tôi đào tạo với khẩu hiệu “Công nghệ cao made in German tại Việt Nam”. Hệ thống đào tạo ở Đức có chất lượng cao, với đặc thù là nghiên cứu - giảng dạy kết nhau rất chặt. Các kết quả nghiên cứu thành công lập tức được đưa vào giảng dạy, vì vậy chất lượng và hiệu quả đào tạo được nâng cao. Chúng tôi cam kết về chất lượng đào tạo tại VGU.

Nhưng hoạt động đào tạo ở VGU cũng sẽ phải có những cái khác so với các trường Đại học kỹ thuật ở Đức ?

Không có khác biệt nhiều. Chương trình đào tạo giống hệt bên Đức. Sinh viên tốt nghiệp VGU sẽ nhận bằng của Đức cấp.

Như vậy, VGU sẽ lấy nguồn giảng viên ở đâu để có thể đảm bảo chất lượng như ông cam kết ?

Trong thời gian đầu, chủ yếu là giảng viên từ Đức sang, về lâu dài sẽ tăng số lượng giảng viên ở Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy Đại học Việt Nam dạy những môn cơ sở có chất lượng khá tốt. Trước mắt, trường sẽ có một số giảng viên Việt Nam dạy các môn cơ sở.

Năm nay trường tuyển sinh các ngành nào, số lượng bao nhiêu ?

Ở bậc cử nhân, năm nay trường tuyển các ngành : Kỹ thuật điện, Quy hoạch đô thị, Công Nghệ Thông Tin. Ở bậc cao học tuyển sinh các ngành: Kỹ thuật tính toán, Cơ điện tử, Công nghệ sensor, Tin học và Tin học kinh tế.

Dự kiến mỗi ngành tuyển khoảng 25 Sinh viên. Điều kiện để được xét tuyển vào học Đại học : Tiếng Anh phải đạt TOEFL ít nhất 550 điểm, điểm thi Đại học bằng điểm tuyển sinh năm nay của Đại học Bách khoa TP HCM. Xét tuyển hệ cao học : tốt nghiệp Đại học các ngành tương ứng, có điểm trung bình từ 8.0 trở lên. Thông tin chi tiết có trên trên website : www.vgu.edu.vn.

Học phí bao nhiêu, thưa ông ?

1.500 USD/năm.

Với mức thu học phí này, VGU có đủ sức trang trải các chi phí?

Thực ra, mức học phí 1.500 USD/năm là đã giảm 50%, do VGU có sự tài trợ của chính phủ 2 nước.

Ông cho biết khả năng làm việc sau khi tốt nghiệp của Sinh viên VGU?

Sinh viên tốt nghiệp có khả năng làm việc tại doanh nghiệp, có nhiều cơ hội làm việc tại các công ty của Đức hoặc tiếp tục nghiên cứu sau Đại học.

Vấn đề ăn ở cũng rất quan trọng đối với Sinh viên. VGU có điều kiện gì về ký túc xá, xe buýt ?

Do VGU nằm cạnh Đại học Quốc gia TP HCM ( phường Linh Trung, quận Thủ Đức ) nên Sinh viên có thể sử dụng ngay tuyến xe buýt hiện hành. Sinh viên có thể đăng ký ở tại ký túc xá của Đại học Quốc gia TP HCM. Trong lộ trình xây dựng cơ sở vật chất VGU, chúng tôi đã có kế hoạch xây ký túc xá riêng của trường.

Trường có những trợ giúp gì cho những Sinh viên nghèo ?

Sẽ có học bổng cho những em nghèo, xuất sắc. Chúng tôi cũng đang đề nghị với Chính phủ Đức cấp học bổng cho các Sinh viên nghèo, trong đó có cả học bổng sang nghiên cứu, tu nghiệp tại Đức.

Văn Thanh

Khai giảng Đại học Việt - Đức tại Việt Nam

Sáng 10-9-2008, Phó Thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện Nhân cùng thủ hiến bang Hessen (Đức) Roland Koch đã tham dự buổi khai trương, khai giảng trường đại học Việt – Đức (VGU) tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học đầu tiên được thành lập trên cơ sở đào tạo hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Trường khoa học kỹ thuật theo chuẩn Đức

Hiện trưởng trường Việt – Đức, GS. TS Wolf Rieck cho biết trường sẽ khai thác thế mạnh của Đức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật để đào tạo sinh viên tại Việt Nam. Ông đến Việt Nam từ những năm 1991, có kinh nghiệm giảng dạy tại nhiều trường đại học Việt Nam, ông tự tin về khả năng kết hợp giữa Đức và Việt Nam trong dự án trường đại học Việt Đức này.

Hiện nay, sinh viên những khoá đầu tiên sẽ học trong cơ sở của trường đại học quốc gia TP. HCM. Bộ trưởng Nguyễn thiện Nhân cho biết Việt Nam bắt đầu làm thủ tục vay Ngân hàng thế giới khoảng 100 triệu USD để xây dựng trường trên diện tích đất 20 ha tại Thủ Đức, nhằm đáp ứng cho nhu cầu tương lai, đặc biệt nhắm tới việc thu hút sinh viên nước ngoài đến học. Dự tính trường sẽ có cơ sở độc lập vào năm 2011-2012.

Sinh viên đóng học phí 150 USD/tháng. Tuy nhiên, sinh viên khoá đầu sẽ được giảm 50%. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biết, sinh viên sẽ học 1 năm đại cương để hoàn tất một số môn học bắt buộc của chương trình học Việt Nam hoặc vi tính, song song với tiếng Anh chuyên ngành và phương pháp học tập nghiên cứu. Ba năm còn lại, sinh viên sẽ học toàn bộ chương trình đào tạo của Đức.

Những học viên đầu tiên

Ông Ngô Quang Vinh ở Đồng Nai cho biết, ông đọc trên mạng về thông tin tuyển sinh của nhà trường. Ông đã muốn cho cậu con trai đi du học nhưng vẫn lo lắng khi đứa con xa nhà. Năm nay, cậu vừa thi đại học và trúng tuyển vào đại học Quốc gia, ông đã khuyến khích con đăng ký học ở trường Việt - Đức vì tin ở chuyên ngành đào tạo và yêu cầu đầu vào của trường (trường tuyển 21 điểm đối với khối A). Một phụ huynh khác tại Thủ Đức nói, con của ông tự tìm hiểu và xin đăng ký học. Về học phí, ông Vinh nói: “Với một trường đại học theo chương trình trên, giá học phí như thế là rẻ. Đây là cơ hội cho những gia đình như tôi khi cho con cái tiếp xúc nền giáo dục tiên tiến trong khả năng của mình”.

Với những sinh viên khoá đầu tiên của trường, một số vẫn còn e dè vì chưa biết có phù hợp với trường hay không. N.T.Trang, sinh viên khoá đầu tiên của VGU cho biết: “Em trúng tuyển trường Luật và Ngoại thương trong kỳ thi vừa qua. Nhưng vì gia đình em có công ty về kỹ thuật, hôm trước xem ti vi thấy nói đến trường này, em đã nghiên cứu và quyết định học thử. Em xin bảo lưu kết quả ở trường đã đỗ, nếu cảm thấy không hợp, năm sau em sẽ quay lại học”.

Còn Ngô Quang Sang, một học viên khác tâm sự : “Em trúng tuyển khoa Kinh tế đại học Quốc gia, khi thấy thông tin về trường này trên mạng, em đã tìm hiểu và đăng ký vào học. Em nhận đơn báo nhập học qua email. Giờ em hơi lo về tiếng Anh. Thực sự, em cũng đang chuẩn bị tinh thần để học với thầy cô giáo thuộc nền văn hoá khác mình. Chắc sẽ có không ít khó khăn”.

Ông Wolf Rieck cho biết với hai ngành đào tạo đầu tiên là kỹ thuật điện tử và kỹ thuật xây dựng, hiện mới chỉ có hơn 40 sinh viên đăng ký trên chỉ tiêu tuyển sinh 80 sinh viên khoá đầu tiên. Trường còn tiếp tục tuyển sinh đến hết tháng 9-2008.

Kim Dung

Trường Đại Học Việt Đức khai giảng năm học mới

Sáng qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp đoàn đại biểu Bộ Giáo dục - nghiên cứu Cộng hòa Liên Bang Đức và bang Hessen do ông Roland Koch, thủ hiến bang, dẫn đầu tới thăm TP.HCM.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, hôm qua ông Koch đã cùng Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tới dự lễ khai giảng năm học mới của Đại Học Việt Đức, một dự án hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Chính phủ Đức.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá trường Đại Học là biểu tượng cho sự hợp tác ngày càng phát triển giữa hai nước Việt Nam - Đức. Trong năm học mới này, dự kiến trường sẽ thu hút 70 - 80 sinh viên học trong hai khoa kinh tế xây dựng và điện-điện tử. Hiện trường mới tuyển được khoảng 48 sinh viên và vẫn đang tuyển thêm các sinh viên khác từ nay tới ngày 20-9. Các sinh viên có điểm thi đại học trên 21 điểm sẽ tiến hành thi tiếng Anh để trường chọn đầu vào.

Chương trình học của các sinh viên sẽ bằng tiếng Anh và được làm quen thêm với tiếng Đức trong vòng bốn năm. Trong năm học đầu tiên, các sinh viên cũng sẽ được Chính phủ hỗ trợ 50% học phí. Được biết, ban lãnh đạo Trường Việt - Đức dự kiến đưa trường Đại Học từ nay tới năm 2020 sẽ nằm trong top 200 trường Đại Học hàng đầu thế giới. Trường Đại Học Việt Đức có khuôn viên 20ha và sẽ nằm trong khuôn viên của Đại Học Quốc Gia TP.HCM. Dự kiến từ nay tới năm 2012, Đại Học Việt Đức sẽ hoàn thành việc xây dựng khuôn viên riêng của trường mình.

Đại Học Việt Đức sẽ mở cửa với thế giới

Tại lễ khai giảng Trường Đại Học Việt Đức ngày 10-9-2008, GS.TS Wolf Rieck ( người Đức ) trở thành người nước ngoài đầu tiên giữ chức vụ hiệu trưởng một trường Đại Học công lập của Việt Nam. Đây được xem là một sự kiện mang tính đột phá đối với nền giáo dục Đại Học Việt Nam.

Trong bài phát biểu của mình GS.TS Wolf Rieck bày tỏ: “Nếu có thể mô tả Trường Đại Học Việt Đức với chỉ một từ, tôi sẽ chọn khái niệm “đột phá”. Theo tôi, nó mô tả tốt nhất những kỳ vọng và trông đợi mà Chính phủ Việt Nam, hệ thống các trường Đại Học và xã hội đặt vào dự án này”. Và khi nói về một Đại Học Việt Đức trong tương lai, GS.TS Wolf Rieck bày tỏ rất nhiều hi vọng...

Coi năng lực xuất sắc là nền tảng

“Một trường Đại Học mà trong văn bản thành lập có ghi trọng trách phải trở thành một trường Đại Học xuất sắc thì cần phải có tiền, rất nhiều tiền, và nếu nói một cách thành thật thì: cần nhiều tiền hơn nữa. Đối với Đại Học Việt Đức, tôi tin tưởng rằng các bạn cả về phía Việt Nam và Đức sẽ huy động được đủ khoản ngân sách cần thiết để thực thi sứ mạng này.

Đại Học Việt Đức sẽ đòi hỏi nhiều ở các thành viên của mình. Chúng tôi sẽ tư vấn và khuyến khích mạnh mẽ những sinh viên của mình để đặt nền tảng cho năng lực xuất sắc. Các chương trình học bổng sẽ đặc biệt hỗ trợ các sinh viên giỏi nhất. Nguyên tắc về năng lực và hỗ trợ được áp dụng cả cho giảng viên và cán bộ quản lý.

Một đặc điểm xây dựng diện mạo của Trường Đại Học Việt Đức mà tôi muốn mô tả là sự mở cửa với thế giới. Yêu cầu này có nhiều khía cạnh riêng: tính quốc tế hóa, đó là sự tham gia thế giới hàn lâm toàn cầu, là khía cạnh đầu tiên. Sự hợp tác với các doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế khác sẽ là khía cạnh thứ hai. Đại Học Việt Đức phải là một tấm gương trong vấn đề gìn giữ và bảo vệ môi trường. Ở đây, Đại Học Việt Đức cần phải vừa là tấm gương vừa phải cùng đóng góp với xã hội giải quyết vấn đề này” - GS.TS Wolf Rieck phát biểu.

Một cảm giác tuyệt vời

Thưa GS.TS Wolf Rieck, cảm giác của ông khi trở thành hiệu trưởng của một trường công lập tại Việt Nam như thế nào?

Trong cuộc đời từ trước đến nay của tôi, tôi chưa có vinh dự nào lớn hơn trọng trách làm hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Việt Đức. Đó là một cảm giác rất tuyệt vời. Tôi đến Việt Nam từ năm 1991 và rất nhiều lần quay trở lại đất nước này. Tôi đã dạy ở nhiều trường Đại Học của VN và cũng rất vui mừng nhận được nhiệm vụ làm hiệu trưởng đầu tiên của trường.

Ông đã nghe một tân sinh viên của Trường Đại Học Việt Đức phát biểu, ông cảm nhận về sinh viên Việt Nam như thế nào, nhất là những sinh viên do chính ông dạy dỗ ?

Tôi đã biết nhiều về sinh viên Việt Nam và cũng biết các bạn sinh viên Việt Nam rất chăm chỉ, luôn cố gắng trong học tập và thường xuyên đạt kết quả tốt. Làm lãnh đạo của trường, nhờ có những đức tính của các bạn sinh viên Việt Nam như vậy nên nhiệm vụ của tôi đơn giản hơn. Và qua đó cùng với sự nỗ lực của chúng tôi có thể sẽ đạt được mục đích chính của trường Đại Học là cung cấp một nền giáo dục tuyệt vời.

Nguyễn Phan

Đầu tư 100 triệu usd để xây dựng

Trường Đại Học Việt Đức là một trường khác thường, vì trường tiếp thu truyền thống giảng dạy của Đức, đó là giảng dạy gắn với nghiên cứu. Tổ chức bộ máy cũng khác, ngoài ban giám hiệu còn có hội đồng giáo sư có nhiệm vụ hỗ trợ và giám sát ban giám hiệu, làm sao đảm bảo quyền lợi cho giáo viên và sinh viên. Chúng ta phải tuyển chọn được những giáo viên, sinh viên giỏi nhất vào đây. Chương trình đào tạo của Đức là ba năm, nhưng ở ta bốn năm. Năm đầu sinh viên sẽ được nâng cấp chương trình tiếng Anh, học giáo dục quốc phòng, học về chính trị xã hội, học thêm về công nghệ thông tin, bồi dưỡng phương pháp học tập...

Chính phủ dự kiến vay 100 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới để xây dựng cơ sở vật chất tại khu vực của Đại Học quốc gia TP.HCM, khoảng 20ha. Bộ GD-ĐT sẽ cố gắng hoàn tất hồ sơ vay trong vòng một năm, sau đó sẽ tìm một công ty tư vấn thiết kế. Như vậy để hoàn thiện Đại Học Việt Đức, chúng ta có một năm vay tiền và ba năm lo xây dựng.

GS.TS Wolf Rieck năm nay 65 tuổi, trước khi làm hiệu trưởng Đại Học Việt Đức, ông giữ nhiệm vụ hiệu trưởng Đại Học Ứng dụng Frankfurt (bang Hessen, Cộng hòa liên bang Đức). Ông từng giữ chức vụ về quyết định chiến lược nhân sự của Công ty Fraport AG (là một trong những công ty dẫn đầu về lĩnh vực kinh doanh hàng không quốc tế), trước khi ông được bổ nhiệm chức vụ hiệu trưởng Đại Học Frankfurt.

Đột phá từ một "tinh thần đại học"

Sản phẩm của sự hợp tác giữa hai nền giáo dục Việt Nam - Cộng Hòa Liên Bang Đức đã ra lò, bắt đầu đào tạo từ 10-9-2008. Từ "hoa tiêu mở đường" này chúng ta có quyền trông đợi về một "tinh thần đại học" theo chuẩn thế giới lan rộng ở Việt Nam.

Từ hoa tiêu mở đường

Khai giảng năm ngày sau lễ khai trường toàn quốc, đại học Việt - Đức ( VGU ) ra đời trong một thời điểm vừa thuận lợi vừa khó khăn. Thuận lợi bởi hội nhập giáo dục đang là xu thế chung của cả nước. Gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế ( WTO ), làm việc với thế giới đặt vấn đế đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao lên ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, chấn hưng giáo dục, từ lâu đã là một đề tài nóng hổi được dư luận nhiệt tình quan tâm, thảo luận, với nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết.

Khó khăn, bởi mặc dầu đã cố gắng nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập trong môi trường đào tạo đại học ở nước ta. Những khó khăn này đặt bất kỳ mô hình hợp tác giáo dục nào giữa Việt Nam và các nước trên thế giới vào những câu hỏi lựa chọn.

Nếu đóng vai trò như một cơ sở giáo dục đơn lẻ, hướng tới mục tiêu đào tạo lao động chất lượng cao, thì với 48 sinh viên năm đầu tiên và hàng trăm sinh viên những khoá sau đại học Việt - Đức ( VGU ) sẽ cung cấp cho xã hội một lượng kỹ sư thợ lành nghề trong 5 đến 10 năm nữa. Những con số này đáng quý, nhưng sẽ là chưa đủ cho một kỳ vọng lớn lao.

Còn nếu mô hình hợp tác này chọn đóng vai trò như một hoa tiêu, một người mở đường cho một khuôn mẫu đại học mới thì đây sẽ là một con đường đây chông gai và hiểm trở.

Đến tinh thần đại học

Hai vấn đề nổi cộm của giáo dục đại học nước ta là bài toán tự chủ về tài chính và chương trình giảng dạy. Ở hai điểm này, đại học Việt - Đức (VGU) đã được chính phủ hai nước hỗ trợ qua những cơ chế đặc biệt.

Theo Phó thủ tướng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, chính phủ dự kiến vay 100 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới để xây dựng cơ sở vật chất tại khu vực của Đại Học quốc gia TP.HCM, khoảng 20 ha.

Còn về chính phủ Đức cũng đã cam kết 6 triệu euro cho việc trả lương giảng viên, hỗ trợ chương trình giảng dạy. Hiện nay, toàn bộ chương trình được thiết kế và xây dựng theo chuẩn của đào tạo của đại học Đức.

Ba đặc điểm đáng ghi nhận của đại học Việt - Đức (VGU) được hiệu trưởng đầu tiên VGU GS.TS Wolf Rieck khái quát : mở cửa với thế giới, chung tay với doanh nghiệp giải quyết các vấn đề xã hội, mà trong đó giử gìn và bảo vệ môi trường là một ví dụ mà đại học Việt - Đức (VGU) phải là một tấm gương sáng. Có thể nói việc thiết lập được những cơ chế này là nổ lực đáng ghi nhận từ hai phía.

Phát biểu trong bài chào mừng Quốc vụ khanh Bộ GD và Nghiên cứu Liên bang Đức (BMBF) Andreas Storm tin rằng VGU sẽ trở thành một hình mẫu của hợp tác khoa học trong thế kỷ 21 vượt ra ngoài biên giới Việt Nam.

Tham vọng hơn, Thủ hiến bang Hessen Roland Koch, tiểu bang đã chung tay sát cánh với dự án đại học Việt - Đức (VGU) từ ban đầu, kỳ vọng trường đại học Việt - Đức (VGU) từ nay tới năm 2020 sẽ nằm trong top 200 trường Đại Học hàng đầu thế giới.

Có thể sẽ là quá sớm để kiểm chứng những dự đoán về tương lai. Cái chúng ta có thể làm là nuôi dưỡng những mầm ươm và xây dựng cho nó môi trường phát triển thích hợp.

Vì lẽ đó, một đại học Việt - Đức (VGU) trong quá trình cải cách giáo dục đại học nước ta là đáng trân trọng, và sẽ còn ý nghĩa hơn khi khi mô hình này tự khẳng định được mình như một thương hiệu, từ đó gieo hạt giống “tinh thần đại học” của nước Đức, tinh thần giáo dục đại học theo “tiêu chuẩn thế giới” lan rộng khắp. Đó mới chính là mục đích cuối cùng mà chúng ta quyết tâm hướng tới!

Nguyễn Chính Tâm

Bốn trường Đại học có mục tiêu vào top 200 thế giới

Thông tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng 4 trường đại học, với mục tiêu lọt vào top 200 trường đại học tốt nhất thế giới vào năm 2020.

Đây là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009 - 2020.

Bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ Đại học ( Bộ Giáo dục và Đào tạo ) cho biết, 4 trường này được xây dựng theo mô hình đại học công lập phi lợi nhuận, với hệ thống đào tạo đa ngành, đạt trình độ quốc tế.

Hiện, đã có một trong số 4 trường đại học nói trên được thành lập, đó là Đại học Việt Đức tại Tp.HCM.

Đại học Việt Đức khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 10/9/2008 với 80 học viên cho 2 khoa điện tử và xây dựng. Trường dự kiến sẽ có 5.000 sinh viên vào năm 2020.

Đại học Khoa học Công nghệ ( Hà Nội ) cũng đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý thành lập về nguyên tắc. Hai trường tiếp theo dự kiến sẽ thành lập tại Cần Thơ và Đà Nẵng.

Được biết, số tiền đầu tư cho mô hình giáo dục đại học chất lượng nói trên là 400 triệu USD, vay của Ngân hàng Thế giới ( World Bank ) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).


Trang Web : http://www.vgu.edu.vn

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Sóc Trăng nơi sông về tới biển



DẠY VÀ HỌC. Dòng sông quê hương, dòng sông tuổi thơ, dòng sông tình yêu suốt đời thao thiết chảy. Sóc Trăng là nơi sông về tới biển. Tiếng Khmer, Sóc Trăng gọi là Srok Kh'leang nghĩa là cõi báu (Srok là cõi, Kh'leang là kho báu). Srok Kh'leang là cõi Phật, là chốn Bồng Lai. Nghĩa khác của Sóc Trăng là Sông Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng có tên là Nguyệt Giang (Sông Trăng). Đối diện với mặt trời nóng ấm là sông trăng hiền hòa, lồng lộng đi về biển lớn (Sông Mekong ngã Năm, Sóc Trăng).

Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, một tỉnh nghèo ven biển miền Trung. Ký ức tuổi thơ gắn với sông Giang (Linh Giang) huyền thoại. Cha mẹ làm nghề nông nhưng cha cũng làm thêm nghề chèo đò. Ông đã từng cứu người chết đuối và được đền ơn bằng lời khuyên đổi tên tuổi thơ cho tôi từ Hoàng Minh Kim thành Hoàng Kim mà tôi sẽ kể vào một dịp khác.



(Sông Gianh, nguồn Son lối vào động Phong Nha, Quảng Bình)

Nhà tôi ở ngã ba sông của rào Nan và nguồn Son. Đường sông lối nguồn Son vào động Phong Nha khá gần. Thuở nhỏ đi hái củi tôi vẫn thường qua lại hang động. Sau này động Phong Nha đã trở thành danh thắng nổi tiếng thế giới gắn với sông Gianh, đèo Ngang của tuổi thơ và biển Quảng Bình.

Biển

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

Lớn lên, tôi ra học Đại Học Nông nghiệp 2 ở Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc và nhập ngũ năm 1971 cùng đợt với Nguyễn Văn Thạc. Ngày lên đường có sự thầm yêu thương của người bạn gái cùng lớp mà mãi sau này trong sổ tay chiến sĩ tôi còn trân trọng giữ gìn hai bài thơ thuở đó:

Tình em

Em trao duyên cho anh
Anh nén lòng
Dành
Đợi

Em lấy chồng rồi
Anh nợ mãi
Tình em

Qua sông Thương gửi về bến nhớ

Ta lại hành quân qua sông Thương
Một đêm vào trận tuyến
Nghe Tổ Quốc gọi lên đường!
Mà lòng ta xao xuyến
Và hồn ta căng gió reo vui
Như dòng sông Thương chảy mãi về xuôi
Hôm nay ta ra đi
Súng thép trên vai nóng bỏng

Không qua nhịp cầu ngày xưa soi bóng
Phà đưa ta sang sông
Rạo rực trời khuya, thao thức trong lòng
Rầm rập dòng sông sóng nhạc
Như tình thân yêu muôn vàn của Bác
Tiễn đàn con ra đi

Tầu cập bến rầm rì tiếng máy
Tiếng động cơ sục dưới khoang tàu
Hay sôi ở trong lòng đất cháy
Hay giữa tim ta thúc giục lên đường
Chào bờ Bắc thân yêu hẹn ngày trở lại!

Ôi những con thuyền đèn trôi suốt canh khuya
Có khua nhẹ mái chèo qua bến cũ
Nhắn cho ai ngày đêm không ngủ
Rằng ta đi chưa kịp báo tin vui

Đêm nay bên dòng nước nghiêng trôi
Sông vẫn thức canh trời Tổ Quốc
Rạo rực lòng ta bồi hồi tiếng hát
Đổ về bến lạ xa xôi
Với biển reo ca rộng mở chân trời

Dòng sông tuổi xuân thao thiết chảy. Năm 1972, tại Tây Nguyên tôi có kỷ niệm không thể quên về những ngày đói gạo, ăn rau rừng và câu cá ven sông Srêpok gần Buôn Đôn. Nhớ buổi câu cho bữa cơm người bạn sốt rừng ốm nặng thèm ăn cá.Đây là bài thơ khóc bạn.

Câu cá bên dòng Srêpok

Bạn chèo thuyền trên sông Vôn ga
Có biết nơi này mình câu cá?
Srêpok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm
Thèm một chút cá tươi
Mình câu cá
Cho bữa cơm cuối cùng của người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi...
mặn đắng

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srêpok
Nay đã theo dòng thác lũ cuốn đi rồi
Đất nước nghìn năm
Trọn một lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

Sau ngày đất nước thống nhất đến năm 1977, tôi về lại mái trường thân yêu học tiếp Đại học Nông nghiệp. Tốt nghiệp ra trường, trên một phần tư thế kỹ liên tục gắn bó với những nghiên cứu chọn giống và thâm canh cây trồng ở Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và trên ruộng nông dân tại Đông Nam Bộ và các tỉnh miền Trung, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên...Tôi đã đi qua hầu hết các tỉnh thành trong cả nước và hầu hết các châu lục trên thế giới, được ngắm nhìn nhiều dòng sông ở nhiều vùng văn hóa khác nhau.


(Chùa Đất Sét, Sóc Trăng)

Tới nơi đây, về Sóc Trăng, mảnh đất Tổ Quốc thiêng liêng nơi gần cực Nam đất nước, được đón bình minh nơi cửa biển, lòng tôi trào dâng niềm xúc động bồi hồi. Dòng sông quê hương, dòng sông tuổi thơ, dòng sông tình yêu suốt đời thao thiết chảy. Tôi đã ra đi từ dòng sông quê hương miền Trung, tới phương Bắc, về phương Nam và nay chọn đất phương Nam làm quê hương thứ hai. ‘‘Dân Việt nghìn năm xuôi lấn biển/Tựa lưng vào núi hướng về Nam/ Thoáng chốc nghìn năm nhìn trở lại/ Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong”. Cửu Long là sông lớn nhất của đất phương Nam. Sóc Trăng là nơi sông về tới biển. Sóc Trăng là Srok Kh'leang là cõi báu, là đất Phật, chốn Bồng Lai. Sóc Trăng có sông trăng hiền hòa, lồng lộng đi ra biển lớn. Tôi thích đọc những chấm phá về người và đất phương Nam có trong các trang văn của Nguyên Ngọc, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Nguyễn Một .... và bất giác nhớ đến bài thơ:

Điểm hẹn

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em.

Chủ Nhật 14.9.2009

(Còn nữa: Bài 3 Sóc Trăng những tên đất tên người )

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Nhớ Sóc Trăng



DAYVAHOC. Hoàng Kim. Đi miền Tây, tôi mang theo cuốn “Bằng đôi chân trần” của nhà văn Nguyên Ngọc để đọc. Những trang văn của ông về “Du lịch bền vững”“Đến miền Tây với một tấm lòng”,“Bằng đôi chân trần”,“Không gian của Nguyễn Ngọc Tư” đã ám ảnh và gợi cho tôi nhiều điều. Hành trình xuôi phương Nam, qua Cần Thơ, chúng tôi đến Sóc Trăng, một tỉnh của vùng Tây Nam Bộ. Đây là nơi giao thoa của những cộng đồng văn hóa Khơ me, Việt, Hoa. Một nhà dân tộc học có nói: "Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc là những điểm nhấn văn hóa khi nghiên cứu người Việt, đất Việt và văn hóa Việt". Thật may mắn cho tôi là đã có gần trọn tuần ở cái nôi văn hóa ấy để khi về luôn ... nhớ Sóc Trăng (ảnh chùa Dơi Sóc Trăng, hình internet).

VÀI NÉT VỀ ĐẤT ĐAI, SÔNG NƯỚC VÀ CON NGƯỜI SÓC TRĂNG
Tỉnh Sóc Trăng, theo trang thông tin điện tử của Ủy ban Nhân dân Tỉnh , là vùng tiềm năng kinh tế xuất khẩu gạo, hàng thủy sản và nông sản thực phẩm chế biến của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Diện tích đất tự nhiên của tỉnh có 3.310,03 km2 gồm 8 huyện và 1 thành phố với 105 xã, phường, thị trấn với thành phố Sóc Trăng là trung tâm hành chính cách thành phố Cần Thơ 62 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 231 km.

Đất đai Sóc Trăng chủ yếu là đất phù sa bồi có độ màu mỡ cao được hình thành qua nhiều năm lấn biển, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng. Hiện đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm 84,03%, đất lâm nghiệp 4,40%, đất chuyên dùng và các loại đất khác 11,57%. Trong tổng số 278.154 ha đất nông nghiệp có 160.910 ha sử dụng cho canh tác lúa, 18.319 ha dùng trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, 40.911 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái.

Địa hình phần lớn là đất bằng, xen kẽ những vùng trũng với các giồng cát với cao trình phổ biến ở mức 0,5-1,0 m so với mặt biển, nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Những giồng cát hình cánh cung đồng phương với bờ biển từ Sóc Trăng đến Vĩnh Châu. Vùng trũng phía nam tỉnh với độ cao 0-0,5 m, thường bị ngập úng dài ngày trong mùa lũ. Sử dụng đất ở Sóc Trăng khá đa dạng trong phát triển nông, ngư nghiệp và hiện tại đã hình thành nhiều khu du lịch sinh thái phong phú.

Khí hậu tỉnh Sóc Trăng được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 27oC, độ ẩm trung bình là 83%.

Tài nguyên sông biển của Sóc Trăng có 72 km bờ biển với ba cửa sông lớn Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh hình thành lưu vực rộng lớn thuận lợi cho giao thông, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối. Hệ thống kinh rạch của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên.


(Tôm là nguồn lợi thủy sản của vùng Tây Nam Bộ- ảnh internet)

Tài nguyên rừng có diện tích 12.172 ha với các loại cây tràm, bần, giá, vẹt, dừa nước phân bố chủ yếu ở 2 huyện Vĩnh Châu và Long Phú. Rừng Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn. Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách và Long Phú chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, cù lao Dung.

Dân số toàn tỉnh, theo thống kê năm 2007, có 1.302.562 người, trong đó thành thị chiếm 18,44%, nông thôn 81,56%.. Ở Sóc Trăng, ngoài người Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,2% dân số còn có nhiều dân tộc khác cùng chung sống, trong đó người Khmer chiếm 28,9%, người Hoa chiếm 5,9%. Thêm vào đó còn có người Nùng, Thái, Chăm... nên đời sống và sinh hoạt văn hóa của người dân Sóc Trăng rất đa dạng và phong phú. Mật độ dân số trung bình hiện nay của tỉnh là 394 người/ km2, thấp hơn mức trung bình ở Đồng bằng sông Cửu Long (434 người/ km2). Dân số phân bổ không đều, tập trung đông ở vùng ven sông Hậu và các giồng đất cao.

Con người Sóc Trăng nói riêng và Tây Nam Bộ nói chung là “một trong những xứ đất và người kỳ thú nhất ở nước ta” theo cách nói của nhà văn Nguyên Ngọc: “Tôi yêu và mê miền Tây như vậy, nhưng chưa bao giờ dám nghĩ và viết về miền đất và người ở đấy, trừ đôi bút ký nhỏ và rụt rè, bởi tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được cho thật đúng cái hơi thở nồng đậm có một không hai, không bao giờ nói được cho thấu về đất đai, sông nước và con người ở đây, từ hình dáng tâm tình, suy nghĩ, tính cách ... cho đến ngôn ngữ giàu có đến kỳ lạ của họ”

Đến Sóc Trăng là đến với vùng đất đa văn hóa, sông trăng, đạo Phật, đền chùa, thú ẩm thực và những điều sâu sắc cốt lõi văn hóa nằm sâu trong dân gian... Chợt dưng tôi nhớ đến đất nước Lào và bài thơ tôi làm năm ngoái khi tham dự Hội nghị Nghiên cứu Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại Viên Chăn, ngày 20 - 24 / 10/ 2008

THÁP VÀNG, HOA TRẮNG, NẮNG MEKONG

Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong
Ấn tượng Viên Chăn thật lạ lùng
Nơi đâu hối hả, đây trầm lắng
Một vùng đất Phật ở ven sông.

Nhớ thuở Nguyễn công gây nghiệp lớn
Ai Lao thường mở lối đi về
Trung Hưng thành tựu nhờ chung sức
Núi thẳm, lòng dân đã chở che

Dân Việt ngàn năm xuôi lấn biển
Tựa lưng vào núi hướng về Nam
Thoáng chốc nghìn năm nhìn trở lại
Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong

"That Luang", "Champa", "golden light in Mekong River" là những ấn tượng khó quên về đất nước Lào. That Luang (tháp vàng) là biểu tượng quốc gia. Cham pa (hoa trắng) là sắc hoa sứ thanh khiết mà người Lào rất mến chuộng. Nắng vàng rực rỡ trên sông Mekong tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo của Viên Chăn. Uống bia Lào, ăn mực và nhâm nhi cà phê Việt, ngắm nắng chiều dát vàng trên sông xanh mà bờ sông bên kia là Thái Lan, để lắng nghe nhịp sống chậm rãi và yên bình.

Đến Sóc Trăng vẻ đẹp kỳ ảo miền Tây thật giống đất nước Lào: Thiên nhiên còn hoang sơ với nhịp sống chậm rãi và yên bình. Sông trăng lộng lộng xuôi về biển lúc bình minh hừng sáng. Nét đẹp dung dị phúc hậu của cô gái miền Tây. Các đặc sản ẩm thực tuyệt diệu vùng sông nước. Những ngôi chùa cổ và nét đẹp văn hóa tinh tế của đất phương Nam. Những vùng đất thuở sơ khai và tên người có công với Nước. Bước chân trần lấn biển. Hành trình mở cõi đất phương Nam. Sự giao thoa của những nền văn hóa lớn. Mỗi dòng trên đây là cả một cuốn sách rộng mở cần nghiên cứu, tìm tòi, khám phá như sông trăng lồng lộng xuôi về biển rộng lúc hừng đông

(còn nữa)

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2009

Nguyên Ngọc- Nhà văn chiến sĩ


DAYVAHOC. Nguyên Ngọc là nhà văn Việt Nam đương đại yêu quý nhất của tôi (HK). "Trong văn học cách mạng Việt Nam, Nguyên Ngọc là nhà văn luôn có mặt ở tiền tuyến. Ông thuộc số những người cầm súng trước khi cầm bút, trãi nghiệm qua hai cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ của dân tộc, Những năm ở chiến trường, trước hết anh là một cán bộ chính trị. ...Anh phải dành nhiều thời gian cho việc xây dựng đội ngũ, bồi dưỡng người viết, trực tiếp giảng bài cho học viên ở các lớp bồi dưỡng mở tại nhiều địa phương khác nhau. Với cương vị người cán bộ chính trị, người ta lại thấy anh có mặt góp ý kiến cho các đội quân chính trị sắp kéo vào đấu tranh trong thành phố ở đơn vị này, lại hăng hái tham gia thảo luận phương án tác chiến của một đơn vị khác. Khi về hậu cứ, cũng như mọi cán bộ khác, anh lo phát rẫy tăng gia tự túc, gùi gạo, đào hầm, làm nhà, biên tập bài vở và giải quyết hàng loạt công việc sự vụ của người thường trực cơ quan văn nghệ. Thời gian dành cho sáng tác văn học của anh, vì thế bao giờ cũng chỉ là những mảnh vụn ít ỏi gom nhặt giữa những nhiệm vụ khẩn thiết khác...Hết sức coi trọng tác dụng của văn học và vị trí xã hội của nhà văn, anh không muốn và không thể chấp nhận quan niệm nhà văn chỉ đi vào cuộc sống để thu lượm tài liệu, quan sát thực tế cho tác phẩm của mình. Cao hơn trang sách, mục đích của mọi trang sách vẫn là thắng lợi trong cuộc sống, và anh có ý thức tự mình trực tiếp tham gia vào mọi diễn biến của cách mạng, tự mình thể nghiệm những vấn đề mình sẽ viết. "Nhà văn Nguyên Ngọc" (ảnh Internet)

Ở đó, từ một thiếu sinh quân cho tới khi làm người phụ trách văn nghệ cả một Quân khu, anh không chỉ - nói theo cách của chính nhà văn - sử dụng vũ khí của tiếng nói mà còn sử dụng thành thạo tiếng nói của vũ khí để đánh kẻ thù. Cách sống, cách viết cùng những thành tựu văn học mà anh cũng như các nhà văn quân đội đạt được từ vị trí chiến đấu của mình làm cho các nhà văn mặc áo lính này có một vẻ riêng trong văn học hiện đại Việt Nam.

Nguyên Ngọc tên thật là Nguyễn Văn Báu sinh ngày 5 tháng 9 năm 1932 tại Đà Nẵng, trong gia đình một viên chức bưu điện. Di chuyển theo nơi làm việc của cha, anh về Hội An học tiểu học, rồi một mình ra học trường trung học Khải Định (tức Quốc học) ở Huế. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 về Hội An học ít lâu, theo tiếng gọi cứu nước, anh xin nhập ngũ. Cậu thiếu sinh quân nhỏ người lại bé tuổi được gửi đi học tiếp. Nhưng đến đến 1949, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, thì không thể ngồi yên học tập được nữa, cùng một số bạn bè, trong đó có người sau này là nhà văn Lê Khâm tức Phan Tứ, anh bỏ năm thứ hai trường chuyên khoa đang học dở, trở về đơn vị xin đi chiến đấu. Đối với những thanh niên học sinh lớp tuổi mười tám, hai mươi dạo ấy, hình ảnh anh bộ đội với nước da mai mái, bộ quần áo Xita sợi thô, chiếc ba lô gấp sau lưng và khẩu súng trong tay có sức hấp dẫn của một mẫu người lý tưởng vừa trần thế vừa thần thoại. Sau một khoá đào tạo ngắn hạn, anh được phân về đơn vị với chức tiểu đội phó, cấp thấp nhất trong biên chế quân đội. Cho đến bấy giờ, ở Đắc Lắc thuộc nam phần Tây Nguyên, hình thức hoạt động chính của bộ đội vẫn là vũ trang tuyên truyền. Khi xuống cơ sở, mỗi người được cấp một số gạo nhất định, đó là số lương thực ăn trong thời gian đi tìm cơ sở để đặt chân - nghĩa là có người cho ở cho ăn. Từ đó tiến tới giáo dục, giác ngộ họ về tư tưởng, tiến tới tổ chức các hình thức đánh giặc. Cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia sinh hoạt với đồng bào dân tộc, học nói tiếng của họ, anh học sinh thành phố vô cùng kinh ngạc trước những biểu hiện của tinh thần thượng võ, lòng yêu nước, ý chí bất khuất cùng tài trí của những người dân Tây Nguyên. Vốn văn hoá nghệ thuật của họ thể hiện tập trung trong các khan- trường ca- nghe được trong những đêm hội hè đã gây cho anh một ấn tượng sâu sắc và mạnh mẽ. 1951 anh được điều về làm phóng viên tờ Vệ quốc quân khu 5. Đó là thời cơ cho anh có dịp đi nhiều, biết rộng về Tây Nguyên. Nhưng mãi đến năm 1953 khi đi chuẩn bị chiến trường để phối hợp tác chiến với chiến trường chính ở Bắc Bộ, anh mới có dịp ra vùng bắc Tây Nguyên. Vừa lành vết thương trong một trận đánh, anh lại cùng đồng đội vượt đường 19 tìm bàn đạp cho bộ đội vào giải phóng thị xã Plây Cu. Làng Xitơ nơi anh tới là một căn cứ du kích nổi tiếng. Chính người chiến sĩ- người chỉ huy đội du kích dân tộc Ba Na hàng tháng liền đã dẫn đoàn cán bộ đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Sau này, trong Đại hội chiến sĩ thi đua Khu Năm, Nguyên Ngọc được phân công giúp người chiến sĩ thi đua đó chuẩn bị bản báo cáo thành tích và dịch từ tiếng Ba Na ra tiếng Kinh trước Đại hội.

Đó là lý do khi tập kết ra miền Bắc sau hiệp định Giơnevơ, vào khoảng cuối năm 1955, được triệu tập về dự trại viết truyện anh hùng, Nguyên Ngọc đã chọn viết về người chiến sĩ du kích Tây Nguyên anh đã thân quen vừa được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Người anh hùng đó là Đinh Núp. Trong vòng ba tháng, với một sức làm việc trẻ trung và say mê, anh đã viết đi viết lại đến bốn lần. Hoàn thành vào cuối 1955, lúc đầu dưới tên Đất nước đứng lên anh chỉ đề một cách chung chung: Truyện anh hùng Núp… Viết xong tập sách, cùng anh em trong trại, anh đi tham gia cải cách ruộng đất ở Thuỷ Nguyên (Hải Phòng). Khi đọc bản thảo không có ý định dự thi này, Ban giám khảo Giải thưởng văn học 1953-1954 mặc dầu vào giai đoạn chung khảo, nhất trí tặng cho tác phẩm này giải nhất về tiểu thuyết.

Quả là cuốn truyện đầu tay của Nguyên Ngọc- anh bộ đội mới 23 tuổi ấy- xứng đáng với giải thưởng như thế. Loại truyện anh hùng chiến sĩ thi đua đã được các văn nghệ sĩ hăng hái tham gia viết từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng cho đến bây giờ, với những tác phẩm đã có, nó vẫn chỉ được xem là một thể loại báo chí, nặng về tóm tắt tiểu sử, thống kê thành tích một cách không đến nỗi quá khô khan. Với Đất nước đứng lên, lần đầu tiên loại truyện anh hùng, truyện người thật việc thật được công nhận như một sáng tác văn học thực sự. Tiểu thuyết của văn học kháng chiến cũng đã có khá sớm nhưng đến Đất nước đứng lên mới có một tác phẩm hoàn chỉnh, khá toàn bích về sức khái quát, năng lực biểu hiện hiện thực cuộc chiến tranh nhân dân và xây dựng được những nhân vật có chiều sâu tâm lý, sinh động, chân thực và hấp dẫn. Huy động được vốn sống phong phú thu lượm từ những năm chiến đấu, với một bút pháp giản dị mà sớm điêu luyện, trong phạm vi hơn 200 trang sách, Nguyên Ngọc đã dựng lại sinh động, súc tích quá trình giác ngộ và trưởng thành của những người dân Tây Nguyên, cuộc sống và chiến đấu độc đáo đầy sáng tạo của một buôn làng trên núi cao. Qua câu chuyện về một người anh hùng thuộc một dân tộc ít người ở Tây Nguyên, cuốn tiểu thuyết đã cắt nghĩa được khá đầy đủ câu hỏi: Bằng con đường nào dân tộc Việt Nam đất không rộng, người không đông, có một nền kinh tế quá nghèo nàn lạc hậu lại dám đánh và biết cách đánh thắng một kẻ thù được trang bị hiện đại, có một nền kinh tế phát triển nhiều lần hơn là đế quốc Pháp? Vai trò của lý tưởng, đi đôi với công tác tổ chức của Đảng, huy động được tài trí của quần chúng là những nhân tố quyết định thắng lợi. Vì thế Đất nước đứng lên trong một chừng mực nào đó cũng có thể được coi là một trong những bản anh hùng ca về chiến tranh nhân dân Việt Nam. Được dịch ra nhiều thứ tiếng, có mặt trên nhiều châu lục, những năm qua, Đất nước đứng lên không chỉ là người giới thiệu cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam mà còn giúp củng cố lòng tin của nhân dân thế giới vào thắng lợi tất yếu của nhân dân Việt Nam và nó còn mang tới cho những ai cùng cảnh ngộ Việt Nam niềm tin vào bản thân, vào thắng lợi cuối cùng của họ.

Những năm sau khi viết Đất nước đứng lên, làm Biên tập viên ở tạp chí Văn nghệ quân đội, anh đã có dịp đi nhiều nơi trên miền Bắc đang nô nức trong không khí lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong nhiều sáng tác anh viết thời kỳ này, tập truyện ngắn Rẻo cao cho đến nay vẫn được coi là một tập truyện ngắn hay viết về đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc.

Nhưng miền Nam, một nửa nước thân yêu đang trong vòng kìm kẹp của quân thù. Từ nơi đó ngày ngày bay ra biết bao tin tức đau lòng. Anh đã chịu đựng những năm tháng nặng nề đó. Và dấu vết của nó còn để lại trong vài sáng tác chân thành xúc động song có chiều bi phẫn: Mạch nước ngầm. Rồi miền Nam sau những năm dài chịu đựng và tích tụ căm hờn đã vùng lên Đồng khởi. Tình thế mới đòi hỏi sự chi viện của miền Bắc. Gần như chỉ chờ có thời cơ đó, cùng với Nguyễn Ngọc Tấn tức Nguyễn Thi, năm 1962 Nguyên Ngọc lại khoác ba lô vượt Trường Sơn về lại với mảnh đất yêu thương cũ. Sẽ như một nhân vật trong Đất Quảng anh viết gần mười năm sau: anh bước vào cuộc chiến đấu giản dị, dứt khoát và ngay từ đầu rất thành thực.

Miền Nam sau Đồng khởi tình hình đang phát triển thuận lợi. Đến 1964 nông thôn nhiều vùng gần như đã được giải phóng hoàn toàn. Ngụy quyền đang bên bờ vực của sự sụp đổ. Không ngồi yên nhìn thất bại của lũ tay sai, đế quốc Mỹ đã leo thang chiến tranh.

Một buổi chiều vào đầu năm 1965, Nguyên Ngọc vừa đi từ Đèo Nhông- Bình Định trở về. Anh ngỡ ngàng khi qua Chu Lai, một làng quê bình thường đang được xây dựng gấp thành căn cứ quân sự. Hàng trăm trực thăng bay kín một vùng trời đổ xuống Chu Lai, điều gì đang xảy ra? Trở về căn cứ, anh được biết: Mỹ đã đổ quân ồ ạt vào miền Nam. Cuộc chiến tranh cục bộ đã bắt đầu như thế.

Ngay từ giờ phút đó, Đảng ta đã hạ quyết tâm đánh Mỹ, và bằng mọi hình thức tìm ra cách đánh Mỹ tốt nhất. Cũng từ đây, toàn bộ sáng tác của Nguyên Ngọc- từ nay ký tên là Nguyễn Trung Thành- sẽ tập trung vào đề tài mũi nhọn và khó biểu hiện nhất: đề tài đánh Mỹ, sẽ có chung một chủ đề chính và chỉ đào sâu chủ đề đó mà thôi, mẩu tin và bài báo, tùy bút và bút ký, truyện ngắn và tiểu thuyết đều tập trung tìm câu trả lời cho một câu hỏi lớn lao, bức xúc, nóng hổi: Bằng cách nào đây, bằng con đường nào đây, đánh ngã kẻ thù tàn bạo, đánh đổ con thú Mỹ để giữ quyền sống cho dân tộc, cho ta và cho bạn bè năm châu?

Đang phụ trách tờ báo của Quân khu, và tờ Tạp chí văn nghệ của lực lượng văn nghệ giải phóng, anh xin tham gia vào đoàn cán bộ đi chuẩn bị cho một đơn vị đánh Mỹ trận đầu, để tìm ra cách đánh Mỹ và cũng để khẳng định Mỹ có thể đánh được, thắng được, dù chúng có được trang bị vũ khí tối tân hiện đại hơn ta nhiều lần. Đó chính là trận Núi Thành. Ở đó, một đại đội Quân giải phóng đã diệt gọn một đại đội Mỹ bằng lối đánh gần. Tuy vào trận, những tên Mỹ chết vì lê không nhiều nhưng chính trận đầu này đã đẻ ra hình tượng người Dũng sĩ diệt Mỹ với lưỡi lê đầu súng, sẽ thành nỗi khiếp đảm của quân đội Mỹ ở miền Nam. Góp phần tạo dựng nên hình ảnh khái quát đó có những bài báo của Nguyễn Trung Thành.

Những ngày chuẩn bị cho trận đánh, công tác chính trị đang cần một lời kêu gọi, một lời động viên, ban ngày bận công tác, trong hai đêm anh viết xong bài báo động viên, đó là bài tuỳ bút Đường chúng ta đi, lần đầu tiên giới thiệu với bạn đọc bút danh Nguyễn Trung Thành. Với giọng chính luận trữ tình đằm thắm, thiết tha, với những suy tư bay bổng nhưng chín chắn và điềm tĩnh, qua lời người chiến sĩ trước đêm vào trận, anh nhìn lại con đường phát triển của cách mạng miền Nam: Mười năm sống mái với quân thù, chúng ta mở lấy một lối đi. Lòng đầy tin tưởng, sáng suốt và quyết tâm, sẵn sàng đón nhận mọi sự hy sinh, anh chiến sĩ thanh thản chờ giờ nổ súng để xông lên, bởi vì anh đã biết rõ tính mệnh riêng của anh dù thế nào mặc lòng, thì thắng lợi cuối cùng của cách mạng miền Nam là điều chắc chắn. Không chỉ các chiến sĩ dự trận đánh Núi Thành năm ấy mà nhiều lớp thanh niên trên hai miền đất nước đọc bài tuỳ bút ấy, hay học nó trong chương trình văn học ở nhà trường, đã mang nguyên vẹn tâm tư và tình cảm nồng cháy thiết tha ấy ra mặt trận.

Trong trạng thái tình cảm thiêng liêng nghĩ về giá trị những ngày đang sống: Là ngày hôm nay, là giờ phút bây giờ nhưng lại cô đọng, lại chất chứa, lại tràn đầy có khi hàng ngàn năm quá khứ và biết mấy tương lai ấy, anh viết khá nhanh truyện ngắn về một làng Tây Nguyên Đồng khởi, đó là truyện Rừng Xà nu. Qua câu chuyện một người du kích về thăm làng, có bàn tay mà mỗi ngón đều bị cụt một đốt, câu chuyện cũ được kể lại để chúng ta hiểu về lý do của ngày Đồng khởi. Đồng khởi chính là sự bùng nổ của những hờn câm chất chứa từ lâu bởi những tội ác vô cùng man rợ của kẻ thù, và bởi: Chúng nó đã cầm súng, chúng mình phải cầm giáo. Câu chuyện bi tráng ấy đã xảy ra ở một làng có giống cây đặc sắc là Xà nu. Mọc thành rừng dáng hùng vĩ, kiên nghị và hiên ngang trên núi cao chỉ có nó với mây trời. Rừng Xà nu uỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng. Cũng như con người ở đây, nó chịu đựng bom đạn với một sức sống phi thường: Nó sinh sôi nảy nở. Cạnh một cây ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, như thế hệ trẻ nối tiếp cha anh đứng vào đội ngũ đánh giặc. Được viết với một bút pháp chặt chẽ, chất tượng trưng quyện chặt với đời thực, cô đúc lại từ một khối vốn sống phong phú nhiều mặt làm cho truyện ngắn đạt đến mức súc tích. Có những người anh quen biết tưởng đã đi qua trong cuộc đời, chìm sâu trong ký ức, bỗng hiện lại sinh động lung linh và đi vào tác phẩm hồn nhiên giản dị. Chất thơ bi tráng, sức khái quát hàm súc làm cho Rừng Xà nu giữ một vị trí đặc biệt trong sáng tác của anh. Truyện ngắn này đã được tặng giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội văn nghệ Giải phóng.

Những năm ở chiến trường, trước hết anh là một cán bộ chính trị. Mặc dầu như chính anh nhận xét: Ở đây văn nghệ ra đời trong đấu tranh và tồn tại như một vũ khí, văn nghệ có lúc thiết yếu như cuộc sống, dù vậy, hoặc chính vì vậy mà thì giờ dành riêng cho sáng tác là hầu như không có. Ngoài việc chăm lo thường xuyên cho việc ra tờ báo của Quân khu mà trong đó anh sẵn sàng viết từ bài xã luận đến một mẩu tin- và tờ tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng, với cương vị lãnh đạo văn nghệ của Quân khu, anh phải dành nhiều thời gian cho việc xây dựng đội ngũ, bồi dưỡng người viết, trực tiếp giảng bài cho học viên ở các lớp bồi dưỡng mở tại nhiều địa phương khác nhau. Với cương vị người cán bộ chính trị, người ta lại thấy anh có mặt góp ý kiến cho các đội quân chính trị sắp kéo vào đấu tranh trong thành phố ở đơn vị này, lại hăng hái tham gia thảo luận phương án tác chiến của một đơn vị khác. Khi về hậu cứ, cũng như mọi cán bộ khác, anh lo phát rẫy tăng gia tự túc, gùi gạo, đào hầm, làm nhà, biên tập bài vở và giải quyết hàng loạt công việc sự vụ của người thường trực cơ quan văn nghệ. Thời gian dành cho sáng tác văn học của anh, vì thế bao giờ cũng chỉ là những mảnh vụn ít ỏi gom nhặt giữa những nhiệm vụ khẩn thiết khác. Có thể nói chính anh đã chủ động chọn cách sống như thế. Hết sức coi trọng tác dụng của văn học và vị trí xã hội của nhà văn, anh không muốn và không thể chấp nhận quan niệm nhà văn chỉ đi vào cuộc sống để thu lượm tài liệu, quan sát thực tế cho tác phẩm của mình. Cao hơn trang sách, mục đích của mọi trang sách vẫn là thắng lợi trong cuộc sống, và anh có ý thức tự mình trực tiếp tham gia vào mọi diễn biến của cách mạng, tự mình thể nghiệm những vấn đề mình sẽ viết.

Năm 1970, khi cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn cực kỳ quyết liệt là đương đầu với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Nguyên Ngọc tìm về sống ở vùng tranh chấp ác liệt: Vành đai ngoại vi Đà Nẵng. Được phân công tham gia vào Huyện uỷ Điện Bàn, anh trực tiếp theo dõi phong trào ở ba xã vùng ven Đà Nẵng. Trong những dịp như thế, anh thể nghiệm và kiểm tra lại những trang viết của mình. Cũng từ đó anh hình thành những dự định, những ý đồ sáng tác. Với anh, mỗi tác phẩm là một công trình nhận thức, một phát hiện về những vấn đề cốt tử của cách mạng, vừa biểu hiện chân thực cuộc sống, nó phải giúp vào quá trình phát triển đó. Nhiều sáng tác của anh có sức hấp dẫn của một hiện thực đang phát triển, của một xu thế mà thực tế đang chờ câu trả lời. Một số tác phẩm của anh viết ở giai đoạn này phải bỏ dở cũng vì thế. Tiểu thuyết Thép mãi mãi dừng lại phần đã in Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc bởi vì vấn đề ý chí con người có thể đánh bại vũ khí hiện đại đã được chính cuộc sống giải quyết. Năm 1968, anh viết tập bút ký dài Đất lửa nhưng rồi lại nửa chừng bỏ dở. Thực tế phong phú và phức tạp của giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh không thể gói trọn được tập bút ký. Tiểu thuyết, chỉ có tiểu thuyết với sức bao quát và khái quát cao của nó mới có hy vọng ghi giữ được hiện thực lớn lao ấy. Mặc khác, với sự nhạy cảm nghề nghiệp, anh cảm thấy rõ, đã đến lúc nền văn học giải phóng phải có những sáng tác có thể đánh dấu sự trưởng thành của mình. Gần như cùng lúc với hàng loạt nhà văn quân đội, giữa những ngày chiến sự đang xảy ra căng thẳng ở ngay khu vực đóng cơ quan, anh hăng hái bắt tay vào viết tiểu thuyết Đất Quảng. Bọn sư dù 101 của Mỹ đang đánh lên hậu cứ, viết xong từng chương lại phải di chuyển chỗ ở, nhưng anh viết rất nhanh. Tập một được hoàn thành vào nửa đầu năm 1969.

Góp phần thể hiện và phát hiện về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, tiếp tục những Đất nước đứng lên, Rừng Xà nu, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất lửa, trong cuốn tiểu thuyết này, Nguyên Ngọc lại hào hứng và say sưa tìm về những biểu hiện mới của lòng yêu quê hương, lòng trung thành, sự kiên định vững vàng và sáng suốt về chính trị cũng như tình cảm của những người cách mạng. Bọn ác ôn, những tên xâm lược được thể hiện khá sâu sắc, có sự phân tích tâm lý khá kỹ lưỡng, bởi vì bản chất của kẻ thù là một đối tượng quan trọng của nhận thức, nếu muốn đánh thắng chúng. Những nhân vật mang đầy đủ phẩm chất anh hùng, là chiến sĩ cách mạng hay quần chúng cách mạng có tính chất truyền thống- một cụ già, một phụ nữ, một em bé và những người du kích- được dựng nên với một sức biểu hiện mới mẻ. Những hoàn cảnh hùng tráng bi thương họ phải trải qua, bức tranh xã hội rộng lớn, cùng những thời điểm lịch sử quan trọng mà cuốn tiểu thuyết phản ánh với một lối hành văn trong sáng, một cấu trúc nghiêm ngặt xen những đoạn trữ tình ngoại đề theo lối anh hùng ca, mang lại cho cuốn tiểu thuyết cái dáng dấp của một tác phẩm sử thi.

Nhưng hơn mười năm sau khi xuất hiện, cuốn tiểu thuyết vẫn dừng ở tập 1. Có lý do thuộc về quan niệm sáng tác cũng như cách thể hiện cuộc sống của nhà văn: Anh không quen để cuộc sống vượt quá xa tác phẩm của mình. Mà bản thân thực tiễn giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh đòi hỏi một sự thể hiện và lý giải phức tạp, tinh tế hơn. Cắt nghĩa làm sao đây khi nguyên mẫu các nhân vật chính diện quay ra phản bội, chiêu hàng, thoái hoá? Mặc khác về hoàn cảnh khách quan, sau khi hoàn thành tập 1, tác giả lại phải lao vào tham gia nhiều hoạt động quan trọng khác: 1972, đi làm nhiệm vụ chính trị mặt trận này xong, lại tham gia chiến dịch khác với cương vị tham mưu trưởng. Hai công việc khác nhau đó và có vẻ rất xa với cương vị một nhà văn đều nằm trong khả năng thực tế của một người đã ba mươi năm mặc áo lính và với thói quen sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được cách mạng phân công.

Có một điều ngỡ như nghịch lý, những ai theo dõi bước đường sáng tác của Nguyên Ngọc đều nhận thấy một đặc điểm là nhà văn mà mỗi sáng tác đều được viết với một ý định chính trị rất cụ thể, mỗi tác phẩm đều muốn làm một vũ khí chiến đấu này lại là nhà văn rất chú trọng đến hình thức. Anh quan niệm: Sáng tạo ra hình thức là thuộc bản chất của nhà văn. Một sáng tạo mới chưa thể ra đời nếu đi liền với nó chưa có một cách thức biểu hiện mới. Một lý do của nhiều sáng tác phải bỏ dở, đó là lúc anh cảm thấy mình đang bị quen tay, đang tự lặp lại mình, đang đi vào một lối mòn, dù lối mòn đó là lối của riêng mình anh đi. Có thể sáng tác sau không hay hơn cái trước, bởi vì không phải nhà văn nào cũng có cái may mắn lớn là biểu đồ giá trị các tác phẩm theo một đường đi lên mãi mãi- nhưng sáng tác sau phải khác những gì đã viết trước đó. Nhìn lại toàn bộ sáng tác của mình, anh nhận thấy: Chưa có một tác phẩm nào của anh được viết ra với ý định làm văn học. Hầu như lúc nào anh cũng phải viết vội để phục vụ một nhiệm vụ cụ thể nào đó.

Nhưng công bằng mà nói, người tự đánh giá mình nghiêm khắc đó đã cho ra mắt bạn đọc nhiều sáng tác giàu tính văn học hơn một vài người chỉ nhăm nhăm nghĩ đến sáng tác những tác phẩm văn học.

Sau một thời gian bận mắc nhiều vào công tác tổ chức, không khí hào hứng sáng tạo mở ra sau các đại hội lớn của các ngành văn học nghệ thuật đang tạo nên một cao trào sáng tác mới. Trong cuộc ra trận lớn lao tới những miền đất đang đầy biến động hôm nay, cùng với các nhà văn khác, bạn đọc chờ đón những sáng tác mới của anh.

(Văn nghệ Quân đội Số 5- 1984)
Nguồn: Báo điện tử Tổ Quốc