Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Nông nghiệp là giá đỡ, là động lực cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế


DAYVAHOC. TS. Đặng Kim Sơn. Các ngành sản xuất của ta luôn nhập siêu, chỉ riêng ngành nông nghiệp luôn xuất siêu, dù rất khó khăn. Đồng thời, chính nông nghiệp đã nhiều lần cứu kinh tế, giúp ổn định chính trị. Nông nghiệp là giá đỡ, là động lực cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế. Bài học nhãn tiền về các nền kinh tế chuyển sang công nghiệp hóa thành công đã đầu tư cho nông thôn và nông nghiệp mạnh, trao quyền cho nông dân. Đặc biệt, không thể chấp nhận phương án hi sinh nông nghiệp lúc đầu để phát triển các ngành khác, vì sự hi sinh lúc đầu đó mang lại những hậu quả nặng nề, không thể cứu vãn được về sau. Cần phải gắn kết nông thôn và đô thị, nông nghiệp với thị trường; Đổi mới chính sách đất đai, mở rộng giới hạn thời gian và không gian; Phát triển tiếp thị; Phát triển khoa học kĩ thuật; Thực hiện dạy nghề, tổ chức lao đông hiệu quả, chuyên môn hóa, chính thức hóa lao động. (Ảnh: Theo site của Nguyễn Nam Sơn)

PHẢI NHÌN NHẬN NÔNG THÔN LÀ VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ

TS. Đặng Kim Sơn

Tại đại hội XVI năm 2002, Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu lý luận "hai xu hướng"."Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, nông nghiệp hỗ trợ công nghiệp, tích lũy cho công nghiệp là xu hướng có tính phổ biến. Sau khi công nghiệp hóa đạt trình độ nhất định, công nghiệp trở lại nuôi sống nông nghiệp, thành thị hỗ trợ nông thôn, thực hiện phát triển nhịp nhàng giữa công nghiệp và nông nghiệp, thành thị và nông thôn, cũng là xu hướng có tính phổ biến." Cũng trong năm đó, Bí thư đảng ủy xã Lý Xương Bình viết thư lên Thủ tướng Chu Dung Cơ: "Nông thôn thật nghèo, nông dân thật khổ, nông nghiệp đang gặp nguy hiểm".

Đến năm 2004, Trung Quốc bắt đầu đặt lại vấn đề: câu chuyện đi theo 2 bước có ổn không? Từ đó, vấn đề nền kinh tế hài hòa được đưa lên. Câu trả lời rõ ràng ở hầu hết các nước đang công nghiệp hóa: đẩy công nghiệp và đô thị đi trước, chênh lệch thu nhập, đẩy đô thị̣ phình ra, cả vấn đề đô thị và nông thôn đều rất khó giải quyết.

Nông dân nghèo bị lôi kéo vào các cuộc chiến về tôn giáo, sắc tộc. Chính sách công nghiệp - nông nghiệp chênh lệch, tạo ra giai đoạn đầu phat triên nhanh, sau đó đến mức 3 - 4 ngàn USD thì chững lại, nảy sinh bất ổn chính trị. Đây là một quy luật không thể tránh khỏi, dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở châu Mỹ La tinh, Đông Nam Á, Nam Á... bạo lực, sắc tộc, phá hại môi trường, bất ổn chính trị.

Điều đó cho thấy, câu chuyện về nông nghiệp và nông thôn không chỉ là vấn đề kinh tê, nó đã là vấn đề chính trị̣

Vòng luẩn quẩn nông thôn - thành thị

Ở Việt Nam, hịện nay có ba kiểu nhận thức chính về nông nghiệp: (1) Nông nghiệp là lĩnh vực lạc hậu, muốn kinh tế phát triển phải tăng công nghiệp, sau này thị trường sẽ giải quyết mọi vấn đề cho nông nghiệp, nông thôn. (2) Nông nghiệp là mầm mống bất ổn, tranh chấp ruộng đất, dân tộc ít người, nhà nước phải thắt chặt quản lý nông dân, nông thôn và tài nguyên (3) Nông nghiệp nông dân là thiệt thòi, cần phải trợ cấp nhân đạo hơn là cần đưa nông nghiêp phát triển chủ động.

Quan điểm thứ 1 đã bộc lộ rõ sai lầm khi nhiều lần liên tiếp nông nghiệp cứu cả nền kinh tế, làm chỗ dựa cho công nghiệp và dịch vụ phát triển.

Quan điểm thứ 2 đổ lên chính quyền địa phương trách nhiệm quá nặng nề, dẫn đến quá tải - tăng biên chế- phình to bộ máy hành chính.

Quan điểm thứ 3 tạo nên những phản ứng tiêu cực trong nông dân, làm nên cái gọi là "Bệnh Sóc Sơn" (một vùng nghèo thuộc Hà Nội). Khi đó, những người ở vùng nghèo, quen được trợ cấp lớn, dân chỉ ngồi đợi dự án, có tiền thì tiêu phí. Thậm chi, có nghịch cảnh gia đình có tivi, xe máy đầy đủ nhưng... không có giường, vì không có tổ chức nào... cho giường.

Chi tiêu công cho nông nghiệp ở Việt Nam thấp thê thảm. Năm 2006, thu nhập trung bình 506 ngàn/người/tháng, mức tích lũy 5 triệu /hộ gia đình/năm.

Năng suất lao động thấp, dù tốc độ tăng trưởng cao gần nhất thế giới - tức chỉ huy động sức người, đất đai, chứ không phải dựa vào khoa học công nghệ.

Người nông dân cùng lúc đối mặt với nguy cơ mất đất, mất nước, vật tư phân bón tăng theo giá dầu thế giới, chính sách đất đai bất cập, nông lâm trường kém hiệu quả (hơn 4 triệu ha, trong khi toàn dân chỉ có hơn 9 triệu ha), đầu tư thấp, giá đầu vào tăng liên tục.

Nông dân khó khăn dẫn đến di cư tự phát, tham gia vào thị trường lao động không hoàn thiện, việc làm chính thức bất công, việc không chính thức rủi ro. Các thành phố lớn nơi có đông người đổ về lại xảy ra tắc nghẽn giao thông, lụt lội - đầu tư công lại đổ vào để giải quyết - kéo đến đầu tư chênh lệch giữa hai khu vực thành thị và nông thôn.

Trong khi đó, ở nhiều vùng nông thôn, đất đai bỏ hoang hóa. Ở lại chỉ là cộng đồng nông thôn yếu ớt - gánh nặng cho chính quyền địa phương - tăng biên chế - phình to bộ máy hành chính.

Ở vùng nông thôn thiếu điện, thiếu nước, giao thông kém, không thể lôi kéo doanh nghiệp về đầu tư.

Vòng luẩn quẩn này khiến cho vấn đề nông thôn trở nên rối ren hơn bao giờ hết, và xảy ra ở khắp nơi như Ấn Độ, Nam Mỹ, Philippines, Thái Lan...

Số phận của nông nghiệp có phải là "đáng chết"?

Câu hỏi đặt ra là, vậy nền nông nghiệp nước ta có sức mạnh thật sự không? Số phận của nó có phải là "đáng chết" không? Liệu rằng nó có phải như cách kết luận của ba loại quan điểm nói trên hay không? Câu trả lời nằm trong thực tế.

Suốt 22 năm sau đổi mới, nền kinh tế nước ta đã ba lần gần rơi vào khủng hoảng. Lần thứ nhất vào cuối năm 1988, chính sách khoán 10 đã khiến cho nông nghiệp đứng thẳng dậy, phát triển như vũ bão, làm chỗ dựa cho cả công nghiệp, dịch vụ vượt qua khó khăn.

Lần thứ 2 là cuối những năm 1990, khu vực Đông Nam Á khủng hoảng, cả công nghiệp và dịch vụ đều suy thoái, nhưng nông nghiệp nước ta vẫn tăng trưởng rất tốt, những người bị dội lại từ công nghiệp lại về với nông nghiệp để kiếm sống.

Lần thứ 3 là năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu, cả công nghiệp và dịch vụ lại suy giảm mạnh, nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng cứu nền kinh tế.

Giả sử, nếu năm 2008, nông nghiệp mất mùa, thì dẫu chúng ta có thực hiện nhóm 8 giải pháp của Chính phủ tốt đến bao nhiêu, chỉ số giá cả cũng không thể giảm như thế được. Đó là công lớn của ngành nông nghiệp. Lần này, nông dân đã cứu cho đất nước một lần nữa, nhưng bản thân nông dân thì "bị thương nặng".

Nếu cứ thế này, trong những cuộc khủng hoảng tới, lấy gì đỡ đòn cho nông dân?

Dễ thấy là hầu hết các chỉ tiêu xếp hạng của chúng ta đều là ở mức thấp nhất thế giới, nhưng ta lại thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất thế giới. Bởi vì nền nông nghiệp phát triển, kinh tếnông thôn ổn định đã cung cấp đủ lương thực thực phẩm toàn dân tạo giá nhân công rẽ, công tác xóa đói giảm nghèo tốt, tài nguyên môi trường thuận lợi dễ dàng và quản lý lõng lẻo (lấy đất đi, đổ ô nhiễm về).

Các ngành sản xuất của ta luôn nhập siêu, chỉ riêng ngành nông nghiệp luôn xuất siêu, dù rất khó khăn. Đồng thời, chính nông nghiệp đã nhiều lần cứu kinh tế, giứp ổn định chính tri. Nông nghiệp là giá đỡ, là động lực cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế.

Bài học nhãn tiền về các nền kinh tế chuyển sang công nghiệp hóa thành công đã đầu tư cho nông thôn và nông nghiệp mạnh, trao quyền cho nông dân. Đặc biệt, không thể chấp nhận phương án hi sinh nông nghiệp lúc đầu để phát triển các ngành khác, vì sự hi sinh lúc đầu đó mang lại những hậu quả nặng nề, không thể cứu vãn được về sau.

Cần phải gắn kết nông thôn và đô thị, nông nghiệp với thị trường; Đổi mới chính sách đất đai, mở rộng giới hạn thời gian và không gian; Phát triển tiếp thị; Phát triển khoa học kĩ thuật; Thực hiện dạy nghề, tổ chức lao đông hiệu quả, chuyên môn hóa, chính thức hóa lao động.

Đặng Kim Sơn
(Trình bày tại hội thảo Nông nghiệp, Nông thôn Việt Nam -
Vai trò, vấn đề, giải pháp, Viện IDS ngày 09/01/2009)

Linh Thủy ghi
TUANVIETNAM

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2009

Việt Nam: Giáo dục đại học và Kỹ năng cho tăng trưởng


GS. Võ Tòng Xuân

Từ nhiều năm nay, Ngân hàng thế giới (NHTG) đã đầu tư cho giáo dục Việt nam qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu đôla. Nhưng tình trạng giáo dục của Việt nam vẫn còn nhiều bất cập khiến cho xã hội tiếp tục phê phán. Vừa qua một số chuyên gia giáo dục của Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Nam Á và Thái bình dương thuộc Ngân Hàng Quốc Tế đã cùng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt nam điều tra nghiên cứu sâu rộng tình trạng giáo dục đại học của Việt nam để tìm hiểu những mặt mạnh và mặt yếu so với những tiêu chuẩn quốc tế, từ đó có thể đề xuất những hướng cần chỉnh sửa. Báo cáo “Việt Nam: Giáo dục đại học và Kỹ năng cho tăng trưởng” đã được xuất bản vào tháng 12-2007.


Báo cáo đã nghiên cứu toàn bộ hệ thống đào tạo nhân lực bậc đại học của Việt nam, từ phía cung cấp –cách tiếp cận giáo dục, chất lượng đào tạo, cơ chế quản lý và cơ chế tài chính- đến phía sử dụng các nguồn nhân lực do hệ thống giáo dục đã đào tạo ra. Các tác giả đã đánh giá khá chính xác hiện trạng và cả chiến lược giáo dục Việt nam đến năm 2020, so sánh những gì Việt nam đang làm với những gì mà các nước láng giềng Đông Á đang làm một cách tiến bộ hơn để trên cơ sở đó Báo cáo đưa ra những kiến nghị thực tế, hy vọng sẽ đưa nhanh những cải tiến giáo dục Việt nam theo kịp thế giới. Mặc dù các tác giả đã nhìn thẳng vào các mặt khó khăn của giáo dục đại học Việt nam, nhưng vẫn còn một số mặt “chìm” nhưng rất quan trọng chưa được đề cập đến, cho nên những kiến nghị của Báo cáo sẽ khó được thực hiện nếu chưa khắc phục được những mặt chìm này.

Trong Phần I, Báo cáo đã đánh giá hiện trạng giáo dục Việt nam không chỉ ở bậc đại học mà còn đi từ bậc phổ thông, là bậc học cơ bản nhất tạo nguồn cho các đại học và trường dạy nghề sau này. Nhưng khối trường dạy nghề thì ít được đề cập đến. Tôi rất nhất trí với nhiều nhận định trong báo cáo, trừ một số điểm sau:

Viễn cảnh chuyển dịch lao động đã được nghiên cứu và giả thiết theo 3 tình huống tăng trưởng, và cơ cấu lao động không chỉ chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, nhưng tỉ lệ chuyển sang khu vực dịch vụ (nhất là xây dựng) ngày càng đông hơn. Dự kiến lao động nông nghiệp sẽ giảm nhưng cũng nên nói thêm ở đây là sắp đến, Luật đất đai của Việt nam phải được sửa đổi nhiều điều, trong đó vấn đề “hạn điền” 3 ha/hộ phải được bỏ đi, hoặc tăng lên ít nhất 50 ha, vì nếu hạn điền nhỏ quá, tức là nhà nước vẫn còn muốn giữ phần lớn nông dân bám lại đồng ruộng.

Nhu cầu nhân lực có đào tạo, ngoài những khoản đã được Báo cáo nêu ra, nên chú ý là Việt nam sẽ cần một lực lượng đông đảo chuyên viên tiếp nhận và triển khai các chương trình ODA để tránh tình trạng sử dụng ODA kém hiệu quả như hiện nay.

Ở nông thôn, không phải chỉ vì không có trường học khang trang và thầy cô giỏi, hoặc vì gia đình quá nghèo, mà người dân bỏ học nhiều, khiến cho nhà nước hàng năm phải bỏ ra hàng ngàn tỉ đồng để xoá mù cho những người còn mù và bị tái mù, và phổ cập tiểu học và THCS. Một lý do rất cơ bản mà qua tiếp xúc với đông đảo nông dân chúng tôi khám phá ra rằng họ trông vào tấm gương những người tuy học thức chưa đến đâu, nhưng vẫn có chức có quyền, vẫn được coi trọng. Báo cáo (tuy đã có đề xuất ở phần kết luận) nên nêu thực trạng là về phía “cầu” (những cơ quan sử dụng lao động) hiện nay chưa tuân thủ qui trình tuyển dụng hợp lý, họ còn đặt quá thấp tiêu chuẩn bằng cấp/chứng chỉ chuyên môn đào tạo, mà đặt nặng các tiêu chuẩn quen thân, lý lịch, chính trị, tuổi tác… nên nhiều nhân tài không được sử dụng. Đây là một sự lãng phí của một xã hội luôn nói câu “nhân tài là nguyên khí của quốc gia.”

Tự chủ tài chính (theo QĐ 10): thực chất không cho các trường tự chủ bao nhiêu đâu! Muốn chi tiêu cho cái gì, bao nhiêu… đều phải theo đúng qui định tài chính, Hiệu trưởng không sáng kiến tự quyết định được. Thậm chí trả tiền làm thừa giờ (overtime) Hiệu trưởng cũng không quyết định mức thù lao công bằng.

Đảm bảo chất lượng đào tạo trước tiên phải xuất phát từ con người: từ người lãnh đạo nhà trường (Hiệu trưởng) đến các giáo viên không thể để tự nhà trường lo được vì Bộ GD ĐT phải có chủ trương đào tạo giảng viên đại học, chấm dứt tình trạng giảng viên các trường lớn “chạy sô” mời giảng cho các trường mới mở. Có lẽ đây là khâu yếu nhất, vì kiểm định chất lượng chỉ có thể đạt mục đích khi trường có đội ngũ giảng viên được đào tạo đầy đủ mà thôi. Tình trạng cho mở trường nhiều nơi nhưng danh sách giảng viên phần lớn là vay mượn của các trường khác ngày càng trở nên một nguy cơ thách thức đến chất lượng đào tạo.

Một sự mất cân đối nữa về chất lượng đội ngũ giảng viên của các trường đại học Việt nam là thực trạng các Giáo sư, Phó giáo sư chỉ tập trung ở các trường lớn tại Hà nội, và TP Hồ Chí Minh, thậm chí tập trung vào các Viện/Trung tâm nghiên cứu của các Bộ ngành. Rất thương hại cho các trường ở vùng sâu, xa, và các trường mới được cho thành lập không dễ gì có được GS/PGS về cộng tác.

Về chương trình đào tạo và phương pháp sư phạm: đúng ra, chương trình khung do Bộ GDĐT ban hành đều để cho các trường linh động khoảng 20% số môn học tuỳ địa phương. Nhưng trong thực tế các trường không muốn đi quá xa những gì Bộ chì đạo, nhất là các chương trình đào tạo sư phạm. Thực tế số đơn vị học trình của một chương trình khung của Bộ được bố trí khoảng 210 đến 240 cho cả 4 năm, trong khi ở các nước chung quanh, và ở Mỹ chỉ bố trí khoảng 120 đơn vị tín chỉ. Vì vậy số giờ lên lớp của sinh viên đại học Việt nam chiếm phần lớn thời gian của sinh viên, không cho phép họ thực tập tay nghề thoả đáng. Với khối lượng giờ dạy và học như thế, nếu áp dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm thì sẽ không đủ thì giờ cho tất cả các nội dung.

Một điểm yếu về chương trình đào tạo nữa là bộ chuẩn kiến thức các môn học ở mỗi bậc học (standards of knowledge) ít được phổ biến rộng rãi cho tất cả các thầy cô, nhất là ở bậc phổ thông, mà trái lại Bộ đẩy mạnh phổ biến sách giáo khoa do Bộ xuất bản mà thôi. Đây không chỉ là một cách làm độc quyền, mà tai hại hơn nữa là nó triệt tiêu các sáng kiến của các thầy cô, không dám làm gì khác hơn quyển sách giáo khoa.

Báo cáo phê phán rất đúng tình trạng yếu kém trong nghiên cứu khoa học của phần lớn các đại học Việt nam. Điểm cần phân tích ở đây không những chỉ Nhà nước không quan niệm là đại học phải làm nghiên cứu (nên nhà nước mới lập ra các Viện/Trung tâm nghiên cứu nằm ngoài hệ thống đại học) vì thế ít chịu đầu tư cho đại học, tôi xin thêm: là đội ngũ GS/PGS, giảng viên lãnh đạo khoa học hiện nay phần lớn là sản phẩm của giáo dục Liên Xô cũ nên phương pháp tiếp cận khoa học theo chuẩn quốc tế còn bị hạn chế, cho nên từ cách làm nghiên cứu đến cách viết bài báo cáo cũng không gần với chuẩn quốc tế, nhất là cách sử dụng xác suất thống kê để phân tích dữ liệu. Ngay cả cơ quan chuẩn nhất về khoa học công nghệ của Việt nam là Bộ KHCN, mẫu đăng ký đề tài KHCN cũng không theo chuẩn quốc tế. Vì thế khi các GS/PGS và giảng viên làm NCKH hoặc hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu thường mắc phải kiểu làm không chuẩn này nên bài báo cáo khó vượt qua được phản biện quốc tế. Do đó ít có bài báo được tạp chí khoa học quốc tế đăng.

Phương pháp không đạt chuẩn là thế, nhưng qui trình đào tạo cao học và NCS lại rất nhiêu khê, chất lượng kém, vì các qui định của Bộ GD ĐT. Khi nghiệm thu đề tài luận văn tốt nghiệp, mỗi nghiên cứu sinh phải tốn kém lắm mới mời được toàn bộ các thành viên của hội đồng nghiệm thu ngồi lại duyệt.

Về vấn đề NCKH tách rời trường đại học và các Viện/Trung tâm nghiên cứu của các Bộ ngành, có một nghịch lý muôn đời: trường đại học cần nghiên cứu kiến thức mới để bổ sung giáo trình và đào tạo sinh viên bằng những kiến thức mới và phù hợp địa phương…thì cơ chế nhà nước lại không ưu tiên cho kinh phí đầu tư máy móc, trang thiết bị, và đi học hoặc tu nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, Viện/Trung tâm không có (hoặc có vài) sinh viên và không bắt buộc phải lên lớp, thì lại được Nhà nước (Bộ ngành) đầu tư thiết bị hiện đại, đi tham quan, du học, kéo viện trợ ODA về để có kinh phí lớn cho NCKH.


Tôi rất nhất trí với nhận định của các tác giả là hệ thống đại học Việt nam hiện nay chưa đạt đến trình độ là nơi ươm mầm của những sáng tạo công nghệ, vì một lý do rất dễ hiểu là kinh phí đầu tư cơ sở vật chất cũng như cơ chế cung cấp tài chính cho nghiên cứu khoa học còn rất nhiêu khê. Hệ thống đào tạo của Việt nam hiện nay, từ chương trình đào tạo quá nặng nề (quá nhiều môn học lý thuyết, nhiều môn học không quan trọng cho ngành chuyên môn, gấp đôi thời gian lên lớp so với sinh viên các nước khác), đến cách dạy chủ yếu vẫn là đọc-chép (vì dạy theo kiểu mới như “lấy người học làm trung tâm” sẽ bị cháy giáo án), cho nên không phát huy tính sáng tạo, suy nghĩ độc lập của người học. Trong khi đó, nhất là đối với những sinh viên xuất sắc, nhu cầu học cấp bách những kỹ năng cao cấp ngày càng tăng, nhưng bị hệ thống giáo dục kìm hãm, không phát huy được. Mọi sinh viên phải chờ nhau cùng đi lên chậm chậm, người muốn đi nhanh không có cách gì để đi trước được. Trong khi đó, hệ thống ở các nước chung quanh Việt nam đều đã chuyển. Một thí dụ thực tế chứng minh rất rõ ràng nhận xét trên: Cháu Trần Thanh Tâm, một nữ học sinh xuất sắc của tỉnh An giang, đã được học bổng Chánh phủ Singapore cho sang Singapo học lớp 10-12 theo hệ thống giáo dục quốc tế, đã đạt điểm A và A+ đối với tất cả các môn học. Tốt nghiệp trung học Singapo giỏi như vậy, cháu xin được học bổng của Đại học Cornell (Mỹ); sang đấy cháu học chỉ trong 3 năm (thay vì 4 năm) đã xong chương trình BS về Toán học chuyên về “Operations analysis” tốt nghiệp hạng Summa cum laude, giải thưởng xuất sắc nhất toàn trường Mỹ. Đồng thời cháu được trường Cornell cho học bổng để tiếp tục chương trình MS Toán học; và chỉ trong 18 tháng sau cháu đã lấy xong bằng Master. Trong khi đang học Master, cháu Tâm nộp đơn xin việc làm, thì được 4 công ty dịch vụ tài chính Mỹ nhận. Cuối cùng cháu Tâm chọn làm với Công ty Oliver Wyman Group (Financial Services) chi nhánh tại Singapo, lương khởi điểm 85.000 USD/năm, chưa kể tiền thưởng. Chắc chắn nếu cháu Tâm học THPT ở Việt nam, rồi ráng thi tuyển sinh vào một đại học nào đó, nếu đậu vào học thì cũng phải chờ 8 học kỳ trong 4 năm mới ra trường, rồi phải chờ một thời gian sau mới nộp đơn xin học cao học, tốn ít nhất 3 năm (mặc dù chính thức chỉ qui định 2 năm) với tất cả các môn học chánh trị Mác Lênin, đọc một số sách chuyên ngành toán, rồi làm luận văn tốt nghiệp, chờ ra bảo vệ trước Hội đồng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định. Khi bảo vệ thành công, ra trường rồi không biết cháu Tâm sẽ được công ty nào mướn? Chắc chắn sẽ không có công ty Việt nam nào biết đến cái ngành “Operations analysis” mà mướn người, ngay cả các công ty bảo hiểm của Việt nam cũng chưa chắc cần chuyên viên ngành ấy.


Hệ thống đào tạo sau trung học của Việt nam cũng chưa tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người có thể học, mặc dù các văn bản của Đảng và Nhà nước đều kêu gọi mọi người dân “học suốt đời.” Báo cáo cho rằng, trong hệ thống giáo dục hiện tại những thanh niên nghèo sẽ khó có thể với tới những cơ hội học tập. Nhưng tôi xin thêm rằng, ngay những thanh niên khá và giàu cũng khó với tới. Ngày nay nhiều gia đình giàu có cho con cái đi nước ngoài tìm cái học dễ có cơ hội hơn ở lại trong nước phải qua kiểu tuyển sinh giới hạn của Việt nam.

Báo cáo đã nghiên cứu “Đề án Đổi mới giáo dục đại học cho giai đoạn 2006-2020” của Chính phủ và đã nhận xét rất đúng là: các mục tiêu và chỉ tiêu đã đề ra nhưng không nêu rõ biện pháp thích hợp nào để thực hiện cho nhanh chóng đạt kết quả chắc chắn. Vì vậy các tác giả cũng đã đề xuất một số thiếu sót mà văn bản “Chiến lược” cần làm rõ để có thể đề ra biện pháp. Một số cái thiếu của “Chiến lược” là: tầm nhìn đến 2020, những kết quả (đầu ra) dự kiến sẽ đạt được và những hậu quả sẽ xảy ra. Trên cơ sở “tầm nhìn, đầu ra, hậu quả” đó, chúng ta mới xác định được môi trường nào sẽ khuyến khích mọi người tham gia thực hiện tầm nhìn đó, và những trở ngại nào cần vượt qua. Từ những lập luận đó các tác giả đã phác hoạ một log-frame cho giáo dục Việt nam rất thích hợp: về lâu dài hệ thống giáo dục phải là một động cơ thúc đẩy những hoạt động R&D trong toàn dân, phải là nơi cung cấp những nhân tài cao cấp, và phải là nơi cung cấp cơ hội cho sinh viên xuất sắc Việt nam. Thực hiện tầm nhìn ấy, các trường đại học Việt nam phải cung cấp cho mọi người dân nhiều loại hình đào tạo, nhiều ngành nghề đào tạo, nhiều phương pháp dạy và học, là nơi được cả nhà nước và tư nhân đầu tư, nơi có nhiều liên kết với các trường quốc tế, và nơi có những hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và nhiều doanh nghiệp. Muốn có những đầu ra như thế, các tác giả đã đến kết luận mà chúng tôi trong giới đại học đã từng kêu gào: phải có cơ chế tự chủ về quản trị điều hành bộ máy và thu nhận sinh viên, và sử dụng tài chính cho các trường.

Trong Phần 2, Báo cáo đã trình bày các kết quả rất tin cậy về điều tra lao động có đào tạo. Đây là tài liệu hữu ích cho các loại trường của Việt nam tham khảo.

Báo cáo đã sử dụng kỹ thuật tính toán tỉ lệ hoàn vốn trong đào tạo rất có ý nghĩa. Kết quả điều tra về tỉ lệ hoàn vốn lao động được đào tạo từ ngành nông nghiệp so với các ngành khác được các tác giả ghi nhận là tăng rất chậm, có lẽ do các đối tượng điều tra là nông dân và các cơ sở sản xuất nông nghiệp. Thực ra các sinh viên tốt nghiệp ngành nông nghiệp thường đi làm trong các tổ chức nhà nước và các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp.

Dĩ nhiên các kết quả điều tra này cần được đặt lên yêu cầu của các loại doanh nghiệp, và cần dự đoán nhu cầu trong 5-10-15 năm tới như thế nào đối với công nghiệp, xây dựng, các loại dịch vụ, và nông nghiệp. Cần thiết Bộ Lao động nên hàng năm thông báo nhu cầu các loại lao động ngành nghề để các trường lo tổ chức chương trình đào tạo và nhân dân biết chọn ngành học.

Trong phần đề cấp vấn đề “khoảng cách kỹ năng” đúng là hiện nay các nhà doanh nghiệp hoặc công ty nước ngoài vào đầu tư ở Việt nam thường khó tìm được người làm. Sinh viên tốt nghiệp đại học Việt nam có thể hay về lý thuyết ngành chuyên môn, và nói chính trị cũng hay, nhưng rất kém về thực hành, và càng kém về khả năng ngoại ngữ. Trong khi đó những người tốt nghiệp ngoại ngữ thì không biết gì về ngành kỹ thuật chuyên môn. Như trên đã nói, đây là cái yếu của giáo dục đại học Việt nam cần được nhanh chóng khắc phục, và cần được nhấn mạnh trong báo cáo này.

Trong Phần 3, Báo cáo xoáy mạnh vào cơ chế quản trị điều hành và giải pháp tài chính cho các trường đại học. Như đã nói ở trên, vấn đề đào tạo mới hoặc đào tạo lại lực lượng giảng viên cho các trường đại học là ưu tiên hàng đầu trong hoàn cảnh Việt nam hiện nay, trước khi nói đến việc kiểm định chất lượng. Bộ GD ĐT cần tạo điều kiện cho các trường, bằng chủ trương và chỉ đạo cho các trường “đàn anh” đào tạo bậc MS hoặc PhD cho các trường mới thành lập.

Chủ trương kiểm định chất lượng của Bộ đã được quán triệt, nhưng, như trên đã nêu, các trường mới thành lập sẽ khó có trường nào đạt chất lượng.

Vấn đề tự chủ quản trị và tài chính như NĐ 10/2002 thực tế nhà trường không tự chủ được bao nhiêu, mà phải qua phê duyệt của tài chính cấp trên. Tôi rất nhất trí với những nhận xét trong Báo cáo về các vấn đề quản lý nhân sự tại các trường đại học. Thực chất, Hiệu trưởng không có quyền cho ai nghỉ việc khi người đó thuộc biên chế nhà nước, và càng không có quyền gì thu nhận hoặc đề bạt cán bộ đầu ngành của trường. Đó là quyền của cấp trên cao hơn. Tương tự như vậy đối các việc khác, thí dụ như thay đổi chương trình đào tạo, đưa vào chương trình mới… mọi thứ phải được thông qua cấp trên.

Một đặc điểm của các trường đại học Việt nam mà tất cả các trường nước ngoài không có: đó là sự hiện diện của Đảng và các đoàn thể trong mọi hoạt động. Nhân viên của các đại học, từ hiệu trưởng đến người nhân công quét dọn đều không thể tập trung thời gian cho chuyên môn của mình, mà phải dành thì giờ tham gia các buổi hội họp đảng và đoàn thể, học các nghị quyết của trung ương, của Bộ, của địa phương, v.v. Sinh viên cũng phải dành thời gian để học như thế. Do đó chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật này để thấy mình phải cực lực gấp nhiều lần đồng nghiệp của mình ở các nước khác. Một thua kém về chuyên môn của mình cũng có thể là do quỹ thời gian của chúng ta phải phân chia ra quá nhiều việc khác nhau nên khó tập trung điêu luyện, thực hành chuyên môn.

Báo cáo cho rằng Việt nam nên xây dựng hệ thống giáo dục có nhiều loại hình đào tạo, có nhiều loại trường công và tư. Ý nghĩ sẽ có nhiều trường danh tiếng nước ngoài như RMIT vào đầu tư xây dựng tại Việt nam là điều sẽ khó xảy ra vì

Các trường danh tiếng đều làm mọi cách để thu hút sinh viên ngoại quốc sang chính quốc của họ. Do đó tôi nghĩ nếu có thì sẽ do các Việt kiều tâm huyết về đầu tư.

Những nhận xét khác của Báo cáo tôi rất đồng tình là: chủ trương cho qui chế dễ dãi hơn để tư nhân cảm thấy khuyến khích lập trường tư; chủ trương thay đổi phương pháp thu nhận sinh viên vào học (xét tuyển từ 2009); những phê phán về sự quản lý quá chặt chẽ của nhà nước đối với các hoạt động của trường; và thiếu một cơ chế để cho các trường cạnh tranh thu hút sinh viên về với mình để từ đó nhà nước phân bổ kinh phí, thay vì theo kiểu giao chỉ tiêu tuyển sinh.

Trong lãnh vực quản lý tài chính, tôi có một số nhận xét như sau:

Không phải các trường không được kiểm toán độc lập, mà thực tế là hàng năm đều có kiểm toán nhà nước đến trường kiểm toán.

Nhà nước đã có cơ chế khuyến khích tư nhân bỏ tiền đầu tư cho giáo dục để thể hiện chính sách xã hội hoá giáo dục. Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt nam vừa được ban hành có Điều 20 khuyến khích các mạnh thường quân, mọi tầng lớp dân chúng bỏ tiền ra làm việc từ thiện, và số tiền đó được trừ trước thuế. Trong quá trình kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều được Nhà nước đối xử bình đẳng, những công ty tài giỏi sẽ giàu nhanh và những công ty kém cỏi sẽ bị đào thải; người có tài sẽ giàu lên cần đóng góp vào các việc xã hội công, và người ít tài hoặc lười biếng dốt nát phải chịu nghèo khó, cần được giúp đỡ.

Báo cáo cần nhấn mạnh thêm trong phần nói về sự tranh thủ viện trợ của các trường đại học là một trong các nguồn tài chính xây dựng trường: đúng là hướng rất quan trọng. Nhưng vấn đề cần thiết nhất ở đây là khả năng ngoại giao của Ban Giám hiệu và khả năng chuyên môn của các giảng viên cộng tác khoa học với cơ quan bạn.

Về việc cho sinh viên vay tiền để học, từ lâu các ngân hàng địa phương vẫn cho sinh viên vay, nhưng điều kiện tín chấp khó khăn. Bắt đầu năm học 2007-08 Chánh phủ có nghị định mới, tạo điều kiện dễ dãi hơn cho sinh viên vay. Nhưng vấn đề khó là các ngân hàng địa phương phải cần thêm vốn của Nhà nước đưa xuống.

Về những nhiệm vụ mới của khu vực công, tôi rất nhất trí với đề nghị trong Báo cáo:

Nhà nước cho thêm quyền tự chủ cho các trường để các trường tạo ra nhiều sự chọn lựa trong học tập cho người dân trong vùng để họ thích và ham học, và có cơ hội NCKH.

Nhà nước chỉ cần xác lập những định hướng chung, quản lý chất lượng đào tạo của các trường, mà không nên mất thời giờ kềm cặp từng nội dung chi tiết.

Bộ Lao động cần thông tin chính xác về các nhu cầu hàng năm tới về các loại lao động, chất lượng tiêu chuẩn… để các trường biết mà thiết kế các chương trình đào tạo, và người dân biết mà chọn ngành nghề học.

Đào tạo đến nơi đến chốn và đầu tư thích đáng cho các chương trình R&D (nghiên cứu và phát triển) tiến tới hình thành các vùng trọng điểm về đào tạo và nghiên cứu.

Nhà nước cần tài trợ cho các thành phần dân số không đủ tiền đi học.

Trong Phần kết luận, Báo cáo của NHTG đề xuất một lịch trình cải tổ lại giáo dục Việt nam trong giai đoạn quá độ này, trong đó các tác giả gợi ý cho Chiến lược 2020 thực hiện trong 3 thời kỳ, mà 2 thời kỳ đầu là tiếp tục xây nền móng cho sự thi đua của các trường để tự nó sẽ hình thành những trung tâm chất lượng cao, đến giai đoạn 3 tiếp tục cải cách cơ chế quản lý và tài chính cho tất cả các trường với đầu tư đầy đủ cho các trường chất lượng cao từ đó nhân rộng ra cho các trường khác tiến lên đẳng cấp quốc tế. Các tác giả cũng đưa ra một chọn lựa thứ hai: đó là xây dựng ngay 1-2 trường đại học đẳng cấp quốc tế để làm kiểu mẫu cho các trường khác nhân rộng ra sau này. Tôi nghĩ là chúng ta không nên chọn phương án chót này, vì nó sẽ làm chậm tiến trình cải tiến toàn hệ thống đại học của ta.

Kết luận

Nhóm nghiên cứu đã dày công điều tra, sưu tầm các tư liệu trong và ngoài nước để phân tích, tổng hợp, hình thành tập tài liệu rất tin cậy. Nếu được bổ sung thêm một số chi tiết như trình bày trên đây, Báo cáo sẽ là một tư liệu rất có giá trị thực tiễn Việt nam cần được tham khảo, điều chỉnh và sớm đưa vào áp dụng.

Nguồn: Diễn đàn DẠY VÀ HỌC

Một số bài cùng chủ đề Võ Tòng Xuân
trên diễn đàn Trường Đại học Cần Thơ
:
30 năm đi lên cùng đất nước, Báo Thanh Niên, 17/04/2005
Đánh giặc rầy nâu, Báo Thanh Niên, 18/04/2005
Sau lương thực là giáo dục Báo Thanh Niên, 19/04/2005

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2009

Thương nhớ nhà văn Nguyễn Khải


Triệu Xuân
DAYVAHOC. Nhà văn Nguyên Ngọc viết thay lời tựa “Thương nhớ Nguyễn Khải” với những dòng cảm mến: “Nguyễn Khải có một số phận rất Việt Nam. Anh có một tuổi thơ buồn, éo le và cả tủi nhục nữa – cũng như cái “tuổi thơ” của nhân dân mình vậy, rất có thể đắm chìm mãi mãi nếu tự trong anh – lại cũng như tự trong nhân dân mình vậy – không có một sức tự vươn lên kỳ lạ, im lặng, nhẫn nhục, mà kiên trì, kiên định, dũng cảm một cách thực sự là dũng cảm bởi không hề ồn ào, để thành người, một con người đàng hoàng trong cuộc đời, thành đạt trong sự nghiệp và ở đỉnh cao… Cũng từ chính chìm nổi của cuộc đời mình mà Nguyễn Khải hiểu và có quan niệm rất sâu, rất nghiêm về nghề và nghiệp cầm bút. Nghề cầm bút, với anh, trước hết và sau cùng nữa, là nghề làm người. Nghiêm trang và khó nhọc như nghề làm người…Nguyễn Khải không mất, nhà văn rất thời sự ấy lại cũng là nhà văn của tương lai”.Triệu Xuân - tác giả của bài viết sâu sắc Thương nhớ nhà văn Nguyễn Khải dưới đây - thì nhận xét: "Nguyễn Khải là một trong những người tiên phong viết tiểu thuyết về cuộc sống dân sự đầy vật lộn cam go sau chiến tranh. Tôi nghĩ chính anh, nhà văn Nguyễn Khải đã khai sinh dòng tiểu thuyết viết về những chuyện thường ngày, bám sát các sự kiện nóng hổi, đầy chất trí tuệ, chính luận của văn học Việt Nam."


Sáng 15-1-2008, tôi được tin nhà văn Nguyễn Khải đang trong khoảnh khắc cuối cùng của đời mình. 19 giờ, anh trút hơi thở cuối cùng. Ít phút sau, nhà văn Lê Văn Thảo đang họp ở Hà Nội, phone cho tôi, nói: Triệu Xuân thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh túc trực tại Lễ Nhập quan và sẵn sàng mọi việc trong Lễ tang. Sáng sớm 16-1-2008, tôi có mặt tại bệnh viện 115, (quận 10, Tp Hồ Chí Minh), hỏi thăm mãi mới tìm được Nhà Vĩnh biệt. Bệnh viện trong quá trình xây dựng, nhà xác chưa có, đang dùng tạm một căn phòng còn sót lại của dãy nhà cấp bốn chưa san ủi nốt. Anh Khải nằm trong căn phòng rộng hơn hai mét, dài gần ba mét. Tôi đến, Nguyễn Khoa, con trai trưởng anh Khải ra đón. Thấy tôi đưa mắt tìm nơi anh Khải đang nằm, Quang, con trai của chị ruột vợ anh Khải nói: “Chú TX có… kiêng cữ gì không?”. Không! Chú đến chào vĩnh biệt người anh của mình, cháu đưa chú vào, không ngại gì! Cánh cửa bằng sắt hoen rỉ mở ra, anh Khải mặc bộ complet xanh đen, thắt cravat, nằm trên cái không rõ là giường hay phản gỗ, cao chừng một mét. Phòng tối quá, tôi bảo Quang mở điện lên! Nhìn thi thể anh, tôi không cầm được nước mắt. Quang nói: “Khi mổ, nội tạng chú cháu hư hết rồi”! Căn phòng lạnh lẽo quá. Một nhà văn lớn của cách mạng, suốt đời tha thiết với nhân dân, với đất nước mà bây giờ nằm đó, cô đơn, lạnh lẽo…! Bất giác tôi nhớ đến câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa! Tôi bảo Quang: Cháu nói gia đình khẩn trương thắp đèn nhang hoa quả, một đĩa muối, gạo, một ly nước cho anh Khải. Rồi, tôi nắm lấy bàn tay phải lạnh cứng của anh, mắt tôi nhìn vào đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn, vốn là cặp mắt to, sáng đuôi mắt dài, nhân hậu nhưng vô cùng sắc xảo, nhạy cảm và nói to: Anh Nguyễn Khải! Em là Triệu Xuân đến chào vĩnh biệt anh đây. Cầu cho linh hồn anh thanh thản nơi chín suối, mau siêu thoát! Anh sống khôn thác thiêng phù hộ độ trì cho gia đình anh, bạn bè thân thiết của anh được khỏe mạnh và luôn luôn may mắn! Tôi vái anh, rồi bước ra ngoài. Lúc đó là 7 giờ sáng. Còn hơn một giờ nữa mới đến giờ làm lễ nhập quan.

Có mười bốn người: ba người con anh Khải: Khoa, Thúy, Hoàn cùng hai con dâu, một con rể với mấy cháu nội, ngoại; năm người đứng tuổi là họ hàng ruột thịt và tôi, ngồi nhìn nhau, lặng lẽ. Tôi chỉ hỏi Khoa một câu về trình tự lễ nhập quan rồi hỏi thêm: Mẹ cháu đâu? “Dạ, mẹ cháu bị bệnh nặng và rất dễ xúc động, không thể ra đây được chú ạ”! Tôi se sắt lòng! Cả cuộc đời người vợ ấy thương chồng, thương con, hy sinh cho chồng cho con, nay anh ra đi trước, để lại chị bệnh tật đến nỗi không thể đến đây vĩnh biệt chồng… Tám giờ ba mươi phút, Nhà sư đến đọc kinh. Tám giờ năm mươi phút, Nhà đòn khâm liệm anh Khải, rồi đúng chín giờ, Lễ nhập quan cử hành. Người ta đổ mấy bao trà lót đáy quan tài rồi đặt thi hài nhà văn lên trên. Nắp áo quan có chừa một mảng bằng mêca trong suốt để gương mặt anh tiếp tục quan sát cuộc đời này thêm hai ngày hai đêm nữa. Có tiếng khóc của Thúy con gái anh, cùng những tiếng nấc nghẹn ngào như cố nuốt lệ vào trong của những người khác. Tôi nhận một nén nhang đã thắp sẵn từ tay Khoa, lặng lẽ vái anh và khấn thầm trước linh cữu. Chín giờ mười lăm phút, tôi cùng mọi người khênh quan tài ra xe tang. Tôi chạy xe gắn máy theo xe chở linh cữu về Nhà Tang lễ thành phố ở 25 Lê Quý Đôn, quận 3. Mười giờ, xe đến nhà Tang lễ. Anh nằm ở đó hai ngày 16 & 17. Sáu giờ sáng ngày 18-1-2008, Lễ truy điệu diễn ra trọng thể, linh cữu anh được đưa về an táng tại nghĩa trang thành phố ở Thủ Đức. Phải mất gần hết buổi sáng ngày 16-1 với rất nhiều cú điện thoại, giao dịch với nhiều cấp, nhiều người… Ban Lễ tang mới có phép để anh an nghỉ tại Thủ Đức, vì nơi đây hết đất, nghĩa trang đã dời lên Củ Chi rồi! Thế là hết! Bao nhiêu buồn vui sướng khổ, bao nhiêu vinh quang và cay đắng, bao nhiêu dằn vặt và hối tiếc, bao nhiêu tiếng cười và nỗi đau… từ nay tiêu tan trở về với cát bụi, thế là hết! Anh Khải không còn sống trong cõi nhân gian bé tý này nữa! Tất cả đã khép lại, như đôi mắt thông minh nhạy cảm của anh, vĩnh viễn! Thế nhưng, tôi tin có một thứ không bao giờ mất đi, nó còn mãi với thời gian, với lòng người yêu văn chương ở đất nước này, đó là hàng chục tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch của Nguyễn Khải.

Với văn tài của Nguyễn Khải, người ta nói nhiều đến Gặp gỡ cuối năm, Thượng đế thì cười… Riêng tôi, tôi cũng thích những tác phẩm ấy, nhưng cái tôi thích nhất lại là những tác phẩm anh Khải viết trực tiếp về đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Phật, nghĩa là đề tài tôn giáo, cụ thể là hai cuốn: Xung đột (1959-1961), và Điều tra về một cái chết (1985). Tôi đọc Xung đột từ khi mười hai tuổi, và, tôi bị tác phẩm ấy hớp hồn!

Năm 1963, trong hàng chục cuốn truyện bố mua về cho tôi đầu kỳ nghỉ hè có hai tập Xung đột của Nguyễn Khải do NXB Văn học ấn hành. Tập 1 ra trước tập 2 đúng hai năm, sách mỏng, chỉ có 152 trang 13 x 19; Tập 2 ra năm 1961, 212 trang). Tôi say sưa đọc liền một mạch từ sáng sớm đến khuya hết 364 trang sách. Tác phẩm viết về những người theo đạo Thiên Chúa. Phần lớn họ là những con người lương thiện, hiền hậu, chăm làm, giàu lòng nhân ái, giàu đức tin và… rất dễ bị các thế lực hắc ám lung lạc! Có lẽ chính vì Xung đột viết về nhà thờ mà ấn tượng tác phẩm này để lại trong cái đầu non nớt của một cậu học trò mới mười hai tuổi rất mạnh mẽ, sâu sắc. Trong cái làng Hỗ công giáo toàn tòng ấy, sao mà có những kẻ ác như thế! Họ ác thế mà tại sao những người dân lương thiện trong đó có không ít cán bộ như chị Nhàn, phó Chủ tịch xã cũng có lúc bị mê hoặc, nghe theo?

Quê tôi là xã An Đức, huyện Ninh Giang, Hải Dương, có ba làng và một trại. Ba làng rặt người bên lương. Trại -làng mới lập ven sông của làng Mũa nên gọi là Trại Mũa, cách làng tôi gần cây số- lại toàn những gia đình bên giáo… Gia đình tôi bên lương. Từ bé tý, không hiểu sao tôi rất tò mò, thích nhìn ngắm tháp chuông, giáo đường, thích nghe tiếng chuông nhà thờ Trại Mũa, thích chơi với trẻ con ở đó. Giáo đường Trại Mũa không lớn, xây ở phía trong đê, ven sông Lê - một nhánh của sông Luộc, đổ vào sông Thái Bình - cho nên từ xa đã hiện ra uy nghi đầy sức lôi cuốn. Lớn lên một chút, mỗi lần theo mẹ qua đò sông Lê để sang chợ Bùi, tôi cứ dán mắt vào nóc nhà thờ Bùi Hòa - một công trình kiến trúc rất đẹp ở bên sông, lớn hơn nhà thờ Trại Mũa rất nhiều- mà ngắm nghía, mà tưởng tượng. Tôi nhìn những người ra vào nhà thờ hành lễ hàng ngày ăn mặc rất đẹp như đi trẩy hội mùa xuân, như nhìn vào một thế giới khác, đầy hấp dẫn! Dân quê tôi nghèo, quanh năm lam lũ, ít khi mặc quần áo đẹp như dân bên giáo. Tôi từng xem rất nhiều lễ cưới ở nhà thờ, thuộc làu bài kinh do cha cố đọc với rất nhiều câu hay ý đẹp, là khát vọng của con người. Tôi thường tha thẩn ở các nhà thờ, chạy nhẩy chán thì múc nước mưa ở bể nước mà uống căng phình bụng mới thôi. Sau này, trong những năm Hoa Kỳ ném bom miền Bắc, tôi còn được bố, chú và cô cho đi thăm nhiều nhà thờ: Lớn nhất vùng là nhà thờ Sặt đẹp mê hồn ở thị trấn Kẻ Sặt, kế đến là nhà thờ Ba Đông thuộc huyện Gia Lộc, và tất nhiên có nhà thờ lớn ở trung tâm thị xã Hải Dương. Khi bom Mỹ san phẳng ga xe lửa Hải Dương thì bom rơi trúng nhà thờ lớn, sụp đổ tan tành. Tôi nhìn cảnh tượng tan hoang và bật khóc! Sau này, khi đã in dấu chân khắp Bắc Trung Nam, cũng như trong các chuyến đi công tác ở nước ngoài, tới đâu có nhà thờ là tôi ghé thăm, chụp thật nhiều ảnh. Tôi có một bộ sưu tập cá nhân ảnh của các nhà thờ ở châu Úc, châu Mỹ, châu Âu.. Có lẽ vì khoái nhà thờ nên khi đọc Xung đột, tôi mê say vì tác giả đã miêu tả tường tận về cuộc sống và số phận của những người bên giáo. Tôi đọc say sưa, chỗ nào không hiểu thì hỏi bố, hỏi bác tôi. Hồi ấy mà đã hơn một lần tôi tự nói thầm: sau này lớn lên, nhất quyết mình sẽ viết tiểu thuyết như ông Khải! Khi vào đại học, tôi đọc lại Xung đột cùng tất cả tác phẩm khác của Nguyễn Khải, và cảm nhận được nhiều điều mà thời kỳ mười hai mười ba tuổi mình chưa nghĩ được. Văn chương Nguyễn Khải sắc xảo, giàu chất chính luận kiểu Lỗ Tấn; khi cần thì chỉ vài dòng khắc họa tính cách nhân vật, vài dòng miêu tả bối cảnh sự kiện cũng đủ lột tả sự quyết liệt như chính mối xung đột trong làng Hỗ những năm sau cải cách ruộng đất, bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đó là giai đoạn nhiều niềm vui mới và không ít bi kịch. “Mọi trật tự cũ bị tháo tung ra, và một trật tự mới đang được tổ chức lại. Những thói quen cũ bị sụp đổ, và những thói quen mới đang hình thành. Phá hủy và dựng xây, chấm dứt và mở đầu...”. Có người bảo tiểu thuyết anh Khải nặng về ký sự, thậm chí họ còn cho là đầy chất báo chí. Tôi không nghĩ vậy. Chất chính luận sắc nhọn, tiết tấu nhanh là lối viết hiện đại của các tiểu thuyết gia đương thời trên thế giới. Mà dù cho là tân văn đi nữa thì ở nước mình, dễ dầu gì có nhiều người viết được như Nguyễn Khải. Nếu tôi nhớ không lầm thì đến năm 1957, Xung đột là tiểu thuyết duy nhất, đầu tiên, viết về đời sống dân sự ở miền Bắc sau chiến tranh, được in từng kỳ trên báo suốt hơn một năm. Năm 1959 tập I in thành sách. Mãi đến năm 1962, Vỡ Bờ tập I của nhà văn Nguyễn Đình Thi mới xuất bản, lại cũng viết về kháng chiến (tập II Vỡ bờ ra năm 1970). Nhấn mạnh điều này để thấy Nguyễn Khải là một trong những người tiên phong viết tiểu thuyết về cuộc sống dân sự đầy vật lộn cam go sau chiến tranh. Tôi nghĩ chính anh, nhà văn Nguyễn Khải đã khai sinh dòng tiểu thuyết viết về những chuyện thường ngày, bám sát các sự kiện nóng hổi, đầy chất trí tuệ, chính luận của văn học Việt Nam.

Mãi đến năm 1983, lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Khải tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc! Từ đó, tôi thường có dịp gần gũi anh. Khi nghe tôi nói về tuổi thơ đam mê chiêm ngưỡng nhà thờ, nói về lần đầu đọc Xung đột, Nguyễn Khải cười rất tươi và từ đấy anh thường chia sẻ với tôi nhiều tri thức anh có được về nhà thờ, về các tôn giáo. Sau chuyến đi Hoa Kỳ về, tôi khoe anh những tấm ảnh chụp nhà thờ của chín tiểu bang ở Mỹ. Anh Khải bảo: “Ông nên xuất bản thành sách bộ sưu tập ảnh nhà thờ, đẹp và quý lắm; cũng như ảnh cây xanh thành phố của ông mà tôi rất thích!”. Hồi đó tôi làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh, xe cộ để đi công tác rất dồi dào. Tháng nào tôi cũng đi về các tỉnh bốn năm chuyến, từ 15 đến 20 ngày. Chính nhờ làm Đài mà tôi đã lăn lộn được hết các tỉnh miền Nam, thuộc làu tính cách, tập tục, con người, văn hóa ẩm thực các địa phương kể cả hải đảo. Mỗi lần đi xa, tôi thường rủ những bạn đồng nghiệp mà mình quý mến. Một trong những người đó là anh Khải. Giữa năm 1983, tôi mời anh Khải cùng đi huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, nơi có vô số nhà thờ… Hồi đó, chị Liên, Bí thư huyện ủy, sau được bầu vào Trung ương, lên làm việc ở tỉnh, rất quý tôi. Nửa năm sau, anh Khải cho xuất bản tiểu thuyết Thời gian của người. Năm 1984, tôi mời anh Khải đi lên Công ty cao su Tây Ninh. Giám đốc công ty là ông Huỳnh Lân, Tỉnh ủy viên tỉnh Tây Ninh, người đã coi tôi như con của gia đình. Ông Huỳnh Lân đích thân đưa anh Khải và tôi lên thăm Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Sau, anh Khải còn đi Tây Ninh một hai lần nữa, và được địa phương nhiệt tình giúp đỡ. Gần một năm sau anh xuất bản tiểu thuyết Điều tra về một cái chết. Anh cho tôi đọc tác phẩm ngay từ khi còn là bản thảo. Với quá trình hình thành hai tác phẩm vừa kể, tôi quan sát cách làm việc, thu thập tư liệu của anh Khải và tôi bị anh thuyết phục về sự lịch lãm khi tiếp xúc với mọi người, lúc nào anh cũng khiêm nhường và điềm đạm, không bao giờ anh lên mặt, đòi hỏi, tỏ vẻ ta đây, ngay cả khi anh được địa phương quý yêu và chiều chuộng. Quan trọng hơn, tôi phục anh về phương pháp tư duy cũng như sự khéo léo khi lồng tư tưởng mà mình tâm đắc vào trong tiểu thuyết. Điều tra về một cái chết ra đời khi mà đối trọng của phe Tư bản, tức Liên Xô, không còn nữa. Có một số ý kiến, nhất là của những người theo Cao Đài kịch liệt phản đối tác phẩm. Rồi tác phẩm rơi vào im lặng, không thấy ai lên tiếng về chủ đích sáng tác của tác giả. Đã hai lần tôi hỏi thẳng anh về điều này, anh chỉ nhìn tôi, cái nhìn rất sâu sắc, hóm hỉnh, và anh chỉ cười! Tôi biết anh Khải không chỉ viết về đạo Cao Đài, đó chỉ là cái cớ, mà anh chú tâm viết về cái cách xây dựng đức tin và sự sụp đổ của một đức tin. Xưa nay, người đọc chưa hiểu hết thông điệp chính yếu của tác giả thể hiện trong tác phẩm cũng là sự thường! Điều tra về một cái chết theo tôi, là một tác phẩm có tầm tư tưởng lớn!

Những nhân vật trong các tiểu thuyết: Xung đột, Mùa lạc, Một chặng đường, Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về, Chủ tịch huyện, Chiến sỹ, Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Điều tra về một cái chết, Vòng sóng đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười, cũng như trong rất nhiều truyện ngắn Nguyễn Khải, in đậm dấu ấn của tác giả, một người thông minh, nhạy cảm, vô cùng sắc xảo và lịch lãm. Anh có đôi mắt rất đặc biệt. Khi quan sát thực tế cuộc sống để làm nên da thịt, hơi thở cho cốt truyện đã hình thành trước đó thì đôi mắt Nguyễn Khải vô cùng nhanh nhạy, nhìn như thấu gan ruột người ta, thấu bản chất của vấn đề. Tôi nhìn vào đôi mắt ấy, khi anh trò chuyện với đồng nghiệp nhỏ tuổi hơn anh, lại thấy lấp lánh sự chân tình, bao dung và luôn luôn khuyến khích, động viên. Khi gặp các đồng nghiệp trẻ, nếu đã đọc họ, anh thường khen họ, và thường là khen quá lời! (Giá như anh đừng khen quá lời thì hay hơn cho người được khen, bởi không ít người được anh khen lại… ảo tưởng). Tôi cũng được anh đọc những thứ mình vừa xuất bản, và anh thường khen bằng những lời mà tôi nghe phải đỏ mặt vì ngượng, dù rất thích. Cũng đôi mắt ấy, khi anh nhìn những đồng nghiệp cùng trang lứa mà hay tỏ vẻ ta đây, tôi thấy rõ sự thương hại và lóe lên cả sự kiêu ngạo. Anh Khải ghét những ai giả dối và hợm hĩnh về tài năng. Anh bảo: Nhà văn chỉ nên nói bằng tác phẩm, qua tác phẩm, ngoài ra, chả cần phải nói gì! Ấy là câu anh nói tại hành lang Hội trường Ba Đình. Hôm ấy, anh Khải, anh Xuân Sách, tôi, Ngô Vĩnh Bình và vài người nữa đang trò chuyện trong giờ giải lao ở Đại hội V, Hội Nhà văn. Có một nhà văn gần bẩy mươi tuổi nói oang oang: “Tôi đang viết sắp xong tiểu thuyết này, tôi đang viết dở tiểu thuyết kia…”. Anh Khải nói nhỏ với chúng tôi: “Mười lăm năm qua còn khỏe mà ông ấy không viết được cuốn nào, nay thất thập, đi đái còn ướt giày thì viết lách gì nữa!”. Và anh nói tiếp như tôi đã dẫn ở trên: Nhà văn chỉ nên nói bằng tác phẩm… Anh ít xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, đi hội nghị, anh thường ngồi hàng ghế chót.

Kỷ niệm mà tôi nhớ mãi là lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Khải, giữa năm 1983 tại phòng làm việc của anh Hà Mậu Nhai, Giám đốc NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Hôm ấy, tôi rón rén đến nhận nhuận bút tác phẩm đầu tay: Những người mở đất. Khi viết xong tác phẩm này, tôi đã tự xóa bỏ hai chữ tiểu thuyết và thay vào chữ Truyện. Có lẽ tôi cũng học theo cách Nguyễn Khải. Phần lớn tiểu thuyết của mình, trong lần in đầu tiên Nguyễn Khải chỉ đề là Truyện! Còn một điểm nữa: Nguyễn Khải viết rất ngắn, chỉ từ 150 trang đến 250 trang là cùng. Tôi nói là rón rén đến NXB là nói thật lòng. Bởi vì tôi không hề quen biết ai, không hề được ai nâng đỡ… Đây là tác phẩm đầu tay, viết xong năm 1979 mà đến đầu năm 1983 mới được in (hồi đó việc xuất bản rất khó chứ không như bây giờ!). Hôm đó, nhận nhuận bút xong, đang tính ra về thì tôi nghe ai đó gọi tên. Thì ra anh Hà Mậu Nhai cho gọi tôi lên phòng anh. Một người đàn ông cao lớn, gương mặt nhang nhác một linh mục Thiên Chúa giáo, đang đứng giữa phòng. Tôi bước vào, anh Nhai vui vẻ bắt tay và quay qua nhìn người cao lớn, giới thiệu: Đây là Triệu Xuân, tác giả Những người mở đất mà ông Khải khen đó! Ô! Hóa ra đây là Nguyễn Khải! Người đàn ông tóc hớt cao, đôi mắt sắc, má hóp (hồi đó ai cũng gầy nhẳng) nhưng nụ cười rất hiền phô hàm răng vổ này chính là tác giả Xung đột, tôi đã đọc từ năm mười hai tuổi! Câu đầu tiên, anh Khải nói với tôi: “Sao ông không đề là tiểu thuyết? Mình đọc một mạch, ông viết khéo lắm, tiết tấu nhanh như phim! Cái đoạn ông viết về phẩm chất đảng viên là… bạo lắm, nhà xuất bản ông Nhai cũng to gan lắm!”. Tôi đỏ mặt, ấp úng, chưa biết trả lời thế nào. Một nhà văn lớp trước mà tôi ngưỡng mộ lại đọc mình, đọc rồi lại còn khen mình, lại bảo mình nên đề tác phẩm là tiểu thuyết! Phút bối rối qua mau, tôi bình tâm lại và trò chuyện lưu loát với hai người anh. Mới gặp lần đầu nhưng anh Khải khiến tôi ngỡ như anh là người nhà, thân thiết! Nửa tiếng sau, thấy anh Nhai có khách, chúng tôi chia tay chủ nhà, ra về. Tôi mời anh Khải đi uống bia để ghi nhớ ngày gặp anh. Anh cám ơn, thân mật từ chối và nói thêm: “Nhuận bút được mấy đồng mà bia bọt gì. Mang về nhà cho cô ấy nuôi con!”. Anh Khải dắt chiếc xe đạp sườn ngang cao lêu đêu và đạp băng băng trên đường Lý Chính Thắng.

Tháng 10-1979, nhà văn Nguyễn Khải chuyển cả gia đình vào sống tại quận Tư thành phố Hồ chí Minh, giữa lúc anh đang nổi như cồn ngoài Hà Nội. Đó là thời gian báo chí nói nhiều về anh sau khi sách anh liên tục ra lò: tập bút ký Tháng ba ở Tây Nguyên, tập kịch Cách mạng, tiểu thuyết Cha và con và… Những năm này đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, chiến tranh biên giới, bị cấm vận, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Câu ca Đầu đường đại tá bơm xe… xuất hiện vào thời này. Đại tá Nguyễn Khải không phải đi bơm xe nhưng sống rất chật vật. Anh viết văn bằng tay, thường bò trên phản mà viết. Cuối năm 1983, gặp anh ở cuộc họp cộng tác viên báo Sài Gòn Giải phóng, anh nói nhỏ với tôi: “TX biết không, đêm qua mình thức viết đến hai giờ, đói quá, mờ mắt, phải buông bút đi nằm. Giá mà có được một lát thịt bò bít tết và mẩu bánh mì lúc đó thì mình đã viết xong cái mạch cảm hứng đang trào đến! Tiếc quá!”. Thương thay cho kiếp nhà văn! Chính tôi cũng nhiều lần như vậy. Vậy mà anh Khải vẫn viết đều đều, sách ra đều đều, cái nào cũng ngăn ngắn, dễ đọc, bán chạy. Anh sống giản dị, lúc nào ra ngoài cũng quần tây, thường là quần bộ đội, áo sơ mi trắng ngắn tay, dép rọ có quai hậu. Rất ít khi thấy anh mang giày, và mặc áo sơ mi tay dài, thắt cravat. Anh không nghiện ngập cà phê, thuốc lá, rượu bia, gái gú lại càng không! Uống một chai bia là anh ngừng, sợ say. Thỉnh thoảng anh nể bạn, nhận một điếu thuốc lá, trông anh cầm thuốc hút y hệt khi cầm đũa! Tôi biết anh Khải quý mến và thân tình với nhiều đồng nghiệp trong đó có nhiều người trẻ. Ai cũng bảo anh xứng đáng là người anh: chân thành, bao dung, biết vui mừng cho niềm vui của người khác. Những năm cuối đời, do bệnh tật, do khoảng cách (có thời gian anh về ở quận 12), anh ít gặp gỡ mọi người. Thế nhưng mỗi lần điện thoại với anh, anh em nói hoài không muốn dứt! Tháng Mười 2006, tôi mời anh đến dự Lễ ra mắt Quỹ Phát triển Tài năng Văn học của báo Sài Gòn Giải phóng- do tôi khởi xướng- anh vui lắm. Anh khen tôi hết lời, nhưng vì bệnh nên anh không đến dự được. Đầu Xuân 2007, tôi mời anh đến dự cuộc gặp mặt của Nhóm Văn chương Hồn Việt. Anh trả lời: TX ơi, mình rất phục ông và anh chị em trong Nhóm Văn chương Hồn Việt về tiêu chí giúp nhau sáng tác, cùng nhau làm việc nghĩa. Giá như mình mới ngoài năm chục tuổi, khỏe mạnh, thì mình xin tình nguyện theo Nhóm Hồn Việt!

Mới đó mà đã hai mươi lăm năm, kể từ lần đầu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Khải! Một phần tư thế kỷ đã trôi qua! Mới đó mà đã đến giỗ Một trăm ngày anh Khải. Đôi mắt anh Khải đã vĩnh viễn khép lại rồi. Đám tang anh tôi chứng kiến từ đầu chí cuối, có hơn hai trăm sáu chục đoàn và cá nhân đến viếng. Tuy không đông về số lượng như một vài đám tang khác, nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là: Những người đến viếng rất ít người vì ngoại giao, vì nghi lễ, mà hầu hết là vì thương nhớ anh, qúy trọng anh, đau buồn khi anh qua đời. Anh Khải đã sống và sáng tác hết mình, với cả tấm lòng thành luôn hướng về nhân dân, về dân tộc và đất nước. Những tác phẩm của anh để lại là tài sản quý giá của nền văn học, văn hóa Việt Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Ba năm 2008

TRIệU XUÂN

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2009

Vẻ đẹp bất biến trong vạn biến



Cao Thị Anh Tú(Hà Nội Mới)- Nhà văn Nguyễn Khải đã đi xa (ông mất ngày 15-1-2008) nhưng vẻ đẹp trong những áng văn chương của ông tiếp tục được khám phá. Hình mẫu nhân vật thường quen thuộc trong tác phẩm của ông là những người có nhân cách bền vững trước những biến động của thời cuộc (Ảnh: Nhà văn Nguyễn Khải với chiếc máy đánh chữ đã gắn bó với ông cho đến cuối đời).

Từ những trang viết cảm động về phụ nữ

Sở trường của Nguyễn Khải là tạo dựng những nhân vật tư tưởng. Một trong những phương diện thể hiện rõ điều này trong sáng tác của ông là tạo ra một kiểu nhân vật có cốt cách bất biến, bền vững trước những biến động của thời cuộc. Kiểu nhân vật này trong truyện ngắn của Nguyễn Khải là một trong những yếu tố làm nên phong cách độc đáo của cây bút văn xuôi này.

Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Khải dẫu có nhiều khi được miêu tả với một vẻ đẹp rất hiếm hoi, đặc biệt như Hiền (Tiền), bà T. (Một chiều mùa đông), Dịu (Má hồng) thì điều đó vẫn không phải là điểm thu hút cây bút này. Điều thu hút ông nhất, làm ông quan tâm nhất vẫn là nhân cách của họ. Cái nhân cách nhiều khi khuất lấp sau những bộn bề của cuộc sống, có khi lại sáng ngời lên trước những đổi thay của thời cuộc. Hàng loạt những truyện ngắn như Mẹ và bà ngoại, Chị Mai, Người của nghề, Mẹ và các con… đã thực sự dựng lên được chân dung những người phụ nữ lặng lẽ, nhưng giàu lòng hy sinh, suốt một đời vì gia đình, người thân.

Bên cạnh những người phụ nữ mà phẩm cách nổi bật là lòng hy sinh còn có một lớp những người phụ nữ luôn có ý thức trong việc giữ lại những vẻ đẹp truyền trống của một nếp nhà, của một gia đình, một dòng họ và rộng ra là những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc. Vẻ đẹp của những con người này là vẻ đẹp, cách ứng xử của một Tràng An xưa thanh lịch và bản lĩnh, nay chỉ còn sót lại như “hạt bụi vàng” giữa bao biến động, sóng gió của thời cuộc. Nguyễn Khải đã miêu tả những con người đó với một niềm trân trọng không giấu giếm. Đó là bà cô (Nếp nhà) không bị cuốn theo cái guồng của xã hội, vẫn giữ được ngôi nhà “triệu đô” với một nếp sống thanh lịch, yên ổn mọi bề, con cháu hòa thuận. Đó còn là bà cụ Mặm (Người của ngày xưa) “Chỉ là người đàn bà tầm thường thôi nhưng cách ứng xử của một đời không thay đổi của bà lại chẳng tầm thường chút nào”; là bà Hiền (Một người Hà Nội) từ thuở còn con gái cho đến lúc già đã sống đúng với phong cách quý phái và tư thế sang trọng, thanh lịch của một người Hà Nội. Lại có những người phụ nữ nghèo như bà Bơ (Nắng chiều), lấy chuyện đi ở cho các em làm niềm vui, cả đời sống vì mọi người nhưng vẫn có một tâm hồn đẹp đẽ…

Với Nguyễn Khải, họ như những hạt bụi vàng mà nhà văn muốn tha thiết níu kéo và gìn giữ.

… đến những người đàn ông

Xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của Nguyễn Khải cũng phải kể đến những người đàn ông cao tuổi, hầu hết họ là những trí thức, những nhà văn, nhà báo, nhà giáo, những thiếu tá, đại tá về hưu. Họ có vẻ như là những người lạc thời, thất thế trong gia đình vì họ không chạy theo lối sống đang thịnh hành. Nhưng chính họ dưới ngòi bút nhà văn mới là những con người mang trong mình những vẻ đẹp muôn thuở của con người. Đó là vẻ đẹp của lòng tự trọng ở Tần (Đổi đời), Dụ (Chuyện tình của mỗi người), ông Vị (Nơi về), của lòng hiếu nghĩa, thiết tha với truyền thống của dòng họ ở Sính (Ông trưởng họ), của lòng trung thực và sự chân thành ở ông Bột (Sống giữa đám đông), của tấm lòng tha thiết với văn chương ở một người viết văn nghiệp dư không tên tuổi (Bạn viết cũ)… Lại có những người trong đó đứng trước một thực tế đã hoàn toàn khác, nhiều người cảm thấy đất dưới chân như sụt lở, như vừa “ở tù ra”, như ông Trắc (Lạc thời), ông Tú (Một thời gió bụi), anh nhà văn (Anh hùng bĩ vận)… Nhưng với cái “tâm huyết” và “tấm lòng trung thực” của ông Trắc, với những suy tư, trăn trở sau một lần về quê để rồi trở lại thành phố của ông Tú… người đọc vẫn tin tưởng rằng họ sẽ không rơi vào tâm lý bất mãn thường thấy.

Còn lại mãi với thời gian

Viết về những con người như vậy, dường như Nguyễn Khải muốn khẳng định rằng bản thân mỗi con người có cốt cách, bản thân mỗi gia đình, dòng dõi, có gia phong sẽ luôn trụ lại vững chắc trong thời thế mà mọi điều có thể bị đảo lộn. Họ xứng đáng là lớp người “Kéo một nước Việt Nam từ trong đáy sâu của thời gian lên với ánh sáng của hôm nay, để được sống và nghĩ cùng ngày, cùng giờ với một nhân loại đang háo hức lao tới những mục tiêu cuối thế kỷ”. Tác phẩm của Nguyễn Khải vì thế đạt đến tầm triết lý và giá trị nhân văn sâu sắc.


(Hà Nội Mới)

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2009

GS Võ Tòng Xuân: Thao thức với "các mũi giáp công"



DẠY VÀ HỌC. Giáo sư - tiến sĩ Võ Tòng Xuân Tôi phải học rất căn bản và không ngừng tự cập nhật kiến thức. Tôi truyền đạt cho những cộng sự của tôi, không giấu ai kỹ thuật gì. Khi kiến thức mở mang, mình có thể thấy trước những gì mà người thường chưa thấy. Dĩ nhiên đừng bảo thủ, mà trái lại, luôn có sáng kiến mới, rồi truyền đạt nội dung, phương pháp thực hiện, tìm kinh phí và giao công việc cho người khác cùng làm. Đồng thời với giao công việc, tôi phải kiểm tra đôn đốc, chỉ đạo không chậm trễ. Quan trọng là cần phải được đào tạo căn bản, sâu và rộng để thấy được cái mới. Không có sáng kiến mới thì không thể cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ trong thời hội nhập kinh tế toàn cầu.

Phải biến nông dân thành những người chủ giàu có

GS Võ Tòng Xuân sinh ra trong một gia đình nghèo ở huyện Ba Chúc, An Giang. Lúc nhỏ ông lên Sài Gòn tự lập để phụ cha mẹ nuôi các em và để có tiền đi học đến khi thành tài. Ông từng trải qua một thời bán báo dạo dọc các bến xe đò, đêm đi dạy kèm cho học sinh luyện thi.

Rồi đến quãng đời làm giám đốc kỹ thuật cho một công ty thuốc trừ sâu. Ông nói: “Sự giàu có của dân lao động các nước nghèo tài nguyên thiên nhiên mà tôi đã đi qua làm tôi nghĩ đến dân mình - những người chủ nghèo sống trên tài nguyên giàu có. Từ đó tôi đã xác định mục đích sống cho đời mình: phải đem hết tri thức để đóng góp cho đất nước, làm sao cho dân mình mau trở thành những người chủ giàu có”.

Chính vì mục đích đó mà ông đã quyết định quay về Việt Nam ngay sau khi trình luận án tiến sĩ nông học ở Nhật, hôm đó chỉ cách 30-4-1975 có 28 ngày.

"Anh Ba Xuân"

Mười năm đầu sau ngày giải phóng (1975), nông dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích gọi giáo sư Võ Tòng Xuân là “anh Ba Xuân”.

Tôi nhớ một ngày cuối năm 1985, trong căn phòng làm việc chật chội ở Đại học Cần Thơ, anh Ba Xuân nói: “Anh nghĩ coi, người nông dân mình ở đây, hễ trời sụp tối là phủi sơ hai bàn chân khô sình đất, leo lên giường.

Trong lúc đó, ở các nước tiên tiến, người nông dân họ đi giày trong nhà, ngồi trước tivi, lò sưởi hoặc đi câu lạc bộ nông trang. Mà chắc chắn là những dân tộc đó không anh hùng hơn dân tộc mình, tài nguyên của họ không giàu hơn của mình”.

Anh lại đăm chiêu: “Cây lúa ĐBSCL còn bề bộn công việc vây quanh nó. Lúa mùa, đất ngập mặn, nhiễm phèn, trình độ dân trí... Làm sao tìm ra được giống lúa thích hợp kèm theo các kỹ thuật tương ứng?

Tôi thao thức nhiều về những vùng đất hoang lớn ở đồng bằng này, mà nông dân thì họ bỏ đi, bu bám sống ven quốc lộ với tỉ lệ sinh đẻ quá cao, cứ như phó mặc cho một số phận vô hình nào đó
”.

Trước đó, những năm 1975-1977, người ta thấy anh và những đồng nghiệp cùng hàng trăm sinh viên say mê khoa học lặn lội qua hàng ngàn hecta ruộng lúa cháy rụi vì dịch rầy nâu, băng qua những cánh rừng tràm xơ xác vì thuốc khai hoang thời chiến tranh, những đồng cỏ năng dày mịt, hoang vắng mênh mông.

Khi thì lội bì bõm, khi thì lắc lư trên chiếc xuồng nhỏ hoặc ngồi nghêu ngao trên những mui tàu đò; lúc đi xe đạp, lúc chạy xe máy hay đeo cửa một chuyến xe đò cuối cùng nào đó trên một tuyến hương lộ đồng bằng.

Mười năm đầu sau ngày hòa bình 1975, hoạt động khoa học của anh Ba Xuân, hiệu phó Đại học Cần Thơ, chỉ nhằm một hướng: phát triển nông thôn. Anh đã linh động vượt qua nhiều thử thách trong cơ chế bao cấp lúc đó để làm cho được mục tiêu đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất.

Giáo sư về hưu

Cuối năm 2007, sau ngày giáo sư Xuân nghỉ hưu, tôi gặp lại ông nhân một buổi họp mặt cuối năm. Vẫn là ngọn lửa nhiệt huyết của “anh Ba Xuân” ngày nào, khi nghe ông tâm sự với các nhà báo:

“Cũng con người này, đất nước này, nhờ có thay đổi chính sách một chút là có cải cách, đổi mới mà từ một đất nước thiếu thốn đủ thứ, phải ăn gạo theo tem phiếu... trở nên một nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới, dân mình đã khá hơn xưa.

Nhưng đến giờ đại bộ phận nông dân vẫn còn nghèo và thua thiệt. Cái chính của thời hội nhập này là Nhà nước phải dám thay đổi thêm chính sách, cải cách mạnh hơn, đổi mới mạnh hơn thì chúng ta mới có thể thắng được giặc nghèo
”.

- Dường như thầy vẫn còn thao thức với những dự án đang dang dở?

- Ở trong nước thì dự án kỳ vọng nhất của tôi là xây dựng Đại học An Giang thành một trường đại học có tầm cỡ ở ĐBSCL. Tôi muốn lấy Đại học An Giang làm một mô hình đại học lý tưởng - nơi tạo ra động lực nghiên cứu phát triển cho An Giang và cả ĐBSCL, đồng thời là một nơi ươm mầm nhân tài cho cả vùng này. Chứ nếu vẫn đào tạo theo cách hiện nay thì khó có nhiều người tài giỏi.

- Chuyện này dường như không chỉ ở An Giang?

- Trăn trở của tôi là đối với cả hệ thống giáo dục Việt Nam từ phổ thông đến đại học. Mỗi trường phải có khả năng cung cấp cho người học nhiều kiểu đào tạo - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; nhiều ngành nghề địa phương cần chứ không phải cứ theo chương trình khung như của Bộ Giáo dục - đào tạo hiện nay. Rồi trong nghiên cứu khoa học cũng phải sao cho đúng tiêu chuẩn quốc tế thì mới đi lên được.

Muốn thế mỗi trường phải có một hiệu trưởng thật sự có khả năng chuyên môn, và Nhà nước phải cho các đại học quyền tự chủ để quản trị cả con người, chương trình học và tài chính.

Tôi cũng lo nhất là giáo dục phổ thông của Việt Nam đang quá kém so với các nước quanh ta. Trước 1975, sinh viên vào Đại học Cần Thơ giỏi hơn sinh viên bây giờ rất nhiều. Hồi những năm 1960, học sinh đậu tú tài xong có thể làm được nhiều việc; còn bây giờ thi đậu trung học phổ thông rồi mà cứ “ngơ ngơ ngác ngác” không biết làm gì, chỉ lo trả bài xong rồi quên hết, ngoại ngữ thì hầu như không nói được. Chương trình “nhồi sọ” đủ các môn trong khi môn chính cũng như các môn phương tiện như vi tính và ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, thì không rành.

- Trong nông thôn, nông nghiệp và nông dân, thầy lo nhất chuyện gì?

- Cái nghèo của nông dân Việt Nam! Nông dân ta cần cù làm ra quá nhiều gạo cho xã hội hưởng, nhưng chính mình thì không giàu lên được. Tại ai? Nông dân Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia giàu hơn nông dân mình. Nhìn xa hơn chút, nông dân Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản còn giàu gấp mấy mươi lần nông dân mình.

Mà con người và tài nguyên của mình không thua ai hết. Chỉ vì mình thiếu một chính sách tốt và cách quản lý tốt. Cách quản lý hiện nay không làm cho mỗi người có thể phát huy hết khả năng.

Cũng như trong giáo dục, mình đang đào tạo ra cái mà xã hội không cần. Thí dụ, cứ để cho những công ty quốc doanh chỉ chạy theo lợi nhuận, câu kết với nhiều trung gian mà không biết đầu tư cho nông thôn để nông dân sản xuất theo đúng yêu cầu thị trường thì làm sao nông dân khá lên được. Rốt cuộc là nông dân, doanh nghiệp, nhà nước cứ tách rời nhau. Phải có chính sách tốt để ba “người” này dính lại một cách hữu cơ.

Tôi còn lo là nông dân ta, nhất là ở đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, dần dần sẽ thiếu đất sản xuất vì xu thế đô thị hóa không thể dừng lại được. Vì thế tôi đã nghĩ đến việc đưa nông dân Việt Nam làm chuyên gia giúp nông dân Tây châu Phi sản xuất lương thực. Chương trình này đã bắt đầu từ tháng 6-2006, chuyên viên Việt Nam đã sang nước Sierra Leone chuẩn bị cơ sở hạ tầng để đưa nông dân Việt Nam sang.

Đây là một chương trình mang ý nghĩa lớn tầm cỡ quốc tế vì sự giúp đỡ thành công của chúng ta vào công cuộc an toàn lương thực, xóa đói giảm nghèo cho châu Phi sẽ làm tăng uy thế nước ta trong Liên Hiệp Quốc. Rất nhiều quốc gia phương Tây đã tiêu tốn hàng trăm triệu đôla hăng năm giúp châu Phi nhưng đến nay châu lục này vẫn bị đói và nghèo triền miên.

Tôi rất lạc quan về sự thành công của chương trình Tây châu Phi, vì đã thử nghiệm rất có hiệu quả kỹ thuật trồng lúa cao sản của ĐBSCL trên đất châu Phi. Và một độc đáo nữa là chúng ta dùng nông dân làm chuyên gia sang hướng dẫn, kèm cặp nông dân châu Phi sản xuất lúa, theo công thức một nông dân Việt Nam làm với bốn nông dân châu Phi.

- Về hưu nhưng sao thầy vẫn còn nhận nhiều công việc quá vậy?

- Hưu về chức vụ hiệu trưởng, nhưng chuyên môn đâu có nghỉ hưu. Còn sáng suốt và khỏe mạnh thì còn đóng góp được cả ở trong và ngoài nước. Nhiệm vụ tư vấn khoa học tôi vẫn tiếp tục, vì người ta không giới hạn tuổi tác.

- Vậy thì kinh nghiệm làm việc của thầy là gì?

- Tôi phải học rất căn bản và không ngừng tự cập nhật kiến thức. Tôi truyền đạt cho những cộng sự của tôi, không giấu ai kỹ thuật gì. Khi kiến thức mở mang, mình có thể thấy trước những gì mà người thường chưa thấy. Dĩ nhiên đừng bảo thủ, mà trái lại, luôn có sáng kiến mới, rồi truyền đạt nội dung, phương pháp thực hiện, tìm kinh phí và giao công việc cho người khác cùng làm.

Đồng thời với giao công việc, tôi phải kiểm tra đôn đốc, chỉ đạo không chậm trễ. Quan trọng là cần phải được đào tạo căn bản, sâu và rộng để thấy được cái mới. Không có sáng kiến mới thì không thể cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ trong thời hội nhập kinh tế toàn cầu.

Thao thức...

Giáo sư Võ Tòng Xuân sắp bước sang tuổi 69 nhưng nom ông còn khỏe lắm. Ông là người Việt Nam đầu tiên vừa được trao giải thưởng “Dioscoro L. Umali”.

Đây là giải thưởng quốc tế do Trung tâm Nghiên cứu đào tạo nông nghiệp Đông Nam Á thuộc Tổ chức Bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á cùng Viện hàn lâm Khoa học công nghệ Philippines và Quỹ D.L. Umali phối hợp thành lập năm 2008 để tôn vinh những nhà khoa học vùng Đông Nam Á có nhiều thành tích đóng góp cho công cuộc phát triển nông nghiệp của vùng.

Năm 2008, dường như ông làm việc ở nước ngoài nhiều hơn trước. Ông tâm sự: " Các hoạt động khoa học của tôi đã tăng lên gần như đột biến trong nước và quốc tế sau khi tôi chính thức thôi nhiệm vụ quản lý nhà trường.

Tôi đang có kế hoạch xây dựng thương hiệu cho cây tiêu và rượu sim Phú Quốc cũng như cho gạo Sóc Trăng. Nhiều hội thảo về xóa đói giảm nghèo trong nước và quốc tế đã nhờ tôi đến thảo luận, đặc biệt là hội thảo tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cuối tháng 9-2008 mà Tổng thư ký Ban Ki Moon đã mời tôi gợi đề dẫn thảo luận".

Năm 2008, giáo sư Võ Tòng Xuân đã cùng một nhóm nhà khoa học, doanh nghiệp Việt Nam và Anh quốc có tâm huyết với châu Phi thành lập Công ty TNHH Nông thủy sản Việt Phi (gọi tắt là VAADCO-VN) tại TP.HCM, VAADCO-NG tại Nigeria và VAADCO-UK tại Luân Đôn để giúp một số nước châu Phi gia tăng sản lượng nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo cho họ.

Với trách nhiệm là tổng giám đốc VAADCO, giáo sư Xuân đang cùng các chuyên gia nông nghiệp của Việt Nam xác định các nội dung phát triển nông nghiệp cho bang Enugu của Nigeria, lên kế hoạch đầu tư để chi nhánh Anh quốc của công ty huy động tài chính để có thể nhanh chóng đưa chuyên gia nông nghiệp Việt Nam sang châu Phi, chuẩn bị điều kiện sản xuất lương thực cho nông dân châu Phi dưới sự hướng dẫn của nông dân Việt Nam.

Ngoài những tổ chức quốc tế đang tham gia từ nhiều năm qua, giáo sư Xuân đã nhận lời tham gia hội đồng tư vấn của Trung tâm phát triển phân bón quốc tế (tại Muscle Shoal, bang Alabama, Mỹ) và của Chương trình kinh tế và môi trường Đông Nam Á (tại Singapore).

Trong lĩnh vực giáo dục, năm 2008 ông được mời tham gia thành lập trường đại học quốc tế Cần Thơ, Đà Lạt và đại học Tân Tạo. Để làm các công tác này, ông nói: “Tôi phải tham gia khảo sát, tìm đối tác từ một số trường nổi tiếng của Âu, Mỹ”.

Vừa mới “chạm” vào lĩnh vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn, giáo sư Xuân lại sôi nổi: “Năm 2008, thấy rõ nhất là sự tiêu thụ đầu ra của nông dân luôn luôn là chuyện đau đầu. Mọi rủi ro đều trút lên đầu người nông dân nghèo.

Những gì đã xảy ra và đang tiếp tục xảy ra với người nông dân Việt Nam cho thấy mặc dù ai cũng nói quan tâm đến nông dân và nông thôn, nhưng thực tế ít ai chịu tổ chức đồng bộ mọi lực lượng để giúp nông dân và nông thôn đạt mức lợi tức cao.

Thực trạng nghèo của nông dân và nông thôn là kết quả của tính không ổn định của công cuộc xóa đói giảm nghèo không đồng bộ của ta. Nếu Đảng và Nhà nước không có những chính sách khuyến khích thì phải còn lâu lắm nông dân ta mới giàu lên được”.

Rồi ông kiến nghị: “Tôi mong rằng các nhà làm chính sách của nước ta không nên chỉ dừng lại với những “định hướng” và “nghị quyết” rồi để ai muốn làm sao thì làm, mà nên tổ chức “các mũi giáp công” để các ngành tham gia cùng tiến tới định hướng ấy một cách thành công”.

TUANVIETNAM. Theo Huỳnh Kim (Tuổi Trẻ Cuối Tuần)