Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2008

Suy nghĩ và ước mong của một người đọc


DẠY VÀ HỌC. Trong môi trường giáo dục đại học, sản phẩm đào tạo sau cùng của một ngành học phải là những con người, lớp người rất cụ thể. Đó là những con người có nhân cách, có bản lĩnh và kỹ năng thực hành chuyên nghiệp để giải quyết những nhu cầu thực tiễn cụ thể, cần thiết, cấp bách ở chính nơi và thời họ sống. Dạy học, viết sách không chỉ là nghề mà còn có một ý nghĩa cao quý, sâu xa và hết sức nhân bản. Thấm thía được điều này thì mới có thể có được những công trình khoa học và tác phẩm văn chương đích thực. Cảm nhận sau khi đọc bài viết của Hoàng Minh

SUY NGHĨ VÀ ƯỚC MONG CỦA MỘT NGƯỜI ĐỌC

Hoàng Minh

Tôi thiết tha hy vọng các nhà văn và nhà nghiên cứu, phê bình đọc mấy dòng này sẽ tin rằng đây là những ý nghĩ chân thành của một trong những độc giả trung thành nhất của họ. Có thể tôi không phải là một độc giả tiêu biểu cho lắm: tôi đọc tác phẩm của nhà văn Việt Nam hiện đại nhiều hơn đọc các bản dịch tác phẩm nước ngoài, trong khi tất cả các bản thống kê của các thư viện đều cho thấy rằng độc giả ta đọc sách dịch nhiều hơn đọc nguyên tác Việt Nam hàng chục lần. Điều này cũng không có gì khó hiểu: dù đã bị méo mó đi nhiều qua cách hiểu ngoại ngữ lõm bõm của người dịch và qua thứ văn Việt ngọng nghịu của họ, các tác phẩm hay của nước ngoài nói chung vẫn còn hay hơn các tác phẩm hiện đại của ta. Tôi chỉ khác các bạn đồng nghiệp của tôi (trong "nghề" đọc sách) ở chỗ tôi đi tìm sách mới của nhà văn Việt Nam, hồi hộp mong rằng lần này mình sẽ gặp được một tác phẩm thật hay, còn họ thì hầu như đã mất niềm hy vọng đó.

Tự cổ chí kim, người đọc văn học bao giờ cũng chỉ mong đọc tác phẩm hay, không ai đi tìm đọc những tác phẩm văn chương "đúng". Yêu cầu thẩm mỹ đối với tác phẩm văn học là tất nhiên và chính đáng.

Thế nhưng cái "hay" (cái giá trị nghệ thuật có sức mạnh làm rung chuyển những đường tơ thẩm mỹ trong tâm hồn) hình như chiếm một vị trí quá nhỏ nhoi trong những mối quan tâm của người làm văn học. Các nhà phê bình nghiên cứu văn học để hầu hết tâm lực vào việc đánh giá tác phẩm như một sự kiện xã hội chính trị. Tác phẩm được coi như một thứ tuyên ngôn gián tiếp nói lên quan điểm chính trị của tác giả đối với những hiện tượng xã hội được mô tả. Rồi sau đó, may lắm người ta cũng chỉ dành mấy dòng nói chung chung, không có luận chứng, về giá trị nghệ thuật.

Thật ra tình hình cũng khó lòng khác đi được, vì ở ta không ai dạy và không ai được học nghề viết văn cho hay. Ở nhà trường, ngay như tiếng Việt cũng không được dạy như một ngôn ngữ, tức một "công cụ diễn đạt ý nghĩ và tình cảm" của mình, mà được dạy như một tập hợp những mẫu mực đã được dùng để truyền đạt những ý của người khác, cần phải nhớ và nhắc lại cho đúng. Của đáng tội, chưa bao giờ có một chủ trương công khai như thế. Nhưng cách dạy tiếng, cách đánh giá bài vở của học sinh, cách chọn các bài văn đem giảng, đều đưa đến kết quả như vậy. Những bài văn, bài thơ dở mà học sinh phải học như những mẫu mực dần dần làm hỏng khiếu thẩm mỹ của họ và khi họ trở thành nhà văn, nhà thơ, khó lòng có thể đòi hỏi họ viết hay.

Tình hình ở đại học cũng không khả quan hơn. Một giáo sư trước kia dạy văn học ở trường Đại học Sư phạm, nói với tôi: "Trước khi vào trường, họ còn biết rung đùi khoái chí khi ngâm Kiều, nhưng sau bốn năm học văn học, họ mất hẳn khả năng đó. Bây giờ họ chỉ còn là những cán bộ tổ chức ngồi xét lý lịch và hành vi của tác giả và của các nhân vật trong truyện".

Nói tóm lại, các thế hệ bắt đầu đi học từ 1945 đến nay (tức ngày nay có tuổi 50 trở xuống) không hề được học để có thể viết hay. Trong khi đó, độc giả lại chỉ mong có những tác phẩm thật hay.

Đến đây, chắc chắn nhà lý luận văn học (vốn uyên thâm về chính trị nhưng lại rất cách vời với những hoài bão của độc giả) phải kêu lên: "Thế còn phẩm chất chính trị của tác phẩm thì sao?".

Xin nhà lý luận văn học chớ quá lo. Sau gần nửa thế kỷ đọc tác phẩm văn học, tôi chưa từng gặp một tác phẩm nào thực sự hay mà lại có nội dung chính trị phản động và tôi dám thách nhà lý luận chỉ ra một dẫn chứng bác lại ý tôi: giá trị mỹ học vốn đối kháng mãnh liệt với tính phản động, phản nhân đạo.

Vả chăng, cũng nên nghĩ lại một chút xem "chính trị" là gì? Trong trí óc của không ít người, "chính trị" được hình dung như một thực thể tự tại, độc lập đối với các mặt khác của cuộc sống, mang tính chất cứu cánh (mục đích tự thân), trong khi chính trị (đường lối, chính sách) thật ra chỉ là phương tiện: trong một chế độ xã hội tiến bộ, nó là phương tiện để thực hiện lẽ công bằng, đời sống no đủ của mọi người, đưa đến sự phát triển phồn vinh của nền văn hóa, trong dó có cả văn học.

Tuy nhiên, con người đôi khi nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, quên mất mục đích của mình, lấy phương tiện làm mục đích, chăm chăm thực hiện cho thật đúng cái phương tiện đã chọn, mặc dầu cái phương tiện ấy đưa đến một kết quả hoàn toàn trái ngược với mục đích đã nhằm. Thói "hà tiện" (hay "biển lận") là một trường hợp điển hình. Tôi đã từng nghe một cán bộ cấp tỉnh có tư tưởng chống đối chính sách khoán sản phẩm kêu lên trong cơn say sưa hùng biện: "50 triệu nhân dân ta thà chết đói chứ quyết không từ bỏ đường lối đúng đắn của Đảng!" (ý nói đường lối hợp tác hóa). Ô hay! Chẳng lẽ một đường lối đưa đến một nạn đói cỡ ấy lại là một đường lối "đúng đắn"?

Giá trị của "chính trị" được kiểm nghiệm trong những kết quả không mang tính chính trị trực tiếp, chứ không phải ngược lại. Thế mà đã có biết bao nhiêu lần những cán bộ, công nhân có thành tích lao động lớn, có công phát minh ra những chân lý khoa học quan trọng, sáng chế ra những thiết bị kỹ thuật làm lợi cho nhà nước hàng triệu đồng, được coi là "kém về phẩm chất chính trị" (vì có tác phong "chuyên môn thuần túy", vì có những phát ngôn không vừa ý thủ trưởng) trong khi những kẻ lười biếng, bất tài, làm ẩu, được dung thứ hay thậm chí được khen ngợi là "có phẩm chất chính trị cao" (vì bao giờ cũng hăm hở tán thưởng những chủ trương đúng và sai của cấp trên).

Có nhiều người nói là Đặng Thái Sơn chỉ được mặt tài năng, chứ mặt chính trị thì còn yếu (vì nghệ sĩ này không nói giọng chính trị khuôn sáo như họ muốn và không chơi các bài nhạc cách mạng Việt Nam). Riêng tôi, bao giờ tôi cũng nghĩ về Sơn như về một ân nhân: anh đã chứng minh cho thế giới biết rằng người Việt ra nước ngoài không chỉ biết bán dầu cù là và mua nồi áp suất, và bất cứ người ngoại quốc nào nghe tiếng đàn của anh cũng phải khâm phục sâu xa cái chế độ ưu việt đã đào tạo ra một nhân tài như vậy giữa cảnh bom đạn của những năm chiến tranh phá hoại. Tác dụng ấy của tiếng đàn "phi chính trị" của Sơn theo tôi, là một tác dụng chính trị lớn lao.

Phải, chính trị phục vụ cho các ngành nghề phát triển, nhưng ngược lại, các ngành nghề đều phục vụ trở lại cho chính trị. Nhưng các ngành nghề phục vụ chính trị không phải bằng cách nói chính trị, mà bằng kết quả riêng của mình. Nông nghiệp phục vụ chính trị bằng những vụ mùa bội thu. Ngành xây dựng phục vụ chính trị bằng số lượng, phẩm chất và vẻ đẹp của những tòa nhà. Ngành văn học phục vụ chính trị bằng những tác phẩm hay mà nó cho ra đời. Nếu trong những năm tới các nhà văn của ta cho xuất bản những tác phẩm hay như Kiều hay Chinh phụ ngâm, được toàn dân đọc say sưa đến gần thuộc lòng, được dịch ra vài chục thứ tiếng, được giải thưởng quốc tế, thì điều đó chẳng phải là một sự kiện chính trị lớn hay sao?

Một tác phẩm văn học không hay không thể có tác dụng chính trị tốt. Một tác phẩm văn học dở chỉ có thể có tác dụng chính trị xấu. Điều đó, mọi người hình như nhất trí thừa nhận. Thế nhưng trong quan niệm của một số nhà lãnh đạo, nhà phê bình văn học, nhiều tác phẩm dở vẫn được coi là "tốt" về phương diện "nội dung chính trị", và điều đó được coi là đủ để cho ấn hành các tác phẩm này, và tác giả của nó vẫn có chỗ đứng đàng hoàng trên văn đàn, trong khi đó chỉ cần có một ý, một đoạn, một câu sai chính sách (hay sai phương pháp "hiện thực xã hội chủ nghĩa") trong một tác phẩm, dù là tác phẩm hay, cũng đủ cho tác giả điêu đứng suốt đời. Và, lạ thay, đến khi cái chính sách kia đã tỏ ra sai lầm và bị mọi người lên án đúng như tác giả đã từng lên án trước kia, thì cũng không phải vì thế mà cuộc đời của tác giả đỡ long đong.

Viết đến đây, tôi không thể không nhớ đến hiện tượng Bút Tre. Thơ Bút Tre đã bị đình chỉ phát hành từ lâu. Nhưng nó lại được nhiều người thuộc hơn bất cứ thứ thơ nào khác. Thậm chí người ta còn sáng tác thêm những câu thơ "Bút Tre dởm" rất khó phân biệt với thơ Bút Tre "thứ thiệt", và cũng được nhiều người thuộc không kém. Thành thử thứ thơ này đâm ra có ít nhiều tính cách dân gian. Có người cho rằng sở dĩ được như thế là vì thơ Bút Tre "quá dở". Không, không phải thứ thơ nào "quá dở" cũng được người ta thuộc lòng. Giá không sợ làm phiền lòng các tác giả, tôi có thể dẫn ra đây nhiều câu thơ còn dở hơn, nhảm nhí hơn, chướng tai hơn thơ Bút Tre, mà chẳng có ai thuộc cả. Theo tôi, sở dĩ thơ Bút Tre "thành công" như vậy vì nó là một biếm họa sắc sảo nhại lại một loạt tác phẩm viết theo một khuynh hướng mà không hiểu vì sao người ta lại gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa". Ở ta, có quá nhiều người quan niệm cái phương pháp sáng tác này một cách thô kệch, và cách quan niệm của họ đã thống trị trong một thời gian khá dài.

Cái mà số người ấy gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa", thật ra chẳng có liên quan gì đến chủ nghĩa hiện thực cả. Đúng hơn, đó là một sự dối trá, tuy là một sự dối trá hiếu thảo (pieux mensonge). Một người con phải nói dối với cha mẹ già rằng lâu nay mình vẫn no đủ, để cho cha mẹ vui lòng nhận sự phụng dưỡng của mình; một người dân nói với nhà báo ngoại quốc rằng mình muốn ở đâu thì ở, đi nước nào thì đi, để cho hắn khỏi nghĩ xấu về nhà nước của mình, một cầu thủ giơ tay ra hiệu với trọng tài rằng mình có quyền ném biên mặc dầu biết mười mươi là chính mình đá bóng ra ngoài. Đó đều là những sự dối trá hiếu thảo, vì tình thương, vì lòng yêu nước, vì tinh thần ê-kip. Nó có cái đẹp riêng, nó khá cảm động, nhưng nó vẫn không phải là hiện thực chủ nghĩa. Trong văn học, nó không thể có sức mạnh thuyết phục và lay chuyển của sự thật được sống thật.

Dĩ nhiên, hiện thực của văn học không đồng nhất với tính có thật. Có nhiều chuyện có thật không thể đưa vào văn học, hoặc ít ra cũng không thể làm đề tài cho văn học, và một trong các lý do là nó vượt quá sức chịu đựng của một người đọc đang cần tin vào những điều được in trên trang sách để có thể cảm được cái đẹp chứa trong tác phẩm. Ở đời có những sự thật không thể tin được. Chỉ riêng trong lĩnh vực văn chương, và chỉ kể những chuyện được nhiều người biết rõ thôi, cũng đã có thể lập được một danh sách khá dài.

Một giáo sư lấy sách giáo khoa trung học của nước ngoài dịch ra tiếng Việt rồi cho xuất bản dưới tên mình thành một "công trình nghiên cứu" nhiều tập (trong bộ sách này có rất nhiều chỗ khác xa nguyên bản, nhưng những chỗ khác nhau đó đều do dịch sai mà ra).

Một học giả viết một cuốn sách phê phán tơi bời các trào lưu văn học phương Tây mà chưa từng đọc lấy một tác phẩm nào thuộc các trào lưu đó, đến nỗi lẫn lộn cốt truyện này với cốt truyện khác, tên nhân vật này với tên nhân vật khác, hoặc với tên tác giả, tên địa phương với tên nhân vật v.v...

Một nhà lý luận có cương vị lãnh đạo hết đợt này đến đợt khác lần lượt đưa ra những học thuyết động trời như "âm nhạc không phản ánh hiện thực", "trong xã hội xã hội chủ nghĩa không thể có bi kịch", "văn học dân gian ngày nay là văn học của địch", "các tác phẩm của Aitmatov mang tính hiện thực triệt để vì nó phản ánh trung thành quá trình tái lập chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô" v.v...

Một giảng viên đại học dạy văn học nước ngoài mà không hề biết lấy một ngoại ngữ, và sau hơn 20 năm giảng dạy vẫn chưa thèm biết một ngoại ngữ nào cho ra hồn v.v...

Cái khó tin nhất ở đây là các bậc học giả hữu quan, sau khi thực hiện những thành tích khó tin ấy, vẫn nghiễm nhiên giữ cương vị cao trong giới học thuật. Giá ở một thế giới phù hợp hơn với sức tưởng tượng của người bình thường, thì chỉ một phần mười những chuyện họ làm thôi cũng đủ chấm dứt vĩnh viễn một sự nghiệp văn chương.

Những chuyện như trên, rõ ràng là thuộc lĩnh vực hình sự, lĩnh vực y học, hay lĩnh vực "chuyện lạ đó đây" ngang hàng với những dị dạng như người hai đầu, đàn bà có râu xồm, anh em Xiêm La v.v... xưa kia hay được trưng bày trong các hội chợ hay các rạp xiếc; nhưng ngày nay, với sự tiến bộ của văn minh và liêm sỉ, cũng không thấy đâu đưa ra trưng bày nữa. Những hiện tượng như vậy quyết không phải là đối tượng khai thác của một nền văn học biết tự trọng.

Trên đời còn có những chuyện tuy không đến nỗi khó tin như vậy, nhưng nếu được phản ánh y nguyên trên sách báo văn học thì một người đọc như tôi cũng khó lòng có cảm xúc thẩm mỹ được, dù là cảm xúc phủ định, nhất là khi nó được đưa lên trang giấy với một tần số quá cao. Tôi xin tác giả lượng thứ cho khi tôi thú thật rằng mình không khỏi có một cảm giác ghê ghê khi đọc một vài truyện của Nguyễn Huy Thiệp mặc dầu truyện ngắn của anh được nhiều người ưa thích. Tôi không có đủ lý luận để nhận định cho rõ ràng về giá trị của những hình tượng đã gây nên cái cảm giác ấy, nhưng tôi vẫn sợ gặp quá nhiều những hình tượng như thế.

Tôi tin rằng phần đông độc giả, cũng như tôi, đều ước ao tìm thấy trong văn học những hình ảnh thức tỉnh trong lòng mình những cảm xúc cao đẹp hơn những hình ảnh trong cuộc sống lầm than hàng ngày. Và tôi nghĩ rằng trong xã hội ta ngày nay những hình ảnh như vậy không thiếu, nhất là khi nhà văn nhìn thấy nó trong những con người lao động hèn mọn không hề được xã hội coi là anh hùng hay là người tốt, thậm chí còn bị xã hội khinh rẻ, hắt hủi. Trong một hoàn cảnh mà chỉ có ý muốn sống cho trung thực, lương thiện thôi, cũng đã phải trả giá bằng bấy nhiêu cơ cực, bấy nhiêu nhục nhằn, thì hình ảnh của những con người anh hùng vô danh ấy càng đẹp đẽ lớn lao, đôi khi chẳng kém gì những anh hùng được công nhận và đề cao, nhất là khi nó lóe lên giữa bóng tối của sự vô danh và chưa hề bị những ngôn từ tuyên truyền rẻ tiền dung tục hóa đi.

Những hình ảnh tiêu cực ở tần số quá cao sẽ làm cùn mòn những cảm xúc phẫn nộ chống lại nó, nhất là vào lúc này, khi chúng ta đang dần dần đi đến chỗ coi những hiện tượng khốn nạn nhất là bình thường, và coi những hành động vô tư, vị tha cao quý là gàn dở, hay thậm chí là ngu xuẩn.

Nói như vậy, tôi không hề có ý chê trách các báo chí gần đây đã đăng nhiều tác phẩm có tính phê phán. Ít nhất là trong giai đoạn này, thiên hướng phê phán là tự nhiên và cần thiết, và việc những tác phẩm như thế được in ra là rất đáng mừng, rất đáng tự hào cho nền dân chủ của ta, cho xã hội của ta nói chung và cho giới "chính trị" nói riêng. Nói như E. Evtusenco, ta rất cần những tác phẩm như thế để "phục hồi và phát triển một tình cảm rất người mà ta đã đánh mất từ lâu: sự hổ thẹn".

Thành tựu mà các tác giả và các báo chí ấy đã đạt được chính là thành tựu của thằng bé con trong truyện cổ tích của Anderxen khi nó đứng trong đám đông mà reo lên: "Ông vua cởi truồng kìa!". Sau tiếng reo ấy, không còn ai có thể thuyết phục cho đám đông nhìn thấy lại bộ áo quần tuyệt mỹ của nhà vua kia nữa.

Nhưng tôi và những người đọc như tôi vẫn khát khao mong chờ được rung cảm với những hình ảnh cao đẹp hơn. Tôi tin rằng tất cả những ai còn tin tưởng ở tương lai đều có niềm khao khát ấy.

Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 20 (14-5-1988)

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008

Giảng viên ĐH: Lời cảnh báo của con số



Trần Thanh Minh

Viet Nam Net - Một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên chất lượng đào tạo của một trường ĐH là số lượng và chất lượng hàng ngũ giảng viên (GV). Ở đây, số lượng rất quan trọng, nhưng chất lượng (hay cơ cấu thành phần - phần trăm tiến sĩ (TS), giáo sư (GS) …) còn quan trọng hơn.

Bài 1: Giáo dục đại học Việt Nam từ góc nhìn ngoài nước

Số lượng và chất lượng


Sinh viên tốt nghiệp loại giỏi là nguồn cung cấp giảng viên ĐH. Ảnh minh họa
Vì khác hẳn ở bậc trung học (trước đây là trường cấp hai hay cấp ba), trọng trách của một giảng viên đại học rất lớn. Họ không chỉ là giảng bài, càng không phải giảng bài theo kiểu cũ tức “thầy đọc và trò ghi” mà phải luôn tiếp cận với kiến thức mới để cập nhật vào bài giảng và sử dụng phương pháp giảng dạy mới. Điều đó yêu cầu một giảng viên đại học thực thụ phải là một chuyên gia về một chuyên ngành nhất định. Chức năng này chỉ có thể hình thành qua thực tiễn nghiên cứu và triển khai.

Giảng viên đại học, do đó, bắt buộc phải tham gia công việc nghiên cứu khoa học, hoặc vận dụng những kiến thức mới mẻ vào hoạt động thực tiễn, đồng thời có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức sinh viên trong những hoạt động như vậy, xem đó là một trong những nhiệm vụ chính của mình.

Ở một trường đại học, nếu chỉ có hoạt động dạy và học, còn các giảng viên chỉ biết giảng dạy theo kiểu “thầy đọc, trò ghi”, và chỉ biết có vậy thôi, thì trường đại học đó, như người ta gọi đùa, chỉ là trường “phổ thông cấp bốn”, và chất lượng dạy và học ở đây chỉ ở mức “cơm chấm cơm”.

Vì lẽ đó, nhiều trường đại học đã xem học vị tiến sĩ “thứ thiệt” hay các chức danh chuyên môn ở các viện nghiên cứu như: nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp v.v… là những “giấy thông hành” để bước lên giảng đường đại học, hoặc để được chọn trao trách nhiệm cao hơn như: giáo sư (giáo sư nghiên cứu, giáo sư mời giảng, giáo sư thực thụ, giáo sư danh dự nói chung v.v.…) phụ trách một môn học, một bộ môn, một khoa, một hướng nghiên cứu v.v…

Và cũng vì thế, để đánh giá đẳng cấp một trường đại học không thể không căn cứ vào số lượng tiến sĩ (TS), giáo sư (GS) của trường này, đồng thời cả số lượng công trình được công bố trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín, những giải thưởng khoa học mà họ đạt được...

Tất cả các hệ thống xếp hạng trường đại học của US News and World Report, Times Higher Education Supplement (THES), Maclean University Ranking, The Guardian University guide, Đại học Giao thông Thượng Hải… đều đưa ra tiêu chí về số lượng TS, GS hay tỉ lệ số lượng TS, GS so với tổng số GV (TS,GS/GV). Yếu tố này chiếm những trọng số khá cao trong đánh giá xếp hạng. Cũng là dễ hiểu khi giá trị trọng số này sai khác nhau giữa các tổ chức hệ xếp hạng khác nhau trên thế giới.

Chẳng hạn, với Maclean University Ranking trọng số liên quan chỉ tiêu tiến sĩ và giáo sư khoảng 34%, với Guardian University Guide là 35%. Và với THES chỉ số này được phân ra rất chi tiết như: phần trăm giáo sư người nước ngoài; tỉ số sinh viên (SV) và giáo sư (SV/GS); số công trình có uy tín được công bố…, nhưng tổng cộng cũng khoảng 40%.

Trong thời gian gần đây, ở nước ta, Bộ GD-ĐT đang hoàn chỉnh bảng tiêu chí đánh giá các trường đại học, cao đẳng thích hợp với điều kiện và mục tiêu của Việt Nam. Những tiêu chí đó hẳn không chỉ để xếp hạng thứ tự các trường mà còn nhằm vào việc khắc phục, hoàn thiện hơn những mặt non yếu hiện nay của GDĐH Việt Nam. Trước hết là những non yếu của đội ngũ giảng dạy ở các trường ĐH và CĐ.

Đó cũng là một trong những lý do phải quan tâm đến sự tìm hiểu và đánh giá chính xác, không chỉ về chất lượng GDĐH nói chung, cả về chất lượng đội ngũ giảng dạy ĐH và CĐ nói riêng.

Thiếu và yếu

Vấn đề chất lượng giảng viên ĐH nên bắt đầu với con số thống kê mới nhất (tháng 8/2008) của Bộ GD-ĐT: Cả nước hiện có 369 trường Đại học, Cao Đẳng , Học viện (số trường ĐH: 160, CĐ: 209). Số sinh viên cả nước hiện nay là 1,6 triệu nhưng chỉ có khoảng 52.000 giảng viên.

Như vậy, số sinh viên trên một giảng viên SV/GV trung bình là 28. Với nhiều trường ngoài công lập, con số này chắc chắn còn cao hơn nhiều, đó là chưa kể sự sai lệch bởi những con số ảo trong những báo cáo hoặc thuyết minh xin thành lập trường mới, ngành mới...

Ngoại trừ những trường đại học hàng đầu thế giới như Đại học Harvard có tỉ số SV/GS là 3,5 và tỉ số SV/GV là 23/2, các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến nói chung có tỷ lệ SV/GV nằm trong khoảng 15 - 20. Đối chiếu với chuẩn trung bình quốc tế trên đây, và con số trung bình 28 sinh viên trên 1 giảng viên, hiện ngành Giáo dục Đại học nước ta thiếu khoảng 30.000 - 50.000 thầy cô giáo, tương đương với con số mà một vị lãnh đạo Bộ GD-ĐT đưa ra: “Số giảng viên của ngành đại học nước ta chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu”.

Nạn thiếu giảng viên ở nước ta như vậy là khá trầm trọng, không biết sẽ còn bao nhiêu năm nữa mới có thể bù đắp được sự thiếu hụt đó.

Không chỉ thiếu mà còn yếu. Về điều này, chính vị thứ trưởng nói trên cũng thừa nhận: do giảng viên lên lớp quá nhiều giờ, không có thời gian đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, bài giảng… nên chất lượng đào tạo rất hạn chế.

Một trong những thước đo chính xác chất lượng giảng viên đại học là thành tích nghiên cứu khoa học của họ. Chúng ta thử đối chiếu thành tích nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học hàng đầu nước ta và Thái Lan qua số lượng bài báo công bố trên tạp chí chuyên ngành quốc tế, chất lượng bài báo hay số trích dẫn trung bình một bài báo và vai trò đóng góp của tác giả trong nước trong tập thể tác giả bài báo. Rõ ràng, từ bảng so sánh, có thể nhận thấy chất lượng đội ngũ giảng viên ở các Đại học hàng đầu VN và Thái Lan cách nhau một khoảng quá lớn. Riêng về số bài báo khoa học công bố thì khoảng cách đó đến những trên 10 lần! Cũng là công bằng nếu bổ sung thêm rằng, về phương diện bài báo khoa học công bố quốc tế, Singapore đứng đầu khu vực Đông Nam Á chứ không phải Thái Lan và Việt Nam trong vài năm qua đã vượt lên trên Indonesia và Philippines, còn Lào, Campuchia và Mianma chưa có mặt trong danh sách so sánh.

Một thước đo đơn giản chất lượng giảng viên một trường đại học là cơ cấu thành phần giảng viên, cụ thể là số lượng tiến sĩ (TS), hay ở tỉ lệ TS/GV. Tỉ lệ này các trường ĐH nước ta chỉ mới đạt con số 12,43 %, trong lúc ở các trường đại học trung bình ở phương Tây là khoảng 70%. Với sự so sánh này, chất lượng lực lượng giảng viên đại học VN rõ ràng còn rất thấp.

Nếu so với mục tiêu (Nghị quyết 14-2005/NQ-CP) về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học (GDĐH) VN giai đoạn 2006-2020 cần đạt tới trong năm 2010 là trên 25% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ, và năm 2020 - trên 35% có trình độ tiến sĩ, chúng ta có thể thấy gánh nặng trên vai các trường đại học nước ta nặng nề và khó khăn đến mức nào.

Cũng cần lưu ý thêm rằng, sự phân bố giảng viên, đặc biệt giảng viên cao cấp (TS, GS…) lại không đồng đều. Phần lớn giảng viên trình độ cao tập trung ở các thành phố lớn. Còn các trường có lực lượng GV thiếu và phần lớn nằm ở vùng miền núi phía bắc, vùng Tây Nguyên và đồng bằng Nam bộ, ở các trường mới, trường ngoài công lập.

Lại bị pha loãng

Lực lượng cán bộ giảng dạy thiếu và yếu, vậy mà trong những năm gần đây, hàng loạt trường đại học mới ở nước ta cứ được phép ra đời với tốc độ chóng mặt. Chỉ trong vòng 3 năm, 2005-2008 có đến 20 trường đại học có quyết định thành lập (1 công lập và 19 tư thục), đồng thời nâng 28 trường cao đẳng được lên thành đại học và nâng 86 trường trung học chuyên nghiệp lên thành cao đẳng. Không biết quy trình báo cáo, thẩm định và xét duyệt để cấp phép mở trường mới diễn ra như thế nào? Đây quả là điều khó hiểu. Nhất là khi bản thân Phó TT, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cũng tỏ ra băn khoăn: “Nhu cầu người học tăng nhưng chất lượng cũng gây lo lắng cho khá nhiều người. Vì thế cần làm rõ, cơ hội nào để vừa phát triển các trường đại học, cao đẳng vừa phải tăng chất lượng. Nếu không trả lời được thì chắc chắn sẽ không nhận được sự đồng tình của xã hội”.

Theo số liệu đã biết (Lao động 228, 2/10/2007), trong số 25 trường đại học mới thành lập có trường chưa có giảng viên cơ hữu nào là giáo sư (phó giáo sư) hoặc tiến sĩ như Đại học Hoa Lư, Đại học Trà Vinh, và có trường chỉ mới có 1-2 GS hay TS như Đại học Bạc Liêu, Phú Yên, Hoa Sen. Sư phạm Kỹ thuật Vinh.

Như vậy, một mặt số trường, lớp, ngành nghề đào tạo và nhu cầu lực lượng giảng viên tăng lên vùn vụt, mặt khác số lượng giảng viên nói chung hoặc giảng viên có trình độ cao (cử nhân khá giỏi, tiến sĩ và giáo sư) lại nhích lên chậm chạp. Điều này có nghĩa là lực lượng giảng viên ngành GDĐH vốn thiếu và yếu nay lại bị căng ra, bị pha loãng ra. Trong tình hình đó, chất lượng đào tạo khó có thể giữ vững, chứ chưa nói đến phải nâng cao như yêu cầu bức thiết đặt ra trong Nghị quyết 14-2005/NQ-CP. Theo đó, ngoài một số trường phải đạt đẳng cấp quốc tế với tỉ lệ SV/GV không quá 20, đến năm 2010 có ít nhất 40% GV đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình độ tiến sĩ. Và đến năm 2020, chỉ tiêu này cao hơn với ít nhất 60% GV đạt trình độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ.

Yêu cầu đó đòi hỏi những giải pháp toàn diện và đồng bộ mang tính lâu dài của nhà nước, những liệu pháp cấp thời và mạnh mẽ của ngành GDĐH và sự nỗ lực lớn lao của toàn ngành GD, của Nhà nước và của toàn xã hội.

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2008

Cái giá văn hoá-xã hội-chính trị của các đại dự án bô-xít



DAYVAHOC Nhìn vào câu chuyện dự án bô-xít ở Đăk Nông, vấn đề lớn hơn phải đặt ra là với Tây Nguyên, bảo tồn là chính hay khai phá là chính. Trong trường hợp này, bảo tồn phải là chính và cả nước phải có trách nhiệm đảm bảo cho sự phát triển của Tây Nguyên - nhà văn hóa Nguyên Ngọc đặt vấn đề (bài đăng trên Tuần Viêt Nam).


Khai thác bô-xít ở Australia. Ảnh: uts.edu.aus

Mất rừng, mất đất, văn hóa làng Tây Nguyên về đâu?

Câu chuyện khai thác bô-xít ở Đăk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung không phải chỉ là vấn đề môi trường, tự nhiên mà chiều sâu của nó là các vấn đề xã hội, văn hóa và chính trị.

Các nhà khoa học đã cảnh báo về viễn cảnh một vùng Tây Nguyên hoang hóa, cằn cỗi, bị sa mạc hóa với những dự án tham vọng để từ đó cạo sạch rừng, bóc đi lớp đất 1-1,5 mét, moi lên hàng chục mét vỉa quặng trải dài 2/3 diện tích tỉnh Đăk Nông, một tỉnh nằm ở đầu nguồn các con sông quan trọng, ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, thậm chí cả Tây Nam Bộ và Campuchia.

Cơ quan phụ trách dự án, Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam đưa ra kế hoạch hoàn thổ: sau khai thác sẽ lấp đất lại, trồng rừng lên, lập làng lại, khôi phục lại cuộc sống cho dân… Liệu có khả thi khi mưa rừng Tây Nguyên dữ dội, lại ở vùng đất cao trên 700m và dốc đến 25 độ?

Đến những hố đào mộ cải táng nhiều khi còn loang lổ không hoàn thổ nổi, huống hồ hàng triệu khối đất sẽ bị xới tung lên.

Và nói đến đất là nói đến thổ nhưỡng, đất bị xới sâu và xới tung lên như vậy, về thổ nhưỡng sẽ có những biến đổi gì? Sẽ là một cuộc cạo sạch vĩnh viễn và khai thác tàn phá có tính tiêu diệt không hơn không kém. Rừng mất, đất cằn.

Người ta quên mất, vấn đề Tây Nguyên mấy chục năm qua chính là vấn đề đất và rừng. Đất ở Tây Nguyên cũng tức là rừng, gắn với đơn vị cơ bản và duy nhất của xã hội Tây Nguyên là làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng, và rừng núi mênh mông đều có chủ rành mạch, cụ thể. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng.

Rừng của làng gồm có: rừng đã biến thành đất thổ cư, rừng để làm rẫy, rừng sinh hoạt (để lấy các vật dụng thiết yếu cho đời sống), và rừng thiêng không ai được xâm phạm. Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), cũng có người như G. Comdominas gọi là không gian xã hội (espace social), của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên thì mới có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

Ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn.

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá. Văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Ấy vậy mà, những dự án đầy tham vọng như khai thác bô-xít Tây Nguyên, đặc biệt tại Đăk Nông, lại đang đặt việc tàn phá rừng, chiếm hữu đất thành nguy cơ nhãn tiền. Trong khi đợi hoàn thổ, làng đã bị tàn phá, thậm chí có thể biến mất. Số phận văn hóa Tây Nguyên và người dân Tây Nguyên sẽ ra sao?

Theo con số do chính cơ quan lãnh đạo tỉnh Đăk Nông đưa ra, tỷ lệ người bản địa trên địa bàn toàn tỉnh nay chỉ còn 3,5%. Liệu có đến một lúc có thể không còn xa lắm cái thiểu số quá nhỏ nhoi này sẽ bị xóa sổ luôn trong công cuộc tiến tới ồ ạt, bằng bất cứ giá nào của chúng ta?

Những nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ độc đáo, các lễ hội…, những thứ được nhắc đến như biểu tượng của văn hóa Tây Nguyên thực ra chỉ là biểu hiện bề mặt của văn hoá Tây Nguyên. Nếu tách những cái đó ra khỏi làng và rừng, mất rừng và mất làng, thì tất cả chỉ còn là những cái xác của văn hoá, những cái xác không có hồn. Mà ai cũng biết, văn hoá là hồn chứ không phải xác. Nên chú ý khi công nhận di sản văn hoá thế giới ở Tây Nguyên, UNESCO đã rất tinh, không phải công nhận cồng chiêng, cũng không phải âm nhạc cồng chiêng, mà là “không gian văn hoá cồng chiêng”, không gian ấy tức là rừng và làng.

Với những dự án bô-xít, rừng, làng mất đi, văn hóa Tây Nguyên đặc sắc cũng mất hết, còn gì nữa?!

Viễn cảnh bất ổn xã hội

Từ trước tới nay, ta đã nói về Tây Nguyên khá hời hợt, chung chung. Liệu bao nhiêu người biết trên đất Tây Nguyên có bao nhiêu dân tộc sinh sống? Tầm quan trọng của mỗi dân tộc ra sao? Đặc điểm riêng của mỗi dân tộc là gì?

Về các dân tộc quan trọng ở Tây Nguyên, có thể kể đến dân tộc Bana, tập trung ở phía Đông tỉnh Gia Lai, hay dân tộc Xê đăng nổi tiếng vì truyền thống thượng võ, dân tộc Êđê khá phát triển, 3 dân tộc này hầu hết đều sống trọn vẹn trên đất Việt Nam.

Riêng dân tộc Gia Rai và dân tộc Mơ Nông, ngoài phần ở Việt Nam, còn bộ phận khá lớn sống ở Cămpuchia. Vậy nên khi khai thác bô-xít ở Đăk Nông, là vùng đất lâu đời của người Mơ Nông, không chỉ có vấn đề môi trường, mà cả vấn đề dân tộc và chính trị cũng sẽ có tính chất xuyên biên giới. Đây là một khía cạnh quan trọng không thể không chú ý trong mọi toan tính của ta trên vùng đất này.

Thực tế, từ kinh nghiệm của các chương trình công nghiệp khắp Việt Nam, việc di dân là rất khó khăn và phức tạp, đặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số. Những khu tái định cư xây theo lối hiện đại đều bị người dân bỏ đi, và họ lùi vào rừng sâu, ngày càng khốn đốn. Hoặc có ở lại thì cũng sẽ đi làm thuê cho người nơi khác đến ngày càng giàu lên. Sự phân hóa này là rất nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định lâu dài, mất an toàn cho cả chính các nhà máy mà chúng ta đang xây lên rất hùng vĩ.

Ở Tây Nguyên, suốt hơn 30 năm qua, các dự án khu công nghiệp hiện đại, cả lớn và nhỏ, chưa từng có nơi nào thành công trong việc đưa người dân tộc thành công nhân công nghiệp. Con số người dân tộc trở thành công nhân trong các khu công nghiệp chỉ là zêrô.

Như vậy, liệu khi chúng ta làm trên diện rộng, làm ồ ạt với những dự án khai thác bô-xít khổng lồ, chúng ta sẽ đưa người dân đi đâu? Không rừng, không đất, đồng bào Mơ Nông sẽ sống bằng gì?

Dù là con đường nào, thì về mặt xã hội, đây đều là những vấn đề cực kỳ nguy hiểm. Chúng ta đã có quá nhiều những bài học sâu sắc và đau đớn ở Tây Nguyên trong hơn 30 năm qua.



Liệu một ngày nào đó, Tây Nguyên có bị nhuốm đỏ như thế này? Ảnh: ir.misis.ru

Có một điều rất đáng chú ý: trong tình chung thời gian qua ở Tây Nguyên, Kontum là tỉnh tương đối ổn định, yên tĩnh hơn cả. Vì sao? Theo tôi, có thể có hai lẽ, một là, đó là nơi người Kinh đến ít nhất, nơi người bản địa còn chiếm tỷ lệ khá lớn trong dân số, khoảng 40-45%, trong khi ở các tỉnh khác chỉ còn vài %. Hai là, Kon Tum là nơi rừng còn tốt nhất. Nghĩa là, nơi nào rừng còn tốt, người bản địa còn nhiều, thì nơi đó tương đối yên ổn, dù có thể còn những vấn đề khác.
Nhiều nhà khoa học đã cảnh báo, với những dự án bô-xít đang được triển khai, chúng ta sẽ sa mạc hóa Đăk Nông. Tôi xin được nói thêm: với Tây Nguyên, vấn đề môi trường cũng là vấn đề văn hóa - xã hội.

Kinh nghiệm của Tây Nguyên cho thấy, chừng nào môi trường còn thì văn hóa - xã hội còn, môi trường bị phá thì, văn hóa - xã hội cũng tan tành.

Đó là chưa tính đến yếu tố nước ngoài tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường ở Tây Nguyên một khi họ đã vào sâu trên một vùng đất rất nhạy cảm như Tây Nguyên. Cũng không thể không tính đến khả năng tác động của nhân tố này đến vấn đề dân tộc vốn đã khá phức tạp.

Cả nước phải lo cho Đăk Nông

Trong hội thảo vừa qua ở Gia Nghĩa, đại diện lãnh đạo Đăk Nông trút lời gan ruột: Đăk Nông nghèo, đất xấu hơn hai tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, không cạnh tranh được trong trồng cây công nghiệp. Tỉnh chỉ có hai lợi thế: thủy điện và bô-xít. Nếu không làm, Đảng bộ và chính quyền tỉnh còn có thể làm gì cho dân?

Song cũng có thể đặt câu hỏi một cách khác: liệu làm bô-xít với nhiều nguy cơ đến thế, thì có giải quyết được đời sống cho người dân tại chỗ sẽ phải hứng chịu tác động nhiều và nặng nhất không? Chúng ta sẽ có thể có một tỉnh công nghiệp hiện đại, nhưng là để cho ai?

Đúng là cũng cần hiểu cái khó của lãnh đạo tỉnh Đăk Nông, nhưng những dự án bô-xít Đăk Nông không phải là câu chuyện của riêng địa phương, giải quyết ở tầm địa phương, mà phải là vấn đề giải quyết ở tầm quốc gia. Không thể để cho Đăk Nông tự giải quyết khó khăn một mình. Giữ môi trường Đăk Nông là giữ cho cả một vùng rộng lớn, cho cả nước, vậy cả nước phải lo cho Đăk Nông.



Hồ chứa bùn đỏ ở Ấn Độ: Ảnh: ir.misis.ru


Về cơ bản, cần quyết định tạm dừng các dự án bô-xít ở Đăk Nông lại. Trước mắt, có thể làm thử một mỏ nhỏ, có thể là mỏ "1 tháng 5", hoặc mỏ Gia Nghĩa, có tính cách trình diễn, để theo dõi, quan sát khả năng giải quyết các vấn nạn rất khó: vấn đề đất cho dân, di dời dân, giải quyết bùn đỏ... tới đâu, rồi tính tiếp.

Không thể lấy lí do dự án Nhân Cơ đã chuẩn bị 3 năm nên phải tiếp tục, thay vì phải mất 3 năm cho việc chuẩn bị một dự án khác. Thà mất thêm 3 năm còn hơn chúng ta sẽ phải trả giá mấy trăm năm sau.

Về cái nghèo của Đăk Nông, trung ương và cả nước phải lo cho tỉnh này nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Bởi đổi lại việc dừng các dự án đó, Đăk Nông đã giữ an toàn cho cả khu vực và vùng còn lại, vậy các vùng khác phải có trách nhiệm trả cái giá đó cho địa phương này. Điều này cũng giống như việc buôn bán khối lượng khí CO2 được thải của các nước, hay quy định bán những tầng ảo của các tòa nhà trong khu vực phải bảo tồn...

Đặt vấn đề về các dự án bô-xít ở Đăk Nông là đặt câu hỏi làm hay không làm, chứ không phải là "tìm kiếm giải pháp giảm thiểu tác dụng tiêu cực do khai thác, chế biến quặng bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm tới kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ" như tên gọi của Hội thảo hai ngày 22-23/10 vừa qua.

Từ những dự án bô-xít, nhìn rộng ra, chúng ta buộc phải đặt lại vấn đề: với Tây Nguyên, bảo tồn là chính hay khai phá là chính. Ngay khả năng phát triển cây cafe, cao su ở Tây Nguyên cũng không phải là vô hạn, đến một mức độ nào đó sẽ phá rừng và nhất là làm mất nguồn nước ngầm, dẫn đến tình trạng đất đai bị đá ong hóa. Cho đến năm 1997, do nhu cầu tưới cà phê, tầng nước ngầm ở Tây Nguyên đã giảm mất 20m.

Không dừng sớm, chúng ta sẽ để lại cho thế hệ tương lai một cao nguyên đá ong. Phát triển cafe, cao su do đó cũng phải lấy chất lượng làm chính chứ không phải số lượng.

Cũng giống như trong một cuộc chiến, quyết định nổ súng đã khó khăn, nhưng quyết định dừng lại, rút lui, khi đã thấy xuất hiện các dấu hiệu bất lợi, lại càng khó khăn gấp bội, đòi hỏi sự dũng cảm và quyết đoán cao, tỉnh táo, tình thần trách nhiệm của người chỉ huy. Tôi cho rằng, với các dự án bô-xít hiện nay, chúng ta đang ở trong giai đoạn cần quyết định mang tính bước ngoặt, thử thách bản lĩnh người lãnh đạo như vậy.

Nguyên Ngọc