Thứ Năm, 27 tháng 11, 2008

Mười câu nói nổi tiếng của Bill Gates


Bill Gates - ông chủ của tập đoàn máy tính lớn nhất thế giới Microsoft - trước khi về hưu vào đầu tháng 7 năm nay, đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp. Hải Hiền VNN đã đưa tin. PGS.TS. Phan Thanh Kiếm đã kịp thời chuyển tin này cho DẠY VÀ HỌC


1. Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó.

2. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên.

3. Thường thì bạn sẽ không thể trở thành CEO nếu chỉ mới tốt nghiệp trung học. Nhưng khi bạn đã trở thành một CEO thì không còn ai để ý là bạn mới chỉ có tốt nghiệp trung học nữa.

4. Khi bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong công việc thì đừng có oán trách số phận. Điều bạn học được khi gặp trắc trở chính là kinh nghiệm và bài học để lần sau không bao giờ mắc phải nữa.

5. Nên hiểu một điều rằng: Trước khi có bạn, bố mẹ bạn không phải là những người “chán ngắt, vô vị” như bạn của ngày hôm nay đã nghĩ. Đây chính là cái giá rất lớn mà bố mẹ đã phải trả cho sự trưởng thành của bạn.

6. Khi đi học, bạn đứng thứ mấy trong lớp cũng không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi đã bước chân ra xã hội thì mọi việc lại không đơn giản như vậy. Dù đi đâu hay làm công việc gì bạn cũng nên tạo đẳng cấp cho mình.

7. Khi đi học, bạn luôn mong chờ đến ngày nghỉ lễ, Tết. Khi đi làm thì hoàn toàn không giống vậy, dường như là bạn sẽ không được nghỉ ngơi. Công việc sẽ cuốn bạn đi bất cứ lúc nào kể cả ngày nghỉ.

8. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên thì bạn đừng nên đi làm sau khi tốt nghiệp. Đơn giản nếu như không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty thì chắc chắn bạn sẽ không làm được gì và sẽ nhanh chóng thất nghiệp, hơn nữa lúc này sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.

9. Mọi người đều thích xem phim truyền hình, nhưng bạn không nên xem nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn. Vì công việc ở công ty mới phản ánh cuộc sống thực của bạn.

10. Không bao giờ phê bình người khác sau lưng của họ, đặc biệt đừng bao giờ phê phán sếp là người không có năng lực, điều này là không đúng.

Theo Hải Hiền - VNN

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2008

Những bài học vô giá (02)

DẠY VÀ HỌC Bài học vô giá thứ nhất từ OSHO  là khám phá năng lượng tiềm ẩn bản thân. Một nhà điêu khắc đã trả lời khi chế tác được một pho tượng tuyệt đẹp. “ Không ! Tôi không tạo ra nó. Tôi chỉ đi ngang qua con đường và pho tượng ở tảng đá đó đã gọi tôi. Tôi chỉ cắt bỏ đi những phần không cần thiết của tảng đá và thế là pho tượng xuất hiện. Tôi không thêm vào bất kỳ thứ gì. Tôi chỉ bỏ đi vài thứ”. Nếu cắt bỏ cái xấu trong con người thì tiềm năng tiềm ẩn bên trong con người đó trở nên biểu lộ rõ ràng. Đó là nguồn năng lượng tiềm ẩn như đất sét trộn lẫn với vàng. Nếu đất sét bị lột bỏ thì vàng sẽ hiện rõ. Bài học vô giá thứ hai từ OSHO là học thở và thiền định. Tập thở sâu đúng cách trong mươi phút sau đó nhắm mắt thiền định ... Thanh đạm để sáng chí. Thanh tịnh để đến xa.

... Tôi ngụ ý từ “thành tâm” có nghĩa là những người đó sẽ thực sự thử nghiệm; đối với họ có kết quả là điều chắc chắn. Chỉ có những người không muốn thực hiện thì sẽ không thu được kết quả. Và họ cũng không thể hy vọng kết quả. Tôi không yêu cầu bạn phải có bất kỳ khả năng nào khác. Không, không phẩm chất, không năng lực nào là cần thiết. Chỉ yêu cầu một phẩm chất duy nhất đó là những gì tôi sẽ nói với bạn trong thời gian bốn ngày, các bạn phải thực hiện cho tốt. Những gì tôi sẽ nói để các bạn làm trong thời gian đó là rất đơn giản, không có khó khăn gì. Thậm chí một đứa trẻ nhỏ cũng có thể thực hiện. Cho nên bạn không cần phải nghĩ rằng điều đó quá khó đến nỗi bạn không thể thực hiện. Không, nếu có bất kỳ khó khăn nào thì đó chỉ có thể là sự giả dối bên trong bạn, mà không thể là do kỹ thuật. Thậm chí một đứa trẻ hiểu được ngôn ngữ cũng có thể thực hiện. Cho nên tôi sẽ giải thích cho bạn thử nghiệm đó. Nó rất đơn giản.

Tất cả những điều có ý nghĩa đều rất đơn giản. Những điều tầm thường, vô nghĩa là rất phức tạp và khó hiểu. Tất cả mọi sự thật đều đơn giản, mọi sự giả dối đều phức tạp.

Nhưng chúng ta là những con người kỳ lạ! nếu một cái gì đó phức tạp và khó hiểu thì chúng ta nghĩ rằng nó phải là một cái gì đó như là sự thật rất sâu sắc, rất uyên thâm. Không phải như vậy. Tất cả mọi sự thật của cuộc đời đều đơn giản như hai cộng hai bằng bốn. Chỉ có sự giả dối là khó hiểu. Sự giả dối phải là phức tạp, khó hiểu bởi vì nếu nó đơn giản thì nó sẽ bị vạch trần là giả dối. Sự giả dối phải luẩn quẩn, loanh quanh một cách ranh mãnh sao cho nó không thể bị vạch trần là giả dối. Sự thật tồn tại hiên ngang và trần trụi. Như là chính nó, phải là chính nó. Không cần thiết phải thay đổi hoặc che dấu bộ mặt. Đó là lý do tại sao tất cả những vấn đề khó khăn được nói đến trong cuộc sống nói chung đều là giả dối. Tất cả những vấn đề đúng đắn được nói đến trong cuộc sống nói chung đều đơn giản và minh bạch. Đó là Upanishad, là Geeta, là Koran, là Kinh thánh hoặc những câu nói của Đức Phật hoặc Mahariva, chúng đơn giản như là hai cộng hai bằng bốn.

Sự thử nghiệm mà tôi nói với bạn là rất đơn giản. Nó sẽ mang đến những kết quả ngạc nhiên. Thử nghiệm này có bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn mười phút. Trong ba giai đoạn đầu, bạn làm một cái gì đó và trong giai đoạn thứ tư, bạn không phải làm bất kỳ điều gì. Bạn phải chờ đợi để năng lượng Thượng đế thực hiện một điều gì đó. Trong giai đoạn đầu, thử nghiệm liên quan đến việc thở nhanh trong vòng mười phút. Trong mười phút bạn phải thở như ống bễ của người thợ rèn. Bạn phải thở nhanh nhất có thể, hơi thở phải vào sâu nhất có thể. Hơi thở phải được sử dụng như ống bể lò rèn. Đầu tiên, năng lượng sống tiềm ẩn im lìm trong chúng ta bị đánh thức khi hơi thở va chạm rất mạnh. Có lẽ, bạn không biết rằng trong các cơ thể của chúng ta, không phải chỉ trong một cơ thể, năng lượng tiềm ẩn im lìm trong tất cả các trạng thái sống không là gì mà là một dạng của điện năng. Điện hữu cơ này là một dạng năng lượng-sống. Điện năng càng nhận nhiều ôxy càng thức tỉnh một cách mãnh liệt. Đây là lý do tại sao con người chết vì không có ôxy, nhưng thậm chí một người nào đó bên bờ vực của cái chết và ôxy được tiếp vào thì ít nhất người đó có thể sống thêm một thời gian nữa.  

Trong mười phút này, bạn phải hít vào thật mạnh sao cho tất cả không khí bên trong cơ thể bạn bị thổi ra ngoài và không khí trong lành bên ngoài được lấy vào trong. Tỷ lệ ôxy bên trong cơ thể bạn phải được thay đổi. Nó thay đổi bởi chính nó. Sự va đập của hơi thở phải mạnh đến nỗi năng lượng ngủ im lìm bên trong cơ thể bắt đầu thức tỉnh. Trong vòng năm phút của thử nghiệm, trong cơ thể của sáu mươi phần trăm số người bắt đầu có sự rung động. Bạn sẽ cảm nhận điều đó một cách rõ ràng đến nỗi một cái gì đó bắt đầu rung động và bốc thẳng lên. Yoga đã gọi đó là Kundakini. Nếu chúng ta hỏi các nhà khoa học thì họ gọi đó là điện năng-cơ thể. Họ sẽ nói rằng đó là điện của cơ thể.

Có một người đàn ông ở Mỹ, những thử nghiệm rất kỳ lạ với cơ thể-điện của ông ta đã được thực hiện. Điện cơ thể của ông ta nhiều hơn bình thường. Ông ta đã làm một số thử nghiệm đặc biệt với việc thở và bóng đèn củ hành năm oát trong tay ông ta đã phát sáng. Ở Thụy điển có một người phụ nữ đang còn sống, không ai có thể chạm vào người cô ta. Cô ta không thể lấy chồng bởi vì bất kỳ ai chạm vào người cô ta thì cũng bị giật như bị điện giật. Một số ít người này đã có điện dư thừa trong cơ thể họ và có thể còn có một số khác biệt về hóa học, cho nên kết quả là quá rõ ràng, quá thuyết phục. Nhưng trong cơ thể mọi người đều có điện. Bây giờ bạn sẽ nhìn thấy kết quả của sáu mươi phần trăm người ở đây. Không có lý do gì mà điều đó lại không thể xảy ra với một trăm phần trăm. Nhưng bốn mươi phần trăm, nhìn chung là không tham gia và đứng đằng sau. Đây là quan sát của tôi và vì vậy tôi đang nói là chỉ có sáu mươi phần trăm. Nhưng tôi sẽ nói với mỗi người trong số sáu mươi phần trăm đó mà không phải trong số bốn mươi phần trăm kia.

Chỉ sau năm phút, bạn sẽ cảm nhận một cái gì đó bên trong cơ thể bắt đầu rung động và bốc thẳng lên. Bạn sẽ cảm thấy rằng cơ thể đang được làm tràn đầy bởi năng lượng mới. Vào lúc hoàn thành thử nghiệm trong mười phút, bạn sẽ ở trong trạng thái bị nhiễm điện. Toàn bộ cơ thể sẽ trở thành dòng chảy năng lượng. Một cách tự nhiên điều đó sẽ có tác dụng ảnh hưởng của riêng nó. Khi có sự rung động mạnh trong cơ thể thì cơ thể bắt đầu lắc, nhảy múa, chuyển động.
Giai đoạn thứ hai của thử nghiệm cũng là mười phút, trong giai đoạn này phải cho phép cơ thể lắc, nhảy múa một cách toàn bộ hoặc làm bất kỳ điều gì mà nó muốn. Kết quả của nó là sự tẩy nhẹ. Chúng ta đã kìm nén cơ thể chúng ta trong hàng nghìn lẻ một cách. Chúng ta cũng kìm nén tâm trí chúng ta bằng rất, rất nhiều cách. Con người muốn đến với thiền định thì đầu tiên phải được giải phóng khỏi những sự kìm nén đó. Chúng ta đã kìm nén giận giữ. Chúng ta đã kìm nén ước mong. Chúng ta đã kìm nén lo lắng. Chúng ta đã kìm nén hàng nghìn lẻ một thứ trong tâm trí. Khi chúng ta muốn khóc, chúng ta đã không khóc; khi chúng ta muốn cười, cúng ta đã không cười; khi chúng ta muốn la hét, chúng ta đã không la hét; khi chúng ta muốn nhảy múa, chúng ta đã không nhảy múa. Tất cả điều đó chúng ta đã kìm nén. Có hàng nghìn lẻ một kiểu kìm nén trong tâm trí cũng như trong cơ thể. Trừ khi những sự kìm nén đó bị bỏ rơi, tâm trí không đủ ánh sáng để trở nên thiền định. Do vậy trong thời gian mười phút thứ hai, bạn phải hợp tác toàn bộ với cơ thể và cho phép nó tự do hoàn toàn. Nếu cơ thể muốn nhảy múa, hãy cho phép nó nhảy múa toàn bộ; nếu cơ thể muốn gào thét, hãy cho phép nó gào thét; nếu cơ thể muốn khóc, hãy cho phép nó khóc. Bất kỳ điều gì cơ thể muốn làm – chỉ với cơ thể bạn mà không phải với cơ thể khác – bất kỳ điều gì nó muốn làm, hãy cho phép nó tự do và hợp tác toàn bộ.

Khoảng sáu mươi phần trăm số người sẽ nhận ra một cách bất ngờ rằng có nhiều hiện tượng xuất hiện bên trong họ. Đối với phần lớn thì điều đó sẽ xuất hiện bởi chính nó, không vấn đề gì đối với họ; nhưng những người khác không cảm nhận thấy điều gì xảy ra với họ chỉ bởi vì họ quá kìm nén đến nỗi các lớp bên trong không cho phép họ vươn sâu vào trong. Tôi sẽ nói với họ đừng chán nản về điều đó. Điều đó không xảy ra với họ vậy thì thậm chí bất kỳ điều gì có thể làm thì họ nên làm trong mười phút. Nếu họ có thể nhảy múa, họ nên tiếp tục nhảy múa. Đó không phải là vấn đề của bất kỳ phương pháp, nhịp điệu hoặc kỹ thuật nào. Nếu họ có thể la hét, họ nên tiếp tục la hét. Chính ngày mai họ sẽ nhận thấy có một sự xuyên thủng và đồng thời từ đó mọi sự đau đớn(bitterness) đã bắt đầu lộ ra. Ảnh hưởng của mười phút này là rất sâu sắc. Sau mười phút nhảy múa, lắc lư, hò hét, cười đùa bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng, có lẽ trước đó bạn chưa bao giờ có trạng thái như vậy trong đời mình.

Điện năng thức tỉnh trong cơ thể bạn ở giai đoạn đầu sẽ giúp bạn nhảy múa, la hét, khóc lóc, cười đùa. Về phía mình, bạn cũng phải hợp tác và bất kỳ điều gì xuất hiện bên trong thì phải cho phép nó xảy ra một cách toàn bộ. Nếu thậm chí tay bạn lắc lư chỉ một chút vậy thì bạn hãy làm cho chúng lắc hoàn toàn sao cho bất kỳ điều gì thôi thúc mà bị kìm nến thì phải được giải phóng, được tẩy nhẹ. Thông qua bài thử nghiệm này, so much có thể xuất hiện trong bốn ngày này mà nó thậm chí không thể xuất hiện trong bốn năm bởi bất kỳ thử nghiệm phổ biến nào khác.  
Sau giai đoạn thứ hai, cơ thể bạn sẽ cảm thấy như không trọng lượng, cứ như nó đã trở nên siêu nhẹ đến mức có thể bay. Năng lượng gấp hai lần sẽ được cảm nhận. Sau giai đoạn thứ nhất, cơ thể sẽ cảm nhận tràn đầy năng lượng. Sau giai đoạn thứ hai, năng lượng sẽ tràn đầy nhưng cơ thể vẫn cảm thấy nhẹ nhõm và không trọng lượng. Sau giai đoạn hai, bạn sẽ cảm nhận một cách rõ ràng rằng, không còn thể xác mà chỉ là năng lượng.

Trong giai đoạn thứ hai này, hiện tượng kỳ lạ sẽ được trải nghiệm bởi những người đã thực sự toàn tâm với thử nghiệm và đó là lần đầu tiên họ sẽ bắt đầu cảm nhận thể xác là riêng biệt và mình là riêng biệt. Nếu bạn buông bỏ cơ thể mình một cách toàn bộ thì sự nhận diện của bạn [với cơ thể] sẽ bị phá vỡ. Điều này có thể xuất hiện hôm nay. Chỉ một điều kiện là bạn phải hợp tác toàn bộ, bạn không ngăn chặn điều gì từ phía bạn. Bạn không được nghĩ rằng khi bạn nhảy múa hoặc la hét, một người nào đó sẽ nói điều gì đó. Bất kỳ điều gì xuất hiện từ bên trong bạn, hãy để cho nó xuất hiện, bạn đừng lo lắng về điều đó. Thế rồi trong mười phút này, những gì bạn đã từng nghe hoặc từng đọc rằng thể xác và bạn là riêng biệt sẽ trở thành một phần kinh nghiệm của bạn. Bạn có thể nhìn thấy cơ thể nhảy múa tách rời khỏi bạn, bạn sẽ trở thành người chứng kiến rằng cơ thể đang khóc. Bạn sẽ có khả năng nhìn thấy rất rõ ràng rằng một người nào đó khác đang cười còn mình thì đang chứng kiến. Sự nhận biết là ô cửa cần thiết cho bạn đi sâu hơn vào thiền định. Không có điều này, không ai có thể vào trong thiền. 

Ở giai đoạn thứ ba khi kinh nghiệm này xuất hiện ở giai đoạn thứ hai rằng cơ thể là tách biệt với bạn thì sẽ có câu hỏi tự nhiên nảy sinh, vậy thì ta là ai? Cho đến bây giờ ta nghĩ rằng ta là cơ thể, ta là hơi thở, bây giờ hơi thở và cơ thể là riêng biệt với ta - vậy thì ta là ai? trong giai đoạn thứ ba này, chúng ta sẽ hỏi bên trong bản thân mình – ta là ai?

Trong mười phút đầu thở nhanh và hoang dại, trong mười phút thứ hai hợp tác tuyệt đối với cơ thể, và trong mười phút thứ ba, sự thắc mắc mãnh liệt: ‘Ta là ai?’ bạn phải hỏi bên trong bản thân bạn một cách hùng hồn từ ngón chân cho đến đỉnh đầu, chỉ một câu hỏi bắt đầu dội lại: ‘Ta là ai?’, bây giờ sóng của điện được đánh thức sẽ bắt câu hỏi của bạn và sẽ bắt đầu dội lại trong sự rung động của toàn bộ cơ thể - ‘Ta là ai?’ bạn phải hỏi nhanh đến nỗi không có khoảng trống giữa hai ‘ta là ai?’ Bạn phải hỏi với sức mạnh đến nỗi không còn thời gian, không còn năng lượng hoặc sự thuận tiện để nghĩ đến bất kỳ điều gì khác. Cho nên, trong mười phút chỉ một câu hỏi giữ nguyên. Sau năm phút yêu cầu mãnh liệt bên trong, đối với nhiều người thì điều đó hẳn là quá ồn đối với bên ngoài. Không có gì phải lo lắng về điều đó.

Ngay từ đầu, ‘ta là ai?’ đã được hỏi bên trong. Nếu nó bắt đầu ra bên ngoài, khi hét lên thì hãy để nó ra ngoài. Không việc gì phải lo về điều đó. Trong ba mươi phút cơ thể bạn sẽ mệt mỏi, sinh khí của bạn sẽ mệt mỏi, năng lượng tâm trí bạn sẽ mệt mỏi. Ba giai đoạn này sẽ làm cho ba sự tác động này mệt mỏi. Trong ba mươi phút bạn đã đạt tới cực đỉnh của căng thẳng, bạn phải thực hiện tất cả điều này trong ba mươi phút mãnh liệt đến nỗi thậm chí nếu bây giờ bạn muốn hét thì bạn cũng không còn khả năng mà bạn chỉ muốn giữ im lặng. Nếu bạn liên tục hỏi ‘ta là ai?’ một cách chậm rãi như người sắp chết vậy thì xung lượng đó hẳn là không được tạo ra một cái gì đó cốt yếu. Nước phải đun sôi đến một trăm độ thì mới bốc hơi. Nó không thể bốc hơi ở chín mươi tám, chín mươi chín độ. Bạn không thể nói với Thượng đế rằng tại sao một độ này lại quá cứng đầu. Nó đã tới chín mươi chín độ, hãy làm cho nó bốc hơi dùm, đó chỉ là vấn đề của một độ. Nó đã tới chín mươi chín rồi, tại sao bạn lại quá đau khổ vì một độ? Nhưng điều đó không tạo ra sự khác biệt nào. Nước sẽ chỉ bốc hơi ở một trăm độ. Nếu bạn thậm chí dừng ở chín mươi chín độ thì sự bay hơi vẫn còn xa vời, nước sẽ dần dần lạnh trở lại.

Cũng giống như vậy, trong mỗi cá nhân có điểm cực đỉnh mà từ đó, sự di chuyển thẳng đứng của năng lượng sống sẽ bắt đầu, từ đó sự xoay vòng bắt đầu, từ đó sự đột biến bắt đầu. Nếu bạn không đạt tới điểm một trăm độ, nơi con người tan rã và Thượng đế bắt đầu, bạn sẽ rơi trở lại về số không và toàn bộ nỗ lực đã bị lãng phí. Điều đó sẽ không có ý nghĩa gì. Do vậy tôi sẽ yêu cầu bạn rằng bất kỳ điều gì tôi đang nói thì hãy thực hiện một cách thành tâm và nhìn xem. Nhìn xem có thể làm được điều gì. Sự thử nghiệm trong bốn ngày và bạn hãy tự nhìn nó. Những người thử nghiệm một cách thành tâm sẽ đạt được sự thật. Sự thật không được yêu cầu trước đó. Bạn không cần phải tin rằng những gì tôi đang nói sẽ chắc chắn xảy ra. Bạn chỉ cần chấp nhận điều này một cách mạnh mẽ rằng con người này đang nói một cái gì đó và hãy để cho chúng tôi trải nghiệm và xem xét. Nếu một cái gì đó xuất hiện vậy thì điều đó là tốt, nếu không có gì xảy ra thì hãy nhận biết rằng đó là sai. Nhưng nếu bạn đã thực hiện, thì hiện tượng là chắc chắn như nước bốc hơi ở một trăm độ. Không có ai cần thiết phải tin điều đó; nước không được đun sôi bởi bất kỳ niềm tin nào; bạn có thể là người-không tin, người vô thần thì điều đó cũng không tạo ra khác biệt; bạn đun nước và nó sẽ bốc hơi ở một trăm độ.

Thiền định mà tôi đang nói đến, là một hiện tượng hoàn toàn khoa học. Bạn có thể là người vô thần, bạn có thể là người-không tin, bạn có thể từ chối linh hồn, bạn có thể từ chối tôn giáo – không vấn đề gì, không cần thiết phải tin bất kỳ điều gì. Bạn thử nghiệm và sẽ tìm ra những sự thay đổi bên trong xuất hiện thông qua thử nghiệm đó.

Sự thật là kết quả của thiền định, mà không phải là đòi hỏi trước đối với điều đó. 

Hãy để tôi nói thêm một số điều trước khi các bạn đứng dậy thực hiện thử nghiệm, thực hiện bài tập. Những người có thể bị ốm hoặc sức khỏe yếu thì có thể ngồi để thực hiện bài thử nghiệm, tất cả những người còn lại sẽ đứng để thực hiện. Đứng lên thì kết quả sẽ nhanh hơn, còn ngồi thì thì kết quả sẽ chậm hơn. Tất cả những người đứng sẽ tạo ra một khoảng không đủ xung quanh mình. Có rất nhiều khoảng trống ở đây. Sao cho nếu bạn nhảy múa, bạn sẽ không va chạm với bất kỳ ai. Nhưng nếu một người nào đó có thể va chạm thì cũng đừng bận tâm về điều đó.

Còn hai vấn đề nữa. Trước khi bài tập thử nghiệm bắt đầu, tôi sẽ yêu cầu các bạn nhắm mắt và phải giữ nguyên mắt nhắm trong suốt bốn mươi phút. Đây sẽ là quyết tâm mạnh mẽ đầu tiên của các bạn. Điều này phải được thực hiện một cách thành tâm. Thậm chí nếu bạn mở mắt một lần, bạn sẽ bị lỡ. Năng lượng được tích lũy bên trong bạn sẽ bị lãng phí. Phần chính của năng lượng bên trong chúng ta bị tiêu tan thông qua mắt của chúng ta. Do vậy mắt phải tuyệt đối nhắm lại trong suốt bốn mươi phút. Cho đến khi chưa có lời đề nghị nào thì mắt vẫn không được mở. Sẽ có sự la hét, khóc, nhảy múa xung quanh bạn và bên trong bạn, bạn không nên bận tâm. Có thể có ước muốn được nhìn, bởi vì đứa trẻ bên trong chúng ta không chết quá sớm. Đứa trẻ bên trong này không chết nhanh khi cơ thể có sự thay đổi; nó có thể ước mong muốn biết người bên cạnh đang làm gì. Vì mục đích đó, tôi đã cho gọi đoàn làm phim. Họ đã sẵn sàng cho ngày hôm nay và buổi tối chúng tôi sẽ cho chiếu lại và các bạn có thể thấy ai đang làm gì. Cho nên sự tò mò của bạn sẽ được thỏa mãn. Do vậy mà ngay bây giờ bạn không phải lo lắng về việc ai đang làm việc gì. Bạn sẽ nhìn thấy điều đó trong phim.

Người nhìn ngó không được phép ở đây. Nếu một người nào đó chỉ ở đây để nhìn thì anh ta nên ra khỏi trại hoặc anh ta phải ở xa phía sau, nhưng sẽ không có ai ở đây như là một người nhòm ngó. Bất kỳ ai không tham gia vào sự thử nghiệm thiền định này sẽ phải rời khỏi nơi đây. Sự có mặt của họ sẽ làm phiền nhiễu tới tất cả bạn bè của chúng ta. Họ phải rời khỏi đây. Khi bạn đang thiền, toàn bộ không khí được thay đổi, thậm chí một người không tham gia đứng ở giữa cũng làm hại và làm đứt đoạn dây chuyền năng lượng. Con người đó không cần thiết phải ở đây. Do vậy những người không muốn tham gia, không được đứng ở đây, họ phải rời đi một cách lặng lẽ. Hãy di dời tất cả ghế tựa ở đây, bởi vì một người nào đó có thể bị vấp và ngã xuống. Các bạn phải bỏ tất cả ghế ra ngoài.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2008

Những bài học vô giá (01)


DẠY VÀ HỌC. Bạn và tôi, chúng ta hãy đến dự một tiết giảng của OSHO 1970. THE SUN CONSCIOUSNESS. Talks given from 17/10/1970 to 20/10/1970. Original in Hindi. Người dịch: Nguyễn Đình Hách. MẶT TRỜI TÂM THỨC. Con trai tôi đã nhận được tuyệt phẩm này từ việc thành tâm học hỏi những người đáng kính ở một ngôi chùa cổ gần gò Ngọa Long (Hình 1 và Hình 2). Đó là lần Hoàng Long bị cảm hàn sau đợt rét kinh người, đã được chữa trị bằng y thuật khí công cổ truyền Trung Hoa và đã chứng nghiệm được những bài học vô giá mà đa số người Việt chúng ta chỉ mới "bán tín bán nghi" khi xem trên phim ảnh.



OSHO là ai? MẶT TRỜI TÂM THỨC nói điều gì? NHỮNG BÀI HỌC VÔ GIÁ nào phải nhận thức lại? Chúng ta hãy đọc. Khoan vội chấp nhận hay bác bỏ trước khi nghiên cứu và trải nghiệm nó (Hình 3). Các lý thuyết chỉ mang tính hướng dẫn. Sự chiêm nghiệm thực tiễn gắn lý thuyết với thực hành mới là điều quan trọng nhất. Triết lý sống cơ bản của bạn và của tôi đó là sự TỰ GIÁC NGỘ "Tìm lại chính mình". Đức Phật nói: “Tôi không đạt được điều gì mà chỉ là, những gì đã có ở trong tôi đã trở nên biểu lộ rõ ràng, trở thành nhận biết với tôi. Tôi đã không đạt được gì, những gì tôi đã có, tôi đã mơ ngủ về nó thì nay tôi đã thức tỉnh đối với nó”

Xin phép thiền sư Osho và dịch giả Nguyễn Đình Hách cho phép chúng tôi thành tâm, lặng lẽ đến dự giảng ...

Chương 1: NHỮNG NGƯỜI BẠN YÊU QUÝ CỦA TÔI

17 tháng mười năm 1970, buổi tối ở Poona, Ấn Độ.

[Ghi chú: đây là bản dịch từ Hindi Neo-Yoga Sutras, bản dịch này đang trong quá trình biên tập và chỉ dùng để nghiên cứu.]

Năm ngoái, tại hội nghị thế giới của các nhà nghiên cứu sinh học, vị chủ tịch hiệp hội sinh học nước Anh tên là Badkun đã đưa ra tuyên bố. Tôi muốn bắt đầu buổi thuyết giảng hôm nay với tuyên bố đó. Ông ta đã nói một điều rất có ý nghĩa trong tuyên bố đó rằng, sự tiến hóa của loài người không phải là việc bổ sung một cái gì đó mới, mà là sự rơi rụng của một vài trở lực cũ. Trong sự tiến hóa của con người, không gì được bổ sung thêm mà chỉ là những gì ẩn chứa bên trong con người trở nên rõ ràng, hiển hiện. Chỉ có những trở lực bên trong là bị gạt ra bên ngoài. Nếu bạn so sánh con người với thú vật thì con người không có gì nhiều hơn con vật; đúng hơn là con người có ít hơn. Những trở lực trong con vật đã bị rơi rụng trong con người và những gì tiềm tàng trong con vật đã biểu lộ trong con người.

So sánh với con vật thì cây cối có nhiều trở lực trong nó hơn. Nếu chúng rơi rụng thì cây cối sẽ biến thành con vật. Nếu trở lực của con vật bị rơi rụng thì con vật sẽ trở thành con người. Nếu trở lực của con người bị bỏ rơi thì bất kỳ điều gì còn lại cũng được gọi là Thượng đế. Nếu tất cả mọi trở lực bị bỏ rơi thì tất cả mọi tiềm năng im lìm trở nên biểu lộ một cách hoàn hảo, vậy thì bất kỳ tên nào mà chúng ta gán cho nó thì cũng là năng lượng của linh hồn, Thượng đế hay bất kỳ điều khác hoặc thậm chí chúng ta không muốn cho nó cái tên thì nó cũng sẽ là như vậy. Con người có những trở lực bên trong do vậy họ không có khả năng phát triển. Badkun không liên quan gì với vấn đề tâm linh nhưng tuyên bố của ông ta chính xác là như vậy. Hai mươi lăm thế kỷ trước Đức Phật cũng đã chỉ ra như vậy sau khi Người chứng ngộ.

Vào ngày mà Đức Phật chứng ngộ, mọi người đã hỏi, “Thầy đã đạt được điều gì?” Đức Phật nói, “Tôi không đạt được điều gì mà chỉ là, những gì đã có ở trong tôi đã trở nên biểu lộ rõ ràng, trở thành nhận biết với tôi. Tôi đã không đạt được gì, những gì tôi đã có, tôi đã mơ ngủ về nó thì nay tôi đã thức tỉnh đối với nó”. Đức Phật còn nói, “Tôi muốn nói với các ông rằng, thậm chí đã từng có sự ngu dốt, đã từng có điều vô nghĩa và nay nó đã biến mất. Về những gì đạt được, tôi có thể nói rằng, tôi đã có trước đó, nhưng tôi chỉ không nhận biết được nó mà thôi”.

Không có sự khác nhau trong tuyên bố của Badkun và của Đức Phật. Nhưng tuyên bố của Badkun được đưa ra liên quan đến các loài thấp hơn loài người, và tuyên bố của Đức Phật được đưa ra liên quan đến cá thể đã vượt lên trước con người. Quá trình thiền định không đưa bạn vào một vài cuộc đời mới mà chỉ giới thiệu bạn tới thế giới mới mà ở đó bạn đã sống từ cuộc đời này tới cuộc đời khác. Quá trình thiền định không bổ sung thêm cho bạn bất kỳ điều gì mà nó chỉ lấy đi những gì sai; cắt bỏ, lột đi.

Một người nào đó nói với nhà điêu khắc rằng ông ta đã chế tác một pho tượng quá đẹp. Nhà điêu khắc nói, “Tôi không tạo ra nó. Tôi chỉ đi ngang qua con đường và pho tượng ở tảng đá đó đã gọi tôi. Tôi chỉ cắt bỏ đi những phần không cần thiết của tảng đá và thế là pho tượng xuất hiện. Tôi không thêm vào bất kỳ thứ gì. Tôi chỉ bỏ đi vài thứ”.

Nếu cắt bỏ cái xấu trong con người thì tiềm năng tiềm ẩn bên trong con người đó trở nên biểu lộ rõ ràng. Thượng đế không có gì khác với con người. Đó chỉ là tên của năng lượng tiềm ẩn bên trong con người. Nhưng như chúng ta đây, có rất nhiều đất sét trộn lẫn với vàng. Nếu đất sét bị lột bỏ thì vàng sẽ trở nên hiển hiện rõ ràng.

Cho nên đối với thiền, điều đầu tiên tôi phải nói với bạn rằng, những gì bạn sẽ có trong những thời điểm cuối cùng của sự trưởng thành trong thiền, thực ra bạn đã là bạn, ở đây và bây giờ. Thiền không bổ sung bất kỳ điều gì vào bạn mà nó sẽ bỏ đi vài thứ. Nó sẽ cắt bỏ một vài thứ sai, vài thứ xấu xa khỏi bạn. Nó sẽ phá hủy một vài thứ không cần thiết và những gì có ý nghĩa sẽ được tạo cơ hội để biểu lộ toàn bộ.

Không có gì mới được bổ sung, chỉ những trở lực cũ sẽ bị bỏ rơi. Những thử nghiệm, những bài tập chúng sẽ tiến hành trong bốn ngày tới chỉ để bỏ rơi những trở lực, đó là những thử nghiệm, những bài tập rất sống động, rất tinh tế. Tất cả những người sẽ sẵn sàng thực hiện nó một cách thành tâm thì kết quả sẽ đến với họ là điều chắc chắn. Việc hiểu nghĩa của từ “thành tâm” là điều rất tốt.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2008

Yên Tử nơi “vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả”



Anh Phương

DAYVAHOC. Nguyễn Trãi cũng từng viết rằng: Trên non Yên Tử chòm cao nhất/ Trời mới canh năm đã sáng tinh/ Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả/ Nói cười người ở giữa trời xanh/ Muôn hàng giáo ngọc che gài cửa/ Bao dải lụa châu đá rủ mành/ Dấu cũ Nhân Tông còn vẫn đấy. Cũng từ đỉnh cao ấy, nhìn về phía Tây Yên Tử, qua phủ Lạng Thương chính là Xa Lý, Nội Bàng, những cửa ải quan trọng trấn giữ phía Bắc? Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận cho rằng Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo nhập thế, liên hệ mật thiết tới chính trị. (Trúc Lâm Thiền viện trên Yên Tử. Ảnh: TUẤN MINH)

Cuối thu, người hành hương đã vãn, giữa thăm thẳm cao xanh, sân chùa Hoa Yên vắng lặng, trầm mặc như đã trầm mặc từ hơn 700 năm trước. Như còn thấp thoáng đâu đây bóng cà sa của Đức Đầu đà Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, vị tổ khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử

700 năm đã qua, kể từ ngày Đức Đầu đà Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, song nhân sinh quan đậm đà sắc thái Việt Nam vẫn được ứng dụng: “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên” - cái tinh thần “tùy duyên nhi bất biến”, hay “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trải qua mấy chục năm hưng thịnh rồi không thấy ai nói tới đệ tứ tổ Trúc Lâm... Song giờ đây, giữa lưng chừng núi, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của chùa Lân mà Đức Điều ngự Giác hoàng từng thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam. Mỗi khi thấy bóng áo cà sa, các phật tử thành kính cúi chào và được đáp lại bằng những giọng nói của những vùng miền khác nhau.

VÌ SAO YÊN TỬ?

Truyền thuyết kể rằng, hồi còn nhỏ tuổi, Trúc Lâm đã có ý không muốn làm vua và muốn nhường địa vị đông cung thái tử cho em. Sau khi đại thắng quân Nguyên, xã tắc yên bình, vua Trần Nhân Tông quyết chí tu hành. Ngài chọn ngọn núi có tượng An Kỳ Sinh để quy y đầu Phật. Một hôm, tiết trời trong sáng, ngài ngự tọa trên đỉnh núi nhìn về phía phủ Kinh Môn, thấy một ngọn núi lấp lánh có mây ngũ sắc bao phủ, bèn hỏi đệ tử đó là núi nào? Đệ tử thưa: Đó là núi Yên Phụ, thờ Đức An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Nhân Tông giật mình, liền quỳ vái năm vái về phía núi Yên Phụ và nói: “Đức An Sinh là bậc tông tổ, còn ta là hạng cháu con. Ngài đặt tên núi ngài ngự là Yên Phụ. Vậy núi này chỉ nên đặt là Yên Tử cho phải đạo”.

Trước khi nhà vua xuất gia tại chùa Hoa Yên năm 1299, Yên Tử đã là đất Phật của thiền phái Yên Tử, mà ngài chính là truyền thừa chính thức đời thứ sáu của thiền phái Yên Tử và thành tổ Trúc Lâm Yên Tử, tổ sư thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Ngoài ra, nơi đây còn có thiền sư tu theo các dòng phái khác nhau. Du khách, người hành hương có thể nhận thấy điều này ngay trước khi đặt chân lên chùa Hoa Yên, cách vài bậc đá ở một khu vườn bên phải có đặt một bảo tháp bằng đá của vị thiền sư theo dòng Lâm Tế. Từ chùa Hoa Yên lên chùa Bảo Sái, còn một cụm tháp khác cũng thuộc Lâm Tế.

Vẫn biết sự tích là thế, nhưng vì sao Trần Nhân Tông lại chọn Yên Tử mà không phải là nơi núi non hùng vĩ nào khác, hơn nhiều so với Yên Tử? Tại sao không phải là Hương Tích; Nam Thiên đệ nhất động; tại sao không phải là Hoa Lư, cố đô xưa, một trung tâm Phật giáo lớn, một nơi sơn thủy hữu tình...? Ngoài lý do Yên Tử là thánh địa Phật giáo Việt Nam, có lẽ Đức Trúc Lâm Đầu đà còn chọn núi Yên Tử vì đấy là nơi cao xanh nhưng gần với với thế tục. Đứng ở độ cao 1.068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng trong vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch Đằng, nơi chôn vùi vĩnh viễn tham vọng biến Đại Việt thành một châu quận của Nguyên Mông. Nguyễn Trãi cũng từng viết rằng:

Trên non Yên Tử chòm cao nhất/ Trời mới canh năm đã sáng tinh/ Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả/ Nói cười người ở giữa trời xanh/ Muôn hàng giáo ngọc che gài cửa/ Bao dải lụa châu đá rủ mành/ Dấu cũ Nhân Tông còn vẫn đấy.

Cũng từ đỉnh cao ấy, nhìn về phía Tây Yên Tử, qua phủ Lạng Thương chính là Xa Lý, Nội Bàng, những cửa ải quan trọng trấn giữ phía Bắc? Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận cho rằng Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo nhập thế, liên hệ mật thiết tới chính trị.

CON ĐƯỜNG DI SẢN

Vẫn cứ đinh ninh rằng đất Phật Yên Tử ngày nay vốn chỉ là một không gian ước lệ, Yên Tử xưa có khi rộng lớn hơn nhiều. Trong khi các nhà nghiên cứu Phật giáo, nhà khảo cổ còn tranh cãi về am Ngọa Vân - nơi Đức Điều ngự Giác hoàng nhập niết bàn – nằm ở giữa am Dược, am Hoa trên đỉnh Yên Tử (thị xã Uông Bí, Quảng Ninh) ở thôn Tây Sơn (xã Bình Khê, huyện Đông Triều, Quảng Ninh), hay mãi phía sườn tây Yên Tử mạn bên dãy Yên Sinh thuộc tỉnh Bắc Giang thì rõ ràng không gian Yên Tử xưa rất rộng.

Chỉ tính trong không gian Yên Tử ngày nay, trên chặng đường hành hương dài tới 20 km từ chân núi lên đỉnh cao 1.068 m, quần thể di tích Yên Tử có tới 11 ngôi chùa. Bên cạnh đó còn rất nhiều am, tháp trải từ chân dốc Đỏ ở Bí Thượng đến đỉnh chùa Đồng. Từ chân lên đỉnh núi trước đây phải đi bộ mất hơn 6 giờ, vượt qua hàng ngàn bậc đá xếp, dài hơn 6 km thì người hành hương mới đến được đỉnh núi. Giờ hành trình lên Yên Tử ngày nay không vất vả như xưa nữa vì hệ thống cáp treo 1 lên gần Hoa Yên đã hoàn thành năm 2002. Hệ thống cáp treo 2 lên cổng trời đã được đưa vào sử dụng vào mùa lễ hội 2008.

Dù ai quyết chí tu hành/Có về Yên Tử mới đành lòng tu. Có lẽ vì thấm nhuần câu ca ấy mà số đông người đi cáp treo lại là giới trẻ và những người đi vãn cảnh. Phần lớn những người hành hương, trong đó có những bà cụ ngoài tám mươi vẫn chọn cách đi bộ, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông. Thấy tôi thở không ra hơi, một nữ phật tử quê Ninh Bình bảo, cứ đi, “ngài” phù hộ không thấy mệt chút nào hết...

Đường vào Yên Tử là con đường di sản văn hóa, phải qua cửa Ngăn (ngăn bụi trần) có ngôi miếu thờ nữ thần và chùa Suối Tắm, nơi Trúc Lâm trước khi nhập thiền đã tắm ở đây. Qua Suối Tắm, đến chùa Cầm Thực, nơi vua Trần Nhân Tông dốc chí tu hành, nhịn ăn chỉ uống nước cầm hơi. Đi tiếp, qua dốc Mụ Chị, Mụ Em, đến Linh Động Tự, còn gọi là chùa Lân. Nơi đây có 25 ngọn tháp bằng gạch đá, đẹp nhất là tháp Tịnh Quang, nơi giữ xá lị sư Tuệ Đăng.

KHU THÁP CỔ YÊN TỬ

Từ suối Giải Oan - tương truyền các cung tần mỹ nữ sau khi khuyên vua Trần Nhân Tông hoàn tục không được đã tuẫn tiết ở suối này – vượt qua dốc Dây Diều, Vá Quỳ đến gò đất rộng và bằng phẳng. Hiện ra trước mắt 8 ngôi tháp, trong đó 3 tháp đá cao 3 tầng, ngọn cổ nhất có niên đại 1.758. Đi thêm 100 m, đến khu Tháp Tổ, rộng khoảng 3.000 m2, có 97 ngọn tháp mộ với nhiều kích thước, kiểu dáng, kết cấu, ẩn hiện dưới hàng cổ tùng 700 tuổi trầm mặc.

Từ khu Tháp Tổ đi lên theo đường đá lát, đến Vân Yên Tự - chùa Mây Khói - ở độ cao 543 m so với mặt biển. Sau này vua Lê Thánh Tông đổi thành Hoa Yên Tự. Chùa có nhiều hoa cúc, vạn thọ rực rỡ, nhìn xa như ánh hào quang, lại có cây đại trên 700 tuổi. Tượng Điều ngự Giác hoàng đặt ở hậu cung, bên phải có suối Ngự Dội (suối Vua Tắm). Tiếp đó, đến am Ngọa Vân và chùa Một Mái. Từ chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiên ở cao độ 700 m, đường dốc khó đi, nơi đầu gối quá tai, người hành hương đến chợ Trời, cổng Trời. Cổng Trời là nơi có đường luồn qua vách đá. Qua cổng Trời, du khách sẽ được chiêm ngưỡng bức tượng đá tự nhiên được tạo bởi bàn tay của con người có tên An Kỳ Sinh, cao 2,2 m.

Qua hàng trăm phiến đá khổng lồ xếp nghiêng, ngôi chùa Đồng - Thiên Phúc Tự nằm trên đỉnh cao nhất của dãy Yên Tử. Trong chùa có thờ tượng Thích Ca và tượng thờ tam tổ: Trúc Lâm, Pháp Loa và Huệ Quang.



Cổ tùng trên đất Phật

Có có không không/ Lập tông lập chỉ/ Đập ngói, xoi rùa/ Leo núi, lội sông.../ Có có không không/ ...Tuyết trên nón lá/ Hoa trên hài nhung/ Ôm cây đợi thỏ... Nhẩm trong tâm trí mấy câu kệ dễ thuộc nhất của 8 bài kệ “có không”, của Trúc Lâm, tôi không đến Yên Tử theo con đường dễ nhất, từ Hà Nội, vượt 120 km theo Quốc lộ 18 thênh thang đến Yên Tử. Chọn con đường khó hơn, từ Hà Nội, qua Bắc Giang đến thị trấn An Châu (huyện Sơn Động, Bắc Giang). Từ đó, bỏ đường nhựa, căn cứ theo bản đồ địa hình, lần theo lối mòn cũ từ thời chiến tranh giờ cỏ mọc ngang người để đến đèo Hạ My, vào Yên Tử từ phía Tây. Đây cũng là con đường dân “phượt” Hà Nội thích đi và trải nghiệm.

Tinh mơ sáng, núi Vảy Rồng (hay Bảo Đài sơn), tay ngai phía Tây dãy Yên Tử hiện ra trước mắt, một điểm đến đầu tiên không theo thông lệ. Nơi đây có một Ngọa Vân am khác (thôn Tây Sơn, xã Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh) mà một số nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo cổ cho rằng mới chính là nơi Đức Trúc Lâm Đầu đà nhập niết bàn. Những truyền thuyết dân gian ở đây kể rằng khi Đức Trần Nhân Tông lên Ngọa Vân am, ngài thường đi theo đường từ Đền Sinh, qua khu Trại Lốc, dọc theo suối phủ Am Trà rẽ phải rồi qua Thông Đàn và tới Ngọa Vân am. Hàng chục cây thông khổng lồ giống như những cây mọc trên dãy cổ tùng Yên Tử, đường kính từ 0,8 m đến 1 m sừng sững giữa trời. Mỗi khi nổi gió, cả dãy thông ngân lên vi vút như có dàn nhạc vậy, phải chăng vì thế mà núi có tên Thông Đàn.

Vẫn đinh ninh về loài thông ấy, địa danh ấy, tôi đã chọn cách leo bộ lên Yên Tử để được thả bộ dưới hàng cổ tùng hàng trăm năm tuổi. Yên Tử đặc biệt nhiều trúc và tùng. Phải chăng đó là một biểu hiện của sự thanh tao, của cốt cách người quân tử? Có một điều lạ nữa, ở Yên Tử, mọi am, tháp đều được dựng giữa hai gốc cổ tùng đều nhau tăm tắp. Có một cách lý giải rằng theo quan niệm của người phương Đông, tùng vốn là cây thiêng có khả năng hút linh khí của trời đất, việc tọa thiền dưới gốc tùng sẽ làm tăng công năng tu tập của mỗi thiền sư?

Báo Người Lao Động
http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/phong-su/245424.asp

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2008

Thư từ Mỹ


OBAMA

Trần Hữu Dũng
Tháng 11, 2008

Bạn quý mến,

Thế là thượng nghị sĩ Barack Obama, 47 tuổi, cha là người Kenya, mẹ là người Mỹ da trắng, đã đắc cử tổng thống Mỹ. Tin tức về cuộc bầu cử lịch sử này hẳn đã tràn ngập trên các phương tiện truyền thông nơi bạn ở, tôi sẽ không đi vào chi tiết, chỉ xin ghi lại vài ấn tượng cá nhân.

Theo tôi, chiến thắng của Obama có bốn lý do chính. Một là, sau tám năm dưới quyền Bush, đa số dân Mỹ đã quá chán ngán chính phủ này (vào những ngày trước bầu cử, không đến 30% dân Mỹ là vừa lòng với Bush), phần vì chiến tranh Iraq nhưng phần lớn hơn là vì sự bất tài, bất lực, và hầu như vô tâm của Bush trong cách đối phó với nhiều vấn đề của Mỹ (đặc biệt là việc cứu trợ nạn nhân bão lụt Katrina hai năm trước). Hai là, sự hấp dẫn của cá nhân Barack Obama, cộng với tài tổ chức (và gây quỹ!) tranh cử tuyệt vời của ông ta. Ba là, nhược điểm của McCain: ông này không có vẻ nắm vững tình hình, bốc đồng, thường thay đổi ý kiến, chọn bà Palin là một người hoàn toàn thiếu khả năng, và – vào những tuần chót – dùng những đòn tranh cử mà hầu hết các phương tiện truyền thông đều cho là cực kỳ “dơ bẩn”. Bốn là, khủng hoảng tài chính đột nhiên “trở nặng” vào giữa tháng 9 khiến dân Mỹ lao đao, cực kỳ lo lắng cho tương lai của chính gia đình họ, và (qua ba lần tranh luận trên TV) ai cũng thấy là Obama điềm tĩnh, có “phong thái lãnh đạo”, nắm vững tình hình và có giải pháp cụ thể hơn McCain.

Trong bối cảnh đó, Barack Obama đã đắc cử với hơn 52% số phiếu. Khác với năm 2000 và 2004, lần này cuộc bầu cử diễn ra khá suôn sẻ. Kết quả quá rõ ràng nên đảng Cộng Hòa cũng không thể dèm pha là nó thiếu chính đáng. Tuy nhiên, trái với ấn tượng của nhiều người ngoài nước Mỹ, cuộc bầu cử này không phải là “dễ ăn” cho phe Obama. Ngoài hai bang Ohio và Pennsylvania mà Obama thắng cao hơn dự đoán, ở vài bang quan trọng khác (như Indiana, Virginia, North Carolina) thì McCain dẫn trước vào lúc đầu, mãi về khuya thì Obama mới vượt qua (phần lớn là nhờ phiếu từ các thành phố đông dân và khu vực có đại học). Thật vậy, cho đến 11 giờ đêm ngày thứ ba (giờ miền Đông nước Mỹ) thì những người ủng hộ Obama vẫn còn hồi hộp, nhiều lúc “đứng tim”. Vài kết quả đáng nhớ: chiến thắng của Obama ở bang Indiana là khá ngọt ngào vì từ 1936 đến nay bang này chỉ bỏ cho đảng Dân Chủ một lần vào năm 1964. Virginia và North Carolina cũng làm đảng Dân Chủ rất vui vì hai bang này thường được xem là rất “đỏ”, lại ở miền Nam, đảng Cộng Hòa thường luôn luôn thắng. (Theo lối nói của báo chí Mỹ, các bang “đỏ” là Cộng Hòa, “xanh” là Dân Chủ.)

Ở Thượng viện, đảng Dân chủ, tuy đã là đa số, vẫn hi vọng đạt được 60 trong tổng số 100 ghế của viện này. Đó là con số tối thiểu cần thiết để, nếu cần, chấm dứt bàn cãi ở Thượng viện, tránh trường hợp phe thiểu số làm “kỳ đà cản mũi”, phát biểu bất tận, ngăn cản biểu quyết một đạo luật mà họ biết họ sẽ thua. Đến hôm nay thì đảng Dân Chủ chỉ chắn chắn được 57 ghế. Ba ghế nữa (ở Alaska, Georgia, và Minnesota) thì vẫn chưa ngã ngũ. Ở Hạ viện thì đảng Dân Chủ thêm được 20 ghế, tăng ưu thế đa số của đảng này, nhưng không đến 35-40 như họ đã hi vọng.



Đúng rằng đây là một cuộc bầu cử lịch sử: lần đầu tiên một người da màu được bầu làm tổng thống nước Mỹ. Theo tôi, nó phản ảnh không ít sự thay đổi về dân số của xã hội Mỹ trong khoảng vài chục năm nay (chẳng hạn như dân gốc “thiểu số” ngày càng đông, những người có giáo dục đại học, trẻ, tương đối phóng khoáng, đến sinh sống ở các bang trước đây có truyền thống bảo thủ, v.v). Nhìn từ một góc cạnh nào đó, Barack Obama là tổng thống đầu tiên của nước-Mỹ-thế-kỷ-21. Hai người tiền nhiệm thì, cốt cách Clinton là tiếp tục nước Mỹ của những năm 1960-70 với những xung đột văn hóa và dư âm của chiến tranh Việt Nam, còn Bush thì là cái “đỉnh” của một nước Mỹ vừa kiêu căng (sau khi toàn thắng “chiến tranh lạnh” và chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất) vừa khiếp sợ (sau sự cố 11/9). Cũng nên để ý rằng Obama là tổng thống Mỹ đầu tiên “thực sự” không bị cái “bóng” Việt Nam đè nặng: cả Clinton lẫn Bush đều bị rắc rối, và phần nào mặc cảm, vì đã “tránh né” chiến trận trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. (Clinton thì được hoãn dịch, còn Bush thì chạy chọt xin vào Cảnh Vệ Quốc Gia của bang Texas để khỏi sang Việt Nam.)

Tuy nhiên, Barack Obama không phải là một người da đen hoàn toàn trong truyền thống “da đen Mỹ” (hậu duệ của nô lệ và nắn đúc bởi phong trào tranh đấu dân quyền). Thật vậy, hầu như ông không bao giờ nói đến sự ứng cử của ông như một bước tiến trong hành trình lịch sử của người Mỹ da màu. Thái độ của ông là giải hoà, đoàn kết, không phải đấu tranh, đối đầu. Có lẽ chính vì thế mà ông được nhiều người da trắng ủng hộ (mặc dù, nói chung, đa số dân da trắng bao giờ cũng ủng hộ đảng Cộng Hòa hơn là đảng Dân Chủ).



Có hai vấn đề hiện làm dư luận Mỹ bàn tán: Chính sách của ông Obama sẽ ra sao? Tương lai của đảng Cộng Hòa sẽ như thế nào?

Về mặt đối ngoại, ai cũng biết “dấu ấn” của Obama là việc ông chống chiến tranh Iraq ngay từ đầu, trước cả khi ông được bầu làm thượng nghị sĩ. Chính vì điều này mà ông đã được sự ủng hộ nồng nhiệt của phe tiến bộ Mỹ (và giúp ông thắng bà Clinton trong vòng bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ). Thú vị hơn nữa là Obama đã sống hơn bốn năm ở Indonesia và “hiểu” -- theo nghĩa trải nghiệm trong tiềm thức -- xã hội Đông Nam Á, các nước Á Phi nói chung, một cách mà ít người Mỹ (đừng nói chi đến một nhà lãnh đạo Mỹ) hiểu được. Trong hồi ký của ông, Obama nhắc lại những ngày thơ ấu theo mẹ đi chợ ở Indonesia và cảm thông cái tinh thần “cộng đồng” của xã hội ấy. Cũng nên nhớ là, lúc sinh thời, mẹ ông là một nhà nhân chủng học và có nhiều kinh nghiệm (tốt lẫn xấu) về các hoạt động viện trợ của Mỹ ở Indonesia... Hãy hi vọng rằng chính sách của Obama đối với các nước Á Phi phản ảnh sự “hiểu biết” sâu sắc này. (Chưa gì mà báo chí Trung Đông, Ấn Độ, và Pakistan đã trầm trồ khen ngợi là ông phát âm rất đúng các nhân danh, địa danh của họ, y như người địa phương!)

Vậy thì có thể nghĩ rằng trong những năm tới, khi mà nước Mỹ có thể yếu đi về quân sự lẫn kinh tế thì, ngược lại, “quyền lực mềm” của họ sẽ hồi phục và mạnh thêm. “Quyền lực mềm” này có hai mặt: một mặt là đường lối ngoại giao cụ thể của Mỹ (dùng thuyết phục, đa phương, hơn là quân sự, đơn phương) nhưng mặt khác nó cũng phát xuất từ hình ảnh nước Mỹ -- một hình ảnh tốt đẹp hơn – trong con mắt của thế giới. Đó là hình ảnh nước Mỹ như một ngọn hải đăng của dân chủ, của một nơi mà “cái gì cũng có thể”.



Về đảng Cộng Hòa thì hiện nay họ như rắn không đầu, mệt mỏi, cạn kiệt ý tưởng. Cần nhắc lại: kết quả bầu cử này không chỉ là sự đắc cử của Barack Obama nhưng còn là sự bác bỏ thẳng thừng của dân Mỹ đối với chính sách của Bush. Chắc còn lâu lắm (nếu có khi nào) mới sẽ nghe lại tiếng nói của phe tân bảo thủ Mỹ. Ảnh hưởng của những người đạo giáo bảo thủ (evangelical) cũng yếu đi, ít ra trong khi nước Mỹ phải đối mặt với những khó khăn kinh tế trầm trọng như hiện nay. Trừ một vài nhà báo cực đoan (tụ tập chung quanh tờ Weekly Standard của William Kristol và tờ National Review của Rich Lowry) còn thì đa số trí thức đầu đàn của họ đều bỏ phiếu cho Barack Obama. Và ngay trong hàng ngũ bảo thủ thì ngoại trừ vài người có mộng “buôn vua” (như William Kristol) là còn bám theo Sarah Palin (xúi bà tranh cử năm 2012), còn thì đa số đều xem bà như một ... trò hề lố bịch cần nhanh chóng hạ màn (nhiều người đã chống McCain chính vì, theo họ, sự chọn lựa một người thiếu khả năng và kiến thức như Palin chứng tỏ tính nông nổi – đem cả tương lai nước Mỹ đặt vào canh bạc – và kém sáng suốt của chính McCain). Oái oăm là, sau bầu cử, những người tiết lộ “trình độ học thức” của Palin (dường như bà ta không biết châu Phi là một lục địa!) cũng như sự hoang phí của bà (tiêu hơn 150.000 đô la của đảng Cộng Hòa để mua áo quần cho bà và gia đình -- trong đó có xà lỏn lụa cho chồng!) thì lại chính là những phụ tá của McCain!

Đối với những người theo dõi Mỹ lâu ngày, điều chắc chắn mà chính phủ Obama sẽ đem lại là “bình thường hóa” nước Mỹ, nhất là đem quốc gia này trở lại với “thế giới”, sau cơn “ác mộng” tám năm qua. Barack Obama có làm được gì khác hay không thì tương lai sẽ trả lời. Dù những khó khăn kinh tế có vẻ ngày càng trầm trọng, ít nhất là trong tương lai gần, hầu như mọi người Mỹ đều tự hào hơn về bản chất của xã hội và quốc gia họ, trút bỏ cái u ám nặng nề của tám năm qua.

Hẹn bạn thư sau,

Trần Hữu Dũng
(ký Tiểu Hằng Ngôn)
http://www.viet-studies.info/THDung/THDung_ThuTuMy__Nov08.htm

Dayton
11 tháng 11, 2008

T.B.: Đọc lại thư mới thấy là tôi quên nói về chính sách đối nội của Obama! Nhưng thư đã dài, xin hẹn một dịp khác!

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2008

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: "Nếu viết hãy viết điều mới nhất..."



Nhà văn hoá Hữu Ngọc.

(LĐ) - Đã bước vào tuổi 90, nhà văn hoá Hữu Ngọc vẫn có một hành trình sống như nhiều năm trước. Sáng sớm, ông vẫn đi bộ hơn 10 cây số đến căn phòng nhỏ làm việc của Quỹ văn hoá Thụy Điển nằm tại Nhà xuất bản Thế giới trên phố Trần Hưng Đạo (Hà Nội). Tôi đang tổng kết cuộc đời"- nhà văn hoá Hữu Ngọc mở đầu câu chuyện và nói thêm với tôi: "Nếu viết hãy viết điều mới nhất, thời sự nhất". Ông đưa ra hai cuốn sách dày dặn, sang trọng đều do Nhà xuất bản Thế giới ấn hành. Đó là cuốn "Wandering through Vietnamese Culture (tạm dịch: Lang thang với văn hoá VN) - đã đoạt giải vàng của Hội Xuất bản VN năm ngoái dày 1.100 trang.

Cuốn sách tập hợp những bài báo ông viết cho tờ Vietnam News số chủ nhật suốt 13 năm nay, đã in lần thứ 5, được một số trường Đại Học Mỹ dùng làm tài liệu tham khảo. Cuốn thứ hai tập hợp những bài báo tiếng Pháp "À la découverte de la culture Vietnamienne" đã đăng trên báo Le Courrier dày 1.200 trang.

Cuốn thứ ba sẽ là những bài báo tiếng Việt dày khoảng trên 1.000 trang sẽ ra mắt nay mai.

Hữu Ngọc thích được gọi nhất là nhà xuất nhập khẩu văn hoá, là nhịp cầu văn hoá giữa văn hoá VN với thế giới và ngược lại.

Điều gì mà ông hay phải diễn giải nhất cho người nước ngoài, hay nói cách khác là ông xuất khẩu nhiều nhất những giá trị văn hoá Việt nào?

- Đó là sự khác nhau văn hoá VN và văn hoá Trung Quốc. Tôi đã phải dẫn giải nhiều minh chứng để nói rằng Việt Nam có chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng vẫn mang bản sắc riêng của Việt Nam. Từ lịch sử cái tên Việt Nam là đất nước của người Việt, đến văn hoá sông Hồng biểu trưng là trống đồng Đông Sơn khác với văn hoá Trung Quốc là văn hoá sông Hoàng Hà, biểu trưng là cái vạc đồng. Nghiên cứu văn hoá Việt Nam là nghiên cứu quá trình tiếp biến văn hoá.

Ông nghĩ gì về sự mai một nhiều giá trị thuộc về bản sắc văn hoá Việt và bản thân ông đã làm gì để ngăn chặn quá trình đó?

- Tôi quan niệm bản sắc văn hoá dân tộc là cái động, không phải cái tĩnh. Một nền văn hoá chỉ giữ nguyên những giá trị cũ là nền văn hoá đóng - văn hoá chết. Một cái cây lá cũ rụng đi lá non thay thế cũng như con người luôn thay đổi để thích hợp với tự nhiên. Một thời răng đen và búi tóc là đỉnh cao thẩm mỹ thì sau phải bỏ. Ngay áo dài mà nhiều người coi là giá trị văn hoá dân tộc thì chính xuất phát từ sự bắt chước thời trang Paris (Pháp) khi năm 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương dạy vẽ hình thể về vẻ đẹp cơ thể con người và các bà, các cô đã đổi từ áo tứ thân sang áo dài...

Còn nhập khẩu văn hoá, ông nhập từ đâu và giá trị nào là chủ yếu?

- Nước Pháp không phải là một nước lớn, nhưng văn hoá Pháp rất đẹp. Nước ta không may bị Pháp đô hộ nhiều năm, nhưng vì thế lại có sự tiếp biến văn hoá Pháp - Việt. Đặc điểm văn hoá VN vừa chống, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá các nước để vẫn giữ bản sắc riêng. Chúng ta tiếp thu chữ quốc ngữ để học, rồi truyền bá quốc ngữ để vận động cách mạng. Trước đây văn hoá Khổng học chi phối nước ta, đề cao giá trị nhân văn, nhưng lại coi thường kinh tế. Nhờ sự tiếp biến văn hoá Pháp - Việt mà ta học đầu óc khoa học, suy nghĩ khoa học của phương Tây...

Ông nghĩ những giá trị văn hoá nào hiện đã không còn là "giá trị" trong xã hội thông tin ngày nay?

- Tất cả mọi thứ hãy để phát triển theo chiều hướng tự nhiên. Như nước Nhật họ vẫn giữ kịch Nô nguyên gốc và có làm kịch Nô thử nghiệm. Người thưởng thức sẽ quyết định nên giữ gì, loại bỏ "giá trị" gì.

Là Chủ tịch Quỹ văn hoá Thụy Điển - VN, ông nghĩ quỹ đã hoạt động hiệu quả chưa? Số tiền đầu tư có đến 100% tận tay người cần thiết và nó sử dụng đúng mục đích không?

- Quỹ văn hoá Thụy Điển - VN gần như là quỹ phi chính phủ và đóng góp vào việc hình thành xã hội dân sự ở VN bằng hai cách: Trực tiếp (theo phương hướng đa dạng văn hoá, nhân quyền, sáng tác cá nhân) và gián tiếp (bảo tồn truyền thống để xây dựng hiện đại). Chúng tôi khuyến khích sáng tạo của thanh niên, phụ nữ chú ý vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt là sáng tạo văn hoá mới. Quỹ trực tiếp đến cơ sở và giao tiền tận tay, cử người giám sát nên tiền được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.

15 năm qua, quỹ đã tài trợ cho khoảng 2.000 dự án. Theo ông, những dự án văn hoá nào là hiệu quả nhất?

- Quỹ đã tài trợ cho 10 làng múa rối nước ở Đồng bằng sông Hồng với mức 2.000USD/làng và phải tài trợ đến 3 lần thì mới duy trì được sự tồn tại của nghề múa rối nước ở các làng đó... Hay việc quỹ đã phục hồi cho một đội kèn đồng ở một làng đạo thuộc xã Ninh Hoà ở Ninh Bình; tài trợ cho 60 nhóm thanh niên đờn ca tài tử ở Nam Bộ. Quỹ đã lập 50 thư viện nâng cao dân trí ở các huyện để người dân hiểu biết và làm quen với dân chủ nhiều hơn, với nhiều loại sách quý giới thiệu tinh hoa văn hoá Mỹ, Pháp, VN. Hiện quỹ đang thực hiện dự án bảo tồn sắc phong ở 500 huyện-xã-làng, phát máy ảnh cho người dân chụp lại các sắc phong, đưa về lưu trữ ở kho Hán Nôm Thư viện Quốc gia...

- Xin trân trọng cảm ơn ông.

Việt Văn

Lao Động số 160 Ngày 13/07/2007

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2008

Nguyễn Hiến Lê - hai mươi năm, một trăm cuốn sách



Nguyễn Hiến Lê thời trẻ.

Phan Quang

(Dân trí) - Từ miền Trung đi thẳng vào Sài Gòn, ngay sau khi thành phố vừa giải phóng, một trong những mong ước đầu tiên của tôi là gặp gỡ một số trí thức và văn nghệ sĩ từng nghe tiếng. Hầu hết, những vị tôi muốn gặp đều tiếp người ngoài Bắc vào với thái độ nhiệt tình, ít nhất cũng lịch sự dù không giấu vẻ lạnh lùng. Duy có hai người khước từ: Thượng toạ Thích Trí Quang và học giả Nguyễn Hiến Lê.

"Văn kỳ thanh"

Tôi gặp nhà sư Thích Trí Quang chủ yếu vì tò mò. Còn Nguyễn Hiến Lê là người mình thực lòng hâm mộ. Vì vậy, chờ một thời gian lâu cho tình hình thành phố thật ổn định, tôi lại đến gõ cửa ngôi nhà có gốc hoàng lan ở đường Kỳ Đồng.

Dường như đối với học giả nổi tiếng này, tôi có chút duyên. Tôi nghe tên ông đã lâu, tuy chưa được tiếp cận trọn vẹn một tác phẩm nào. Ở Hà Nội thỉnh thoảng vẫn gặp ông trên tạp chí Bách khoa được tiếng đứng đắn xuất bản tại Sài Gòn. Bài nào ông viết cũng toát lên sự tự tin về kiến giải, lời văn mạch lạc, giản dị và trong sáng lạ thường.

Tại Đà Nẵng, tôi hay la cà các hiệu sách. Một lần, chị hàng sách thấy khách xem nhiều mua ít, nghĩ chắc anh bộ đội không đủ tiền, liền bê một chồng sách từ trên giá xuống, bảo tôi mang theo mà đọc. Tôi chọn lấy hai cuốn, biết mình còn tiếp tục đi xa về hướng Nam, và cũng không muốn lợi dụng lòng tốt của đồng bào. Hai cuốn sách ấy đều của Nguyễn Hiến Lê. Cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ của nhà sử học Mỹ Will Durant do ông dịch, và bộ Sử ký của Tư Mã Thiên ông cùng làm với Giản Chi.

Tờ tạp chí mới duy nhất in trước ngày 30/4 bày bán tại hiệu sách tôi mua được ở Sài Gòn cũng lại là tờ Bách khoa số cuối cùng (426) ra ngày 20/4/1975. Đây gần như là một đặc san mừng cuốn sách thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê, xuất bản khớp với ngày phát hành tạp chí. Cuộc triển lãm toàn bộ tác phẩm của nhà văn nghe nói định làm ở nhà sách Khai Trí đã không diễn ra vì thời cuộc.

Đến khi say sưa tìm hiểu đồng bằng sông Cửu Long, sưu tầm tài liệu về vùng đất ấy, tôi lại gặp Nguyễn Hiến Lê. Cuốn du khảo Bảy ngày ở Đống Tháp Mười phần nào mảnh mai về độ dày mà ngồn ngộn thông tin, chứa đựng nhiều tư liệu vững chãi. Một cuốn biên khảo hấp dẫn gần như tiểu thuyết. Tôi nhiều lần trích dẫn nó trong các bài viết cuối những năm 1970 về đồng bằng Nam Bộ.

Cuộc gặp đầu tiên

Một con người dong dỏng, mái tóc hoa râm, vẻ mặt đăm chiêu, mặc chiếc sơ mi trắng dài tay rộng và chiếc quần Âu cũng rộng thùng thình, hơi khác thường so với thời trang bó sát người thời ấy. Đó là hình ảnh nhà văn Nguyễn Hiến Lê lưu lại trong tôi khi ông thong thả từ gác hai xuống tiếp khách. Trước khi vào phòng, tôi đã dừng lại một phút ở hành lang ngắm cái tủ sách đóng theo lối cổ xếp đầy sách, toàn tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê.

Tôi trao tặng ông cuốn sách mới in, Đất nước một dải tập hợp những bút ký viết dọc theo chiều đất nước, từ khi giải phóng Quảng Trị ngày 19/3/1975, qua Huế, Đà Nẵng, Đèo Cả, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn đến "những cánh đồng thẳng cánh cò bay", do Nhà xuất bản Thanh Niên vừa ấn hành. Ông nói: "In cũng nhanh nhỉ" trong khi những ngón tay tiếp tục lật các trang và đôi mắt lướt qua các bài viết. Đến trang cuối sách, ông ngẩng đầu hơi lộ vẻ ngạc nhiên: "Mười nghìn bản?".

Đặt sách xuống bàn, ông nói tiếp: "Ở trong Nam này, sách in lần đầu, chẳng bao giờ lên tới con số ấy".

Dường như cuốn sách nhỏ giúp đánh tan bầu không khí phần nào lạnh nhạt ban đầu. Thay những lời đối đáp xã giao, ông mặn mà trả lời những câu tôi hỏi. Tôi kể ông nghe chuyện được biếu sách tại Đà Nẵng, và thật thà nhắc lại, ngay sau ngày mới giải phóng tôi có đến thăm ông, tiếc là gặp lúc ông không được khoẻ. Ông nói: "Tôi mắc bệnh đau bao tử từ lâu, thỉnh thoảng nó lại hành cho một trận". Tôi đáp: "Bệnh của người lao động trí óc. Chắc bác biết, tại bác làm việc quá miệt mài, ngồi tại chỗ, ít đi lại...". Ông cười: "Tôi biết tất cả. Biết mà không sao làm khác. Cái nghiệp của mình là đọc và viết mà...".

Tấm gương sáng về tự học

Đời văn của Nguyễn Hiến Lê là một hiện tượng hiếm thấy ở nước ta. Nghiên cứu, biên khảo, cảo luận, tiểu phẩm, dịch thuật, bình chú..., trong khoảng thời gian hai mươi năm (1955 - 1975), cho ra đời một trăm tác phẩm - trong đó nhiều cuốn ba, bốn tập và rất có giá trị.

Giáo sư Đào Duy Anh đánh giá bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê là "tác phẩm trội nhất từ trước tới nay trong loại của nó". Bộ Đại cương Triết học Trung Quốc viết chung với Giản Chi là một tác phẩm đồ sộ (1.700 trang). Ba tập Lịch sử văn minh Ấn Độ, A Rập, Trung Quốc, dịch của Will Durant, có chú giải và bình luận dày hơn hai ngàn trang.

Bảy, tám năm cuối đời (1975-1984), trở về sống tại đồng bằng sông Cửu Long nơi ba mươi năm trước ông giã từ để "lên Sài Gòn sống bằng cây bút", nhà văn còn viết và dịch thêm hơn hai mươi cuốn nữa. Có những cuốn đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, như khảo luận triết học Trung Hoa trước đời Tần. Chỉ tính riêng về số lượng, đã là một kỳ tích.

Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương sáng về tự học. Ra đời làm một kỹ sư công chính, vốn Tây học của ông khá dày dặn. Tuy nhiên, cho dù xuất thân gia đình Nho học, thuở nhỏ có theo đòi đôi ba chữ Hán, và về sau, những kỳ nghỉ hè cũng có về quê học với ông bác, vốn Nho học của ông "trước sau có bốn tháng, mỗi ngày học hai giờ!. Thuộc bốn ngàn từ, quên mất một nửa".

Sau khi đỗ kỹ sư, thời gian chờ việc, ông học chữ Hán. Chiều chiều đến Thư viện Trung ương đường Trường Thi (nay là Thư viện Quốc gia) mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh. Rồi “bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và ngữ nào đoán thường dùng mà chưa biết thì chép lại trong một tập vở, mỗi ngày độ ba, bốn chục từ". Tối hôm đó và sáng hôm sau học thuộc những gì sáng đã ghi chép, chiều lại đến thư viện.

Ông còn mượn cuốn Ngữ pháp tiếng Trung của một tác giả viết bằng tiếng Pháp để học và ghi những điều quan trọng. Với cái vốn ấy, bắt đầu đọc nguyên bản truyện Tàu (Tam quốc chí), lúc đầu chậm sau nhanh, càng quen càng thích...

Đừng cầu danh, danh sẽ tới

Thời học sinh, ông cũng có học tiếng Anh, vừa đủ để vượt qua cửa ải môn ngoại ngữ kỳ thi tú tài. Chính sách của nhà cầm quyền Pháp thời trước, dù không nói ra, không muốn học sinh Việt Nam biết thêm một thứ gì khác ngoài ngôn ngữ và văn chương Pháp. Để có thể làm việc nghiên cứu, biên dịch, trước tác, Nguyễn Hiến Lê tự học thêm Anh ngữ, khá tới mức được một trường tư thục mời dạy Anh văn. Ông quả quyết: "Muốn kiểm soát sự hiểu biết của mình (về ngoại ngữ), muốn hiểu cho rõ thì phải dịch ra tiếng Việt".

Trau dồi ngoại ngữ, ông không coi đó chỉ là phương tiện làm việc mà còn là một cửa ngõ đi tiếp vào biển học không bờ. Cuối đời, sau khi đã tạo lập nên một sự nghiệp đáng nể vì, Nguyễn Hiến Lê khẳng định: "Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ Học và Viết... Chép về đời văn của tôi, phải nhắc trước hết đến việc tự học".

Ông có lời khuyên các bạn trẻ, thoạt nghe như nghịch lý mà rất nghiêm trang: "Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết sách về vấn đề ấy... Viết sách tức là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ mới đọc qua chứ không phải học". Một thái độ như vậy có phần nào chưa thật trang nghiêm đối với công việc trước tác chăng? Dường như thấy trước phản xạ của độc giả, ông trấn an ngay: "Khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải để cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới. Cầu nó, nó sẽ trốn...".



Triển lãm sách của Nguyễn Hiến Lê tại Sài Gòn năm 1959.

Đọc - ghi và viết

Đọc và viết là nếp sống hằng ngày của Nguyễn Hiến Lê. Buổi sáng, sau điểm tâm, công việc mở đầu ngày làm việc là đọc chứ chưa phải viết. Đọc hết nửa buổi, mới ngồi vào bàn. Chiều cũng vậy. Còn cả buổi tối chỉ dành cho sự đọc. Sách nào mua về cũng đọc, dù chán cũng ráng mà đọc, để biết qua nội dung "trừ loại chưởng của Kim Dung".

Những nơi đọc sách luôn để sẵn cây bút chì và cục gôm (tẩy). Đọc thấy chỗ nào đáng chú ý, cần xem lại hoặc ghi chép thì đánh dấu vào trang. Đọc xong chương nào, giở lại xem những đoạn có đánh dấu, ghi ngay những điều cần nhớ hoặc suy nghĩ, bình luận của mình.

Về mặt này, ông có điểm giống văn hào Ernest Hemingway: "Điều lớn lao nhất là sống, là làm công việc của mình - Hemingway nói - là nhìn, học và hiểu. Rồi lúc ấy mới viết, sau khi đã biết được một điều gì đấy, sau chứ không phải trước".

Những người cầm bút đều biết, viết không phải lúc nào cũng là một thú vui. Đối với Nguyễn Hiến Lê, "dù không có hứng cũng đúng giờ ngồi vào bàn viết, viết bừa vài câu, nửa trang, rồi hứng tự nhiên tới". Có thấy cách làm việc của ông, mới hiểu tại sao ông trước tác được nhiều như vậy. Nhà thơ Quách Tấn uyên thâm cổ văn từng ngạc nhiên: Riêng việc Nguyễn Hiến Lê đọc sách cũng đã khó có người bì kịp, chứ đừng nói đọc rồi còn viết.

Một đặc điểm nổi bật trong phương pháp làm việc của Nguyễn Hiến Lê là ghi chép. Ông ghi cẩn thận, không mệt mỏi, thường là tại chỗ qua mỗi chuyến công vụ khi còn làm công chức (mà ông gọi là "đi kinh lý") hoặc những lần chuyển dịch vì việc riêng. Từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã có thiên hướng viết du ký, đi đến đâu ông cũng chịu khó ghi chép cảnh đẹp, tục lạ, cổ tích... Trở về nhà, ghi ngay lại cảm tưởng cả chuyến đi. Văn phong của ông lưu loát.

Hãy đọc lại một đoạn ông viết bảy mươi năm trước về cái ga xép Lăng Cô, nay là điểm du lịch khởi sắc ở miền Trung, nhất là từ khi hoàn thành đường hầm Hải Vân: "... Từ trên cao nhìn xuống, nó y hệt một bức tranh thuỷ mặc của Trung Hoa. Một cù lao nhỏ ở gần bờ, bằng phẳng, trồng toàn dương, có chùa có nhà, có ghe đánh cá và lưới đánh cá phất phơ dưới gió. Một cây cầu dài nối với bờ. Những buổi chiều mây ngũ sắc in trên mặt nước, những chiếc ghe giương buồm ra khơi, hay những đêm trăng sóng bạc nhấp nhô vạch một đường sáng tới một đảo nào ở chân trời mù mịt, ngồi ở góc đường đầu cầu này mà ngắm trời nước...".

Sách đã in ra, ông vẫn kiếm tiếp tài liệu để bổ sung khi tái bản. Như cuốn Đông kinh nghĩa thục (xuất bản lần đầu 1956), lần tái bản bổ sung ba mươi trang (1968), in lần thứ ba thêm hai mươi trang nữa (1974).

Dân Trí điện tử< 2/11/2008 /span>
http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/guyen-Hien-Le-hai-muoi-nam-mot-tram-cuon-sach/2008/11/258080.vip

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

Khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế nước ta


Vũ Khoan

Nhan Dan Online 1.11.2008 - Ngày nay ở khắp nơi, người ta đều bàn luận và hơn thế nữa đều phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu để ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng "hàng thế kỷ mới có một lần" (hình minh họa: Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan trả lời kênh truyền hình CNN lúc 6g35 ngày 20/6/2005, ba năm trước đây về quan hệ thương mại Việt Mỹ. http://www.nhacdinh.com/GL/Kinh-doanh/2005/06/3B9DF5A8/).


Trước hết, là về những nguyên nhân đưa đến tình trạng này và những hệ lụy của nó. Mọi người đều biết nguyên nhân trực tiếp là những sai lầm của hệ thống ngân hàng Mỹ đã cho vay quá dễ dãi, nhất là trong việc cấp tín dụng cho kinh doanh bất động sản. Và trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu có mối quan hệ tín dụng đan xen nhau nhằng nhịt, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất là Mỹ đã nhanh chóng lây lan sang các nước khác như hiệu ứng đô-mi-nô. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng hiện nay ẩn chứa nhiều nguyên nhân sâu xa và sẽ gây ra nhiều tác động rộng lớn hơn nhiều.

Ðó là hậu quả của xu hướng phát triển quá nhanh của hệ thống tài chính - tiền tệ, trong đó tiền tách khỏi hàng, tiền đẻ ra tiền với giá trị lớn hơn giá trị hàng hóa hàng trăm lần; lượng tiền khổng lồ đó lại được chuyển dịch nhanh chóng, chằng chịt tới mức không ai kiểm soát nổi. Có thể nói đó là một nền "kinh tế ảo", "tiền tệ ảo" chưa có tiền lệ.

Thuyết kinh tế thị trường tự do, tôn sùng quá mức tác dụng của thị trường theo hướng "thị trường quyết định tất cả", Nhà nước buông lỏng giám sát, quản lý và không tác động kịp thời, đúng mức, đúng cách đã bộc lộ "gót chân a-sin" của nó. Ngay Tổng thống Pháp N.Xác-cô-di cũng phải thốt lên rằng, coi "thị trường luôn luôn đúng là một ý tưởng điên rồ" và Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ phải thừa nhận rằng "Cuộc khủng hoảng hiện thời sẽ thúc đẩy chúng ta xây dựng lại nền tảng của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta cần tìm ra thế cân bằng giữa Nhà nước và thị trường". Có một hiện tượng lý thú là trong những ngày này, ở Tây Âu người ta tìm đến cuốn "Tư bản luận" của Các Mác từ hơn một trăm năm trước - cuốn sách đã chỉ ra căn bệnh này, thậm chí cả cách chữa trị nó!

Cuộc khủng hoảng lần này còn dóng lên hồi chuông cảnh báo về vị trí lãnh đạo đã bị lung lay của nền tài chính Mỹ trong nền tài chính toàn cầu. Ðồng thời, báo hiệu về một hiện tượng mới: đó là vị trí của các nền kinh tế mới nổi. Bên cạnh đó, vai trò của các thể chế tài chính - tiền tệ toàn cầu như WB, IMF, WTO được sinh ra từ hệ thống Britton Wood tỏ ra khá mờ nhạt.

Với những tác động sâu xa ấy, cuộc khủng hoảng hiện nay đang đặt ra nhu cầu bức bách phải cơ cấu lại nền tài chính - kinh tế thế giới về nhiều mặt, từ lý thuyết đến hệ thống quản lý kinh tế - tài chính ở từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu cũng như vị trí của các nền kinh tế trong thế giới ngày nay. Quá trình cơ cấu lại ấy sẽ diễn biến ra sao và theo hướng nào sẽ không đơn giản và cần có thời gian theo dõi.

Trước mắt, người ta đang buộc phải tung ra mấy nghìn tỷ USD từ dự trữ hoặc từ ngân sách để cứu vãn tình hình, chủ yếu theo 5 hướng: bơm tiền cho các ngân hàng cạn vốn; mua lại các khoản nợ xấu hoặc các giấy tờ có giá trị của ngân hàng; Nhà nước mua cổ phần hay quốc hữu hóa các ngân hàng gặp nạn; nâng mức bảo hiểm tiền gửi và, IMF phải cấp tín dụng cho một số nước không có khả năng cứu vãn các ngân hàng đang có nguy cơ sụp đổ. Những biện pháp trên được tiến hành đi đôi với quyết định hạ lãi suất cơ bản liên tục để kích thích nền kinh tế.

Nhiều người cho rằng, hiện nay thế giới mới phải đối mặt với khủng hoảng tài chính - tiền tệ chứ chưa phải là khủng hoảng kinh tế vì tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm nay vẫn ở mức "dương" (ngày 8-10, IMF dự báo sẽ tăng khoảng 3,39%). Nhưng rõ ràng, sự tăng trưởng ấy đang chậm lại, kinh tế một số nước đã rơi vào suy thoái và nguy cơ suy thoái toàn cầu là hiện thực. Ðiều đó thể hiện ở chỗ, các chỉ số trên thị trường chứng khoán nhiều nước dao động dữ dội, có lúc thuyên giảm hàng chục phần trăm, tiêu dùng thu hẹp đáng kể, giá cả nhiều mặt hàng giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt...

Hiện nay chưa thể dự báo thật chuẩn xác kinh tế thế giới có rơi vào khủng hoảng trầm trọng hay không, nông sâu và dài ngắn ra sao. Nhưng ngay bây giờ, đã có thể khẳng định rằng, không thể chờ đợi một sự phục hồi nhanh chóng, mạnh mẽ được và chắc chắn hệ lụy của nó sẽ lớn hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng năm 1997.

Cuộc khủng hoảng lần này không tha bất cứ ai; mọi nền kinh tế ít nhiều sẽ chịu tác động của nó vì các nền kinh tế đã ngồi chung trên một con thuyền, khi sóng to gió lớn thì không ai có thể tránh được nôn nao. Nền kinh tế nước ta cũng không phải là ngoại lệ. Có ý kiến cho rằng, do chưa hội nhập sâu, ít quan hệ làm ăn với các ngân hàng bị khủng hoảng hoặc phá sản, cho nên kinh tế nước ta chỉ chịu ảnh hưởng gián tiếp và không lớn. Có lẽ những đánh giá như vậy cần được cân nhắc kỹ vì kinh tế nước ta tùy thuộc lớn vào nền kinh tế thế giới: kim ngạch xuất - nhập khẩu ngang với 170-180% giá trị GDP, vốn nước ngoài chiếm tới hơn 30% tổng số vốn của xã hội. Vấn đề là, tác động ấy có độ trễ nhất định và trong hoàn cảnh hiện nay khó tách biệt: thế nào là tác động gián tiếp, thế nào là trực tiếp, một tác động "nhỏ" đối với nước khác có thể sẽ là "lớn" đối với nước ta, nhất là trong lúc chúng ta đang kỳ vọng sớm ra khỏi tình trạng nước kém phát triển và đẩy mạnh CNH, HÐH.

Kinh tế nước ta chịu tác động nhiều hay ít sẽ còn tùy thuộc vào độ sâu và độ dài của cuộc khủng hoảng hiện nay. Tuy nhiên, trước mắt có thể hình dung một số tác động sau:

Xuất khẩu sẽ chịu tác động kép trên cả ba phương diện: đơn đặt hàng sẽ ít đi do bạn hàng giảm nhập khẩu vì những khó khăn về tài chính - kinh tế ở nước họ, nhu cầu của người tiêu dùng giảm; giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta như dầu thô, lúa gạo, cao-su, cà-phê, thủy sản... đều giảm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra.

Về nhập khẩu, một mặt có khả năng giảm bớt nhập siêu do giá cả nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm, nhu cầu trong nước cũng ít đi, từ đó lạm phát sẽ dịu bớt. Nhưng mặt khác, lại nảy sinh khả năng nhập khẩu sẽ gia tăng do giá cả trên thị trường thế giới thuyên giảm, thuế suất hạ thấp theo các cam kết quốc tế và điều này sẽ gây sức ép mạnh lên sản xuất trong nước.

Nguồn vốn có nhân tố nước ngoài cũng có khả năng giảm. Tuy cam kết về FDI cao, nhưng mức độ giải ngân sẽ có vấn đề do các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong huy động vốn và tiêu thụ sản phẩm; cũng vì lý do đó, có thể đầu tư trực tiếp (FII) sẽ giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường chứng khoán nước ta. Nguồn kiều hối từ cả phía cộng đồng người Việt ở nước ngoài lẫn lao động xuất khẩu có thể sẽ không dồi dào. Thu nhập từ dịch vụ, kể cả du lịch, kinh doanh tài chính - tiền tệ, vận tải đều có thể giảm.

Về tài chính tiền tệ, sự giao dịch, vay mượn sẽ không dễ dàng, và ẩn chứa nhiều rủi ro hơn; tỷ giá các đồng tiền, giá vàng sẽ dao động mạnh, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh.

Dưới tác động của những nhân tố trên, mức độ đầu tư, huy động vào ngân sách, tiêu dùng trong nước, cán cân thanh toán, công ăn việc làm... đều có thể bị ảnh hưởng, từ đó tốc độ tăng trưởng cũng sẽ chịu tác động và có thể nảy sinh những vấn đề xã hội mới. Cuộc khủng hoảng giữa những năm 90 thế kỷ trước nổ ra tại các nền kinh tế không lớn, tác động không nhiều như lần này nhưng cũng đã làm cho kinh tế nước ta gặp khó khăn, tốc độ tăng trưởng GDP từ 8,2% năm 1997 xuống còn 5,8% năm 1998 rồi 4,8% năm 1999, chỉ từ năm 2000 mới phục hồi dần, mãi tới năm 2005 mới lấy lại được tốc độ 8,4%.

Trên đây mới phác ra đôi nét về những tác động có thể có, chắc rằng các ngành hữu quan và các doanh nghiệp sẽ đi sâu dự liệu đầy đủ hơn để sớm có biện pháp ứng phó thích hợp.

Nhìn ở tầm vĩ mô, việc hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng lần này có phần khó hơn vì chúng ta phải xử lý tác động kép: vừa phải che chắn những tác động tiêu cực của khủng hoảng về tài chính - tiền tệ và có thể cả về kinh tế toàn cầu, vừa phải tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát trong nước. Khác với những năm 90 của thế kỷ trước, chỉ số tăng giá ở nước ta tương đối thấp, thậm chí có năm như năm 2000 còn âm, ngày nay chúng ta đang phải đối phó với lạm phát hơn 20%. Vì vậy, việc kích cầu trong nước để đỡ cho tác động từ bên ngoài sẽ khó hơn.

Tình hình trên gợi ý một số cách tiếp cận nên được tính đến.

Một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, lại hội nhập sâu với kinh tế thế giới, mà ở đó, ổn định chỉ là trạng thái tương đối, xáo động, bất trắc là thường xuyên, việc nêu ra những chỉ tiêu kế hoạch không nên cột chặt mà chỉ nên coi là định hướng với nhiều phương án khác nhau, được điều chỉnh cơ động, linh hoạt tùy theo diễn biến của tình hình trong nước và trên thế giới.

Hai là, trong khi tìm kiếm thị trường mới ở ngoài nước không đơn giản vì tất cả các nước, dù ít dù nhiều, đều chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, kích cầu trong nước vẫn là một hướng nên được tính đến cho dù nay có khó khăn do lạm phát còn ở mức cao. Theo đó, có lẽ nên sử dụng nguồn vốn còn lại sau khi đã bị cắt giảm để chống lạm phát theo ba hướng: thật tập trung, thật hiệu quả, vừa đáp ứng nhu cầu ngắn hạn là kích cầu trong nước, vừa góp phần giải quyết những vấn đề trung và dài hạn. Lĩnh vực có thể tính đến là hỗ trợ nông nghiệp - nơi tập trung tới hơn 70% dân số; xây dựng và hoàn thiện những công trình hạ tầng ở những nơi ách tắc giao thông để vừa kích cầu về vật liệu xây dựng, duy trì công ăn việc làm, vừa tháo gỡ khó khăn trước mắt và lâu dài đối với các ngành sản xuất - lưu thông.

Ba là, hơn lúc nào hết, tình hình đòi hỏi tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, điều hành linh hoạt chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá để kích thích sản xuất và tiêu dùng trong nước và duy trì sự tăng trưởng về xuất khẩu. Một lĩnh vực cần có sự tháo gỡ khó khăn, kích cầu trong nước là kinh doanh bất động sản đang bị đóng băng. Nhìn ra bên ngoài, ta thấy, Trung Quốc cũng đang làm việc này.

Bốn là, biến thách thức thành cơ hội không chỉ là ý tưởng viển vông mà đã được thể hiện khi nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực cuối thế kỷ trước. Vấn đề là tìm ra và khôn khéo tận dụng những cơ hội ấy. Ðó phải chăng là việc rút ra những bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu để củng cố hệ thống tài chính - tiền tệ của nước ta? Ðó phải chăng là việc chuyển mạnh từ xu hướng phát triển về số lượng sang chất lượng, từ chiều rộng sang chiều sâu, từ tốc độ sang sự bền vững? Ðó phải chăng là những nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế bảo đảm khả năng có thể đứng vững trên đôi chân của mình? Ðó phải chăng là việc đẩy mạnh quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính để vừa thúc đẩy sản xuất trong lúc khó khăn, vừa chuẩn bị điều kiện đón đầu những cơ hội mới khi kinh tế hồi phục? Ðó phải chăng là việc tận dụng lợi thế của nước ta về ổn định chính trị và tốc độ tăng trưởng không đến nỗi nào để giữ chân và thu hút nguồn lực từ bên ngoài? Ðó phải chăng là việc tận dụng giá máy móc, thiết bị trên thị trường thế giới sẽ thuyên giảm để đổi mới công nghệ nước ta?...

Tình hình thật không đơn giản, không thể xem thường, song cũng không nên hoang mang. Vấn đề là, nếu tỉnh táo theo dõi, chủ động phòng ngừa thì chắc rằng nền kinh tế nước ta, một lần nữa, sẽ qua được sóng gió.